Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn tại Hải Phòng

By HOÀI KHÁNH

Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn tại Hải Phòng

altThực hiện chương trình hoạt động văn chương năm 2011 được sự đồng ý của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật thành phố Hải Phòng hôm nay ngày 15-5-2011 tại hội trường tầng 9 tòa nhà Bar Vũ Trụ (22 phố Lí Tự Trọng - Hải Phòng) Chi hội Nhà văn Viêt Nam tại Hải Phòng và Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng phối hợp tổ chức Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn. 

Đến dự có nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Phó giáo sư - tiến sĩ Hồng Vinh - Phó chủ tịch Hội đồng lí luận - phê bình Văn học - Nghệ thuật Việt Nam lãnh đạo Ban Tuyên giáo Thành ủy Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng đại diện các cơ quan chức năng của thành phố Hải Phòng cùng hơn 200 đại biểu là các Ủy viên Ban Chấp hành Chủ tịch các Hội đồng chuyên môn thuộc Hội Nhà văn Việt Nam các nhà thơ nhà văn nhà phê bình văn học là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hội viên Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng và đông đảo nhiều vị học giả khách quý ở Hải Phòng và đến từ thành phố Hà Nội các tỉnh Quảng Ninh Hải Dương Thái Bình Bắc Ninh Phú Thọ Thái Nguyên Thừa Thiên - Huế Lâm Đồng Bà Rịa - Vũng Tàu …đại diện lãnh đạo và phóng viên nhiều cơ quan báo chí phát thanh truyền hình trang thông tin điện tử ở Trung ương và thành phố Hải Phòng.alt

Ban tổ chức Hội thảo cho biết đã thu nhận được 51 tham luận trong đó có cả những tham luận từ nước ngoài gửi về. Sáng hôm qua ngày 14-5-2011 đoàn đại biểu văn nghệ sĩ Hải Phòng đã tới nhà riêng cố nhà thơ Đồng Đức Bốn (ở xã An Hồng huyện An Dương thành phố Hải Phòng) thắp hương tưởng niệm nhà thơ Đồng Đức Bốn và trao cho đại diện gia đình Kỉ niệm chương "Vì sự nghiệp Văn học Ngệ thuật Việt Nam" do Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam truy tặng cho cố nhà thơ Đồng Đức Bốn.

Mở đầu buổi Hội thảo sáng nay nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ - Ủy viên Đoàn chỉ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật thành phố Hải Phòng - phát biểu chào mừng Hội thảo bày tỏ niềm tự hào về Hải Phòng có truyền thống thơ và văn học nói chung thời nào cũng có những tác giả xuất sắc; chẳng những làm sáng đẹp Đất Cảng mà còn đóng góp vào gia tài thi ca của Việt Nam: Thế Lữ Văn Cao Thi Hoàng Thanh Tùng và đến nay là Đồng Đức Bốn Mai Văn Phấn.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Trưởng Ban sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam nhà văn Đình Kính - Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng và nhà thơ Thi Hoàng - Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam - điều hành Hội thảo.

Khai mạc Hội thảo nhà văn Đình Kính nêu vấn đề: "Thơ là gì? Đã có quá nhiều định nghĩa về điều ấy. Có người cho rằng Thơ đó là cách đi tới nơi tận cùng của tâm thức. Thơ là cấu trúc (gestalt) của trí tưởng tượng v.v… Có bao nhiêu nhà thơ người yêu thơ … thì có bấy nhiêu con đường và sự dẫn dụ cảm thụ thi ca. Mỗi nhà thơ nhà phê bình đích thực dường như đều mong muốn vươn tới ý niệm về quan niệm thi ca riêng biệt của mình. Thậm chí mỗi bài thơ mỗi câu thơ là một định nghĩa về nó. Thơ Đồng Đức Bốn là một định nghĩa. Và thơ Mai Văn Phấn lại một định nghĩa khác biệt". Nhà văn Đình Kính cho biết: "Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn là hai tác giả sáng tác theo hai khuynh hướng phong cách khác nhau là hai hiện tượng thơ trên thi đàn trong vài thập niên qua". Sau khi đi sâu phân tích những giá trị văn chương của thơ Đồng Đức Bốn và thơ Mai Văn Phấn nhà văn Đình Kính cho rằng: "Hội thảo hôm nay không hẳn chỉ soi tỏ nhận dạng nhằm ghi nhận sự đóng góp của Mai Văn Phấn trong quá trình cách tân thơ đương đại mà trên cái nền tư duy khách quan  trung thực của hội thảo trên cơ sở học thuật rất cần những nhận định chuẩn xác thậm chí không hài lòng thậm chí bằng lý luận và cảm thụ vô tư rất cần một hình thức tranh biện nhằm góp phần giải mã và tường giải sòng phẳng không chỉ về Mai Văn Phấn  mà  còn một số hiện tượng thơ sau năm 1975 công bằng và minh bạch hơn. Thơ ca viết theo phong cách nào trào lưu nào cấu trúc ra sao thì mục đích cuối cùng cũng vẫn không gì khác hơn là hướng tới  miền cộng sinh của cái đẹp sự tao nhã và đạo làm người. Ấy là giá trị văn hóa giá trị nhân văn của văn học nói chung. Tuy nhiên giá trị mà mỗi người đi tìm cho bản thân mình mới quan trọng. Cộng hưởng những giá trị ấy làm nên tầm vóc văn chương đương đại chúng ta. Thơ Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn là hai dòng thơ hai lối thể hiện hai thi pháp khác nhau nhưng đã đóng góp đáng kể vào thành tựu thơ Việt Nam đương đại. Thành phố Hải Phòng tự hào vì hai nhà thơ đã thành công với hai phong cách khác biệt trên con đường sáng tạo vốn rất cô độc và lặng lẽ của các anh. Tổ chức Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn chúng tôi muốn thêm một lần bằng sự đúc rút của nhiều luận cứ mang tính học thuật khách quan chúng ta cùng trao đổi luận giải thấu đáo không chỉ đánh  giá về hai tác giả thơ tiêu biểu của Hải Phòng mà qua đó mở rộng biên độ nhận thức về sáng tạo nhận thức về sự cần thiết  đổi mới tư duy thẩm mĩ. Đồng thời cũng là dịp qua thơ Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn cùng giải mã mức độ ban đầu nguồn năng lượng tràn đầy cũng như những khoảng cách cần phải vượt qua của thơ đương đại. Hội thảo không phải là ngày hội hoặc tôn vinh hai tác giả theo cảm tính thiếu trách nhiệm. Tôi tin mong muốn ấy của Ban Tổ chức không phải tham vọng quá lớn nhưng rõ ràng không đạt được những mục đích trên khó nói rằng Hội thảo thành công. Hi vọng rằng bằng bề dày học vấn và kinh nghiệm bằng sự công bằng của tri trức và thành tâm các anh các chị sẽ có những đóng góp đáng trân trọng góp phần vào sự thành công hội thảo hôm nay. 

Gần 20 tham luận được trình bày tại Hội thảo. Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh tham luận về Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn - quy chiếu từ một số thống kê về thể tài và hình tượng nghệ thuật. Chị đánh giá cao tài năng nhưng thiếu cái hiện thực đời sống của thơ Đồng Đức Bốn. Tác giả có những phát hiện về ba hình tượng nghệ thuật của Đồng Đức Bốn khá độc đáo: Mưa giông bão và sông. Thi ảnh “bão người” và giông bão nói chung; thi ảnh sông nước như là nơi chốn trở về là đóng góp mới cho thơ của nhà thơ Đồng Đức Bốn. Không biết đó là vô thức hay ý thức không biết có liên quan gì không giữa nhà thơ mệnh hỏa với ẩn dụ nước. Phó giáo sư - tiến sĩ Đào Duy Hiệp tham luận về Mai Văn Phấn – những chặng đường sáng tạo thơ. Nhà thơ Bùi Kim Anh tham luận về Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau. Chị cho rằng: "Tôi thích những câu thơ tình của anh. Nó thô mộc như con người anh. Nó mạnh mẽ và thoáng liều lĩnh thoáng ngang tàng giống anh. Nó được thổ lộ tha thiết mà độc đáo trong cách diễn tả trong cách vận dụng hình ảnh ngôn từ cuộc sống quanh anh. Nó bất ngờ với người đọc. Đừng buông giọt mắt xuống sông/ anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm. Cứ mỗi lần qua sông cứ mỗi khi chia ly lại thấy giọt mắt sao nặng nề xa xót thế lại lẩm nhẩm trong đầu câu thơ của Bốn. Bao nhiêu bạn đọc thích bài thơ Trở về với mẹ ta thôi. Cắt ngang trong mạch tình cảm ấy là những câu thơ về tình mẹ với con về tình con với mẹ là thân phận con người là chiêm nghiệm cuộc đời…Đọc mà buồn mà đau ngậm ngùi. Và rồi một trong những bài thơ cuối của anh để lại cho mẹ cho đời cúi đầu lạy mẹ con đi về trời…Cho đến lúc này đây Đồng Đức Bốn đã đi về trời mà câu thơ vẫn như nghẹn lại". Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn có tham luận Quyền kiến tạo đám mây viết về thơ Mai Văn Phấn. Anh cho rằng: "Nàng Thơ của Mai Văn Phấn không chịu ngồi yên trong tọa độ thi ca mà luôn cưỡi con ngựa liên tưởng bất kham để thực hiện những cuộc phiêu lưu xuyên thế giới làm nên thi pháp lập lờ biến hình ảo thuật của những đám mây. Và hành trình xuyên thế giới của Phấn luôn luôn đi từ đời thực đến giấc mơ từ không gian cận kề đến bầu trời vũ trụ từ đồ vật tầm thường đến những cảnh giới đầy ánh sáng tâm linh". Với tham luận Cách tân như là đẩy thơ vượt qua tai họa nhà thơ Thi Hoàng chia cách đọc làm hai: Đọc lý thuyết và đọc hưởng thụ phải chăng thơ Mai Văn Phấn là thơ cho cách đọc thứ nhất và ngày một xa dần cách đọc thứ hai?". Nhà thơ Nhã Thuyên tham luận Khí quyển thơ - sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ bầu trời và những linh hồn. Từ góc nhìn phê bình sinh thái (Ecocrticism) chị mong tham luận này đóng góp một cách nhận diện khí quyển thơ – sinh thái đặc trưng trong thơ Mai Văn Phấn. Chị nói. “Tôi có cảm giác thơ Mai Văn Phấn xanh sạch và đẹp; nó đóng góp vào hành trình của thế giới con người không chỉ có con người làm gần lại thế giới ấy”. Tham luận Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nói:.  “Đồng Đức Bốn không phải là nhà thơ mang tư tưởng thiền anh chính là một nhà thơ hiện thực mang bi kịch lãng mạn. Vì vậy mà nhiều khi anh ngơ ngác trước những nghịch lý trớ trêu của cuộc đời. Và anh đã làm thơ đặc biệt là thơ lục bát gây được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Có thể nói Đồng Đức Bốn đã “bắc cầu lục bát” để đến với cuộc đời này“..Tham luận của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng mang tựa đề Mai Văn Phấn: từng ngón đêm lóe sáng. Tác giả hiện sống ở Canada gửi tham luận qua e-mail do nhà thơ Trần Vũ Long đọc. Tham luận này có đoạn: "Di động giữa hiện thực và huyền thoại thơ Mai Văn Phấn là bản tụng ca gần với lời cầu nguyện cầu kinh cầu hồn; thơ phủ bóng mờ của âu lo chết chóc nhưng phía sau lấp lóe hi vọng. Trong một thời kỳ biến động hỗn loạn như hiện nay anh không xa lạ gì với bóng tối chiến tranh mất mát nhưng ít khi nói trực tiếp về điều ấy. Tôi cho rằng đó là một chủ định nghệ thuật (…) Và là một cấu trúc của nó: chống lại các quy ước của điều kiện lịch sử có thể đi trước thời gian ngoái nhìn và kể cho chúng ta nghe ký ức về các dự phóng về việc nó đi xuyên qua như thế nào các bức tường của định kiến xã hội. Tương tự một số các nhà thơ biết rằng khi sáng tạo nhạc điệu của bài thơ đi trước ngôn ngữ một khoảng cách vừa đủ để ý nghĩa của ngôn ngữ trở nên mơ hồ. Sự sinh thành của thơ Mai Văn Phấn của những bài hay nhất của anh bắt đầu trong cõi mờ mờ ảo ảo ấy. Ở đó thơ chuyển động nhanh hơn bài thơ". Nhà thơ Vũ Thúy Hồng tham luận về Đồng Đức Bốn: Thơ và đời giữa cõi hư không.  Tham luận về Thơ tuyển Mai Văn Phấn nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: "Chúng ta yêu mến cái đi tìm của Mai Văn Phấn cả cái tìm đã thấy và cả cái chân thực nói rằng tìm chưa thấy của anh. Nhưng khi anh nói thơ ta trì trệ và tụt hậu so với thế giới và khu vực thì hình như không phải và đó là một so sánh khó không dễ như khoa học - kĩ thuật công nghệ. Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn đã nỗ lực đi tìm như thế thơ VN không trì trệ đâu. Hi vọng thơ Mai Văn Phấn từ nay sẽ “thong dong” hơn. Tôi trân trọng Mai Văn Phấn ở chỗ dám băng qua sa mạc để tìm nước nước của bốn phương thế giới nước của ông cha". Nhà thơ Nguyễn Chí Hoan tham luận về Mai Văn Phấn từ thế giới đến thế giới. Anh cho rằng cái đáng quý ở Mai Văn Phấn là phong cách nhất quán từ xưa phát triển ngày càng sâu rộng hơn so với ban đầu. Hành trình thơ của anh như anh vạch lại trong tập tuyển chọn này cho thấy Mai Văn Phấn đã đi từ chỗ biểu hiện cái thế giới truyền thống của thơ ca tiếng Việt đến chỗ biểu đạt cái thế giới bên trong còn ẩn giấu của nó mà anh khám phá và cho đến chặng đường hiện tại đến chỗ dường như đã tìm được một sự cân bằng mới một cách thế hài hoà giữa hai thế giới đó. (…) Tôi tin Mai Văn Phấn không phải là người đầu tiên không phải là nguời cuối cùng và không phải người duy nhất từng trải qua những cuộc gặp gỡ với cái siêu nghiệm; nhưng cho đến nay có thể anh là nhà thơ duy nhất trong thơ ca đương thời đã đưa vào thơ một cách có hệ thống và dày đặc đến thế những liên hệ siêu nghiệm những hình ảnh siêu nghiệm.(…) Mai Văn Phấn cho thấy ở đây cái năng lực rất đặc biệt của anh trong việc mô tả gần như khách quan các cảm giác thực thể của chính bản thân mình mô tả thông qua cái lăng kính của ấn tượng xúc cảm đi liền với suy nghĩ hay chiêm nghiệm mô tả bằng các liên tưởng hầu như luôn luôn tươi mới đa dạng và chân thực mà không hề làm cho những nét biểu hiện ấy bị mờ nhoè chung chung trùng lặp hay sáo mòn bởi các từ ngữ tán thán quen thuộc hay bởi cú pháp thô giản của câu thơ đoạn thơ.

Mở đầu chương trình làm việc chiều nay tại Hội thảo nhà thơ Bằng Việt - Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam - phái biểu::"Tôi đánh giá cao cuộc Hội thảo rất hay rất kịp thời vì khoảng mươi năm trước chúng ta còn phải băn khoăn với việc thơ bị ghẻ lạnh bị trì trệ nhưng hôm nay Hải Phòng đã làm người ta phải nghĩ khác về thơ. Đây đang là bắt đầu sự trở lại và hi vọng đó là sự trở lại huy hoàng của thi ca của thế kỉ này như nó đã từng trong thế kỉ trước. Thơ Mai Văn Phấn hay dùng từ vong thân (thoát ra khỏi mình khỏi các khái niệm cũ) và vượt thoát là dấu hiệu đáng mừng của thế hệ - với tư duy ấy chúng ta có thể mang thơ đi xa là chìa khóa để sáng tạo trong thong dong và nhẹ nhõm sau khi đã vứt bỏ cái gánh nặng của quá khứ. Quan niệm của Mai Văn Phấn mà tôi rất thích đó là hậu hiện đại chỉ là cái sẽ đi qua mà thôi để trở lại với tân cổ điển (nó chỉ là chỗ giải thoát bế tắc. Đồng Đức Bốn lại là một hướng hiện đại khác đưa thơ lục bát đến giá trị mới đến tân cổ điển. Nhưng tôi không tán thành với quan niệm của Mai Văn Phấn cho rằng thơ là bột phát của tự nhiên. Thiên nhiên là quan trọng nhưng con người với xã hội cũng rất quan trọng. Gộp lại hai nhà thơ hội thảo hôm nay vừa có tâm vừa có tài; từ đó thơ thăng hoa. Với Mai Văn Phấn thì tôi hi vọng rằng anh sẽ còn cầm ngọn cờ thơ đi xa. Tham luận về Mai Văn Phấn – người lữ hành qua sa mạc nhà thơ Vân Long nói. "Một nhà thơ dễ bằng lòng với mình sẽ kéo dài giai đoạn thành công trước 1995 có thể Mai Văn Phấn vẫn là một tên tuổi sáng giá. Nhưng Mai Văn Phấn ngược với vẻ ngoài thư sinh anh là người say mê leo núi vượt biển không biết mỏi mục tiêu luôn ở phía chân trời…Xuất phát từ một tầm cao mĩ học những bài thơ trong sáng trước 1995 không ngờ lại là thứ vàng bảo đảm cho thơ anh ở những giai đoạn thể    nghiệm sau khi thơ anh có những tìm tòi khúc mắc khó hiểu. Trường ca Người cùng thời tránh được những nhược điểm miên man và lan man bởi tính biên niên và khái quát một giai đoạn lịch sử dân tộc có những điều trải nghiệm  để có thể gợi cho độc giả cùng suy ngẫm với mình về nỗi đau về điều nhân ái. Viết về người nông dân anh vận dụng ca  dao: “Đời cua cua máy…” đã đành/ Mà đời cáy cũng loanh quanh hết chiều!  Chương Đằm thắm mặt người có những câu thơ thấm đẫm tình cảm vợ chồng cha con vừa khái quát niềm vui thân thương của truyền thống gia đình: Bên nhau bịn rịn trăng cười/ Tóc em xanh mát một thời xa nhau/ Thoáng đâu vại nước hoa cau/ Nơi cha mẹ đã tin nhau một đời… (…) Tiếng em rồi tiếng con cười/ Rộng thêm căn phòng ta ở/ Anh hồi sinh tuổi ngây thơ/ Đùa vui hồn nhiên tở mở./Con đang khai hoa đậu quả/ Ngự trên ngực mẹ ngực cha? /Cây bám vững vào mặt đất/ Rễ sâu cành lá la đà./ Đằm thắm mặt người gần xa/ Cho con hiện thân da thịt/ Ra đi từ muôn năm trước/ Bàn chân mới tới bây giờ. Vậy là ở giai đoạn “thong dong” của người đã thấu hiểu đường đời       này ý muốn của anh khi thực hiện vẫn còn “xôi đỗ” chưa hẳn đã thong dong anh đang tới chứ chưa phải là đã tới . Và đó cũng là cái hay là Mai Văn Phấn đang chuyển động… Trình bày tham luận Không gian và hành trình thơ Mai Văn Phấn Phó giáo sư - tiến sĩ Phạm Quang Trung nói: "Tôi ấn tượng nhất với cách chọn chủ đề của hội thảo nó là song đề của đời sống văn học của chính văn học vì ngay cả Đồng Đức Bốn cũng là người rất nỗ lực đổi mới thơ. Tôi đặc biệt lưu tâm tới tập thứ 5 có ý nghĩa như tấm bản lề của thơ anh mang tựa đề Nghi lễ nhận tên. Dẫu xuất hiện trong cùng một thời gian - vào năm 1999 với trường ca Người cùng thời nhưng tập thơ này mang một phẩm chất khác hẳn cả hồn lẫn xác đánh dấu bước chuyển rõ rệt trong thơ Mai Văn Phấn từ lãnh địa thân thuộc của cái đẹp bước hẳn sang khoảng không diệu vợi của cái cao cả. Cai đẹp dễ tiếp nhận cái cao cả khó hơn đòi hỏi nhiều tri thức ý chí và tài năng; nó cũng khó được bạn đọc tiếp nhận. Có thể thấy trong quá trình đổi thay kéo dài mà quyết liệt ấy cái cũ dần dần biến mất một cách tự nhiên: Con đò cũ không nặng mà vẫn chìm/ Biệt tăm tích bóng người chết yểu/ Đã tắt hẳn ngọn đèn leo lét/ Dường như chẳng còn vương vấn điều gì. Và cái mới bắt đầu hé nở: Tất cả đang dần trở lại/ Nụ hôn nắng mới tiếng gà/ Nước sông sẽ liền mạch/ Khát vọng sẽ liền mạch...Thời vụ mới trong thơ Mai Văn Phấn đã thật sự bắt đầu: Cánh đồng trên đầu vừa mở cho tiếng vọng/ Cởi bỏ những phiền/ Cởi bỏ hoàng hôn. Để từ đó Mạch nước chảy về trong sự hồi sinh trong trẻo: Mỗi giọt đều được lau chùi từ thăm thẳm với hướng vận động khác hẳn: Nhằm nơi ta bay ngược cánh cò cùng lời ca và những âm thanh khác hẳn: Lại vỡ bài ca gieo hạt/ Tiếng trầm hùng qua thanh đới tổ tiên.../ Lời ca chống những cặp môi lên làm ẩm ướt cả không gian. Bạn đọc có cơ sở để hiểu thêm câu kết của bài Thời vụ: Có ai đặt vào tay ta khoảng lặng im vụn rời như nắm thóc. Hiểu để tin hơn vào mùa gặt bội thu sắp tới của thơ anh". Nhà thơ Khánh Phương có tham luận Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn từ hai phương chiều của ”phép lạ” của thi ca. .Chị cho rằng thơ Mai Văn Phấn ngay từ những bài của thời kỳ đầu tiên đã bộc lộ khuynh hướng mộng tưởng và lãng mạn. Cùng với suy tưởng thậm chí còn mở đường cho suy tưởng nghệ thuật mộng tưởng là cốt cách đầu tiên của thi ca để tạo hoá những không gian khác ranh giới khác tồn tại và sự sống khác. Mộng tưởng của Mai Văn Phấn (Mai Văn Phấn) dịu dàng hướng về những gì tinh tuý vốn bị khuất lấp sau cái vẻ ngoài dù bằng an hay bất an hài hoà hay lộn xộn đơn sơ tiểu tiết hay đa tạp… cũng đều do võ đoán của lý trí mà nên: Thôi đừng dỗ cỏ lên trời/ Khi tan mộng mị biết ngồi với ai/ Dấu chân đừng hoá chông gai/ Nép vào bóng xế dũa mài hoàng hôn/ Ta về đổ bóng xuống vườn/ Cho xanh tươi lại từng cơn úa vàng/ Ghé môi vào miệng thời gian/ Cho hơi thở mọc muôn vàn cỏ non…Cái tinh tế hiện ra bằng những tâm trạng chông chênh: Em thở êm như biển lặng tờ/ Hay đâu có bão ở trong mơ/ Tay em anh khẽ nâng trên ngực/ Như kéo con thuyền lên cát khô…/ Thôi em! Đừng vặn! đừng khêu!/ Đáy thu thắp sáng trên nhiều ngọn cây/ Anh vừa đọng xuống thu gầy/ Đã đông thành đá phủ đầy rêu xanh…Mộng tưởng của Mai Văn Phấn có khi chất phác rụt dè: Không gian như phủ Chúa/ Hoa cười vang cung mê…Mai Văn Phấn là nhà thơ không tin tưởng vào lý trí. Ông không tin cái thực tại do ngũ quan và lý trí thông thường tạo nên mà có nhu cầu hồ nghi xao xuyến đảo lộn tất thảy thực tại ấy. Phó giáo sư - tiến sĩ Văn Giá tham luận nhan đề Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người. Theo nhà phê bình Văn Giá thẩm mĩ của Mai Văn Phấn là phồn sinh hóa sinh miên viễn. Hiện ra ba hình tượng: Đất đai Ánh sáng và Em. Cả ba hình ảnh này đều nằm trong sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng.. Xin nói trước về hình ảnh đất đai. Trong thơ Phấn không một hình ảnh nào lại có mặt với một mật độ dầy đặc như hình ảnh đất đai. Vốn trong tâm thức dân gian đất được hình dung như là Mẹ mang tính Mẫu (Cha trời mẹ đất) gắn liền với sự bình yên che chở sinh sôi (khác với nước vừa dung dưỡng vừa hủy diệt). Nhưng trong thi cảm nhà thơ Mai Văn Phấn thì đất lại được ví với người đàn ông nhất thể hóa với người đàn ông: Đất đai- người đàn ông nằm ngủ/( …)Trên ngực còn vương tro than của mùa đốt đồng (Sau mùa gặt); Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/( …)Anh cựa mình nồng nàn tươi xốp (Bài ca buổi sớm). Hẳn phải có lý do gì đó. Tôi cho rằng do tôn thờ tột bậc sự phồn sinh và hóa sinh bất định nên nhà thơ đã nhất thể hóa bản thân và hóa sinh bất định đó. Một khía cạnh nữa về hình ảnh đất: đất luôn luôn trong trạng thái che chở dung dưỡng sinh sôi; và chỉ có như vậy đất mới hiện lên như một biểu hiện thuộc về Cái Đẹp. Tiếp đến là hình ảnh Ánh sáng. Tương tự như đất hình ảnh ánh sáng cũng có mặt tràn lan trong thơ Phấn. Ở nơi nào có ánh sáng ở nơi đó có giã từ bóng tối chết chóc hủy diệt. Và hơn thế nữa nơi nào có ánh sáng nơi đó đồng nghĩa với sự phì nhiêu sinh nở hóa sinh. Thật nhất quán trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn. Đó là những thời khắc tạo sinh lộng lẫy và màu nhiệm của vũ trụ trong hào quang ánh sáng mà chủ yếu là ánh sáng ban mai: Như vừa mở được chiếc hũ nút/ Bóng tối tràn tím rạng đông (Tự thú trước cánh đồng); Lá sen và ngó sen/ Tỉnh dậy trong vòng tay của nước (Sáng mùa hè);  Sông rất sáng/Một ngày dài rất đẹp (Ngày đẹp trời); Có giọt sương đêm qua đang cựa mình thăng hoa dưới ánh mặt trời (Hải Phòng trước năm 2000); Ấy là dấu hiệu tái sinh/ Hay bắt đầu những điều trọng đại/Chưa kịp xúc động/ Mới mơ hồ nhận ra/ Ban mai đã cuốn lấy ta những vòng tã lót (Khúc dạo đầu)… Đó còn là ánh sáng trong những phút giây chan chứa tình yêu tuổi trẻ: Anh bước lên vạt nắng/ Một con thuyền ban mai/ Em bảo hãy chờ để khóa chặt cổng (Vườn em). Bài thơ Dấu vết bình minh “căng mọng” một bầu trời sắc dục ái ân: Da thịt anh rộn ràng mang dấu chân em/ Làm những móng tay trên đất càng vang vọng/ Mỗi đốt xương muốn rời ra ngân lên bộ hơi/ Ngỡ có đôi môi trên đỉnh đầu đang thổi. Mai Văn Phấn cũng là người công khai sử dụng các yếu tố dục tính. Tuy nhiên ở Phấn dục tính hiện lên trong sự hướng đạo của ánh sáng tình yêu và tính thiêng liêng nên về cơ bản là mang tính duy mĩ. Vượt lên nhục cảm để trở thành Cái Đẹp. Cuối pham tham luận là nhà văn Cao Năm với tham luận Nhà thơ Mai Văn Phấn: hiện thân của sự sáng tạo. Sau khi đánh giá cao thơ Mai Văn Phấn giai đoạn đầu nhà văn Cao Năm nói: "Nhưng nếu không có cuộc lột xác đầy chông gai để chui ra khỏi cái vỏ truyền thống vấn điệu giảng giải nói thay bạn đọc thì thi đàn hôm nay liệu có nổi một giọng thơ Mai Văn Phấn riêng biệt và độc đáo như hiện nay?".

Nhìn chung các tham luận đã khẳng định: 2 nhà thơ của Hải Phòng là Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn xuất hiện trong thời kì đổi mới đất nước tuy sáng tác thơ theo hai khuynh hướng và phong cách khác nhau nhưng ít nhiều góp phần vào diện mạo mới của thơ Việt Nam hiện nay. Dù trung thành với thơ truyền thống có những xuất thần trong thể thơ lục bát như Đồng Đức Bốn hay trăn trở đi tìm vẻ đẹp mới trong cách tân thơ như Mai Văn Phấn thì cả 2 nhà thơ này đều được dư luận hoan nghênh và đánh giá cao.

Tại Hội thảo nhà thơ Mai Văn Phấn bày tỏ lời cảm ơn Hội Nhà văn Hải Phòng cảm ơn các nhà phê bình nhà văn đã có tham luận công phu khoa học. Chúng bổ ích gợi cho tôi nhiều cảm xúc và gợi hướng giúp yên tâm đi tiếp trên con đường sáng tạo.

Kết luận Hội thảo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khẳng định đây là hội thảo thành công thật khó nói lời tổng kết vì đời sống văn học là không ngừng tổng kết hôm nay xong mai đã lại nẩy sinh ra vô vàn những vấn đề mới; chúng tôi chỉ có thể nói rằng hội thảo thành công. Trước hết đó là sự lựa chọn khoa học về hai nhà thơ như anh Phạm Quang Trung nói là một song đề tiêu biểu của đời sống văn học không chỉ của Hải Phòng. Sau nữa và đặc biệt quan trọng là các nhà văn nhà nghiên cứu phê bình viết tham luận rất hay rất công phu đầy tri thức và phát hiện nhiều vấn đề học thuật nhiều vẻ đẹp thi ca hết sức khác nhau. Công cuộc tổ chức chu đáo và nhiệt tình nó còn chứng tỏ giá trị thơ ca của hai nhà thơ đã đóng góp rất nhiều cho thanh công. Xin trân trọng cảm ơn tất cả.

Cuối buổi chiều nay nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - phát biểu khẳng định những thành công của Hội thảo này. Nhà thơ Hữu Thỉnh muốn nói với tư cách nhà thơ: "Đây là một tập hợp những trí tuệ nếu không nói là cao nhất của nền văn học. Tôi nhất trí với đánh giá của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều hội thảo thành công chỉ về hai tác giả nhưng nó mở ra hai vấn đề hai chân trời thi ca; nó đã mang chứa những vấn đề của đời sống văn học: nội dung và hình thức truyền thống và cách tân. Hóa ra đi đến tận cùng dân tộc lại gặp thế giới gặp hiện đại. Từ hội thảo mà anh Thiều kết luận (mở) chúng ta liền nghĩ ngay tới biết bao những vấn đề của đời sống văn học. Tôi muốn nhấn mạnh rằng mục đích của mỗi nhà thơ là thơ hay; nhưng thơ hay lại có mục đích là phải phục vụ nhân sinh nhân văn; đó là mục đích của mục đích mục đích kép". Sau khi nhắc lại những kỉ niệm sinh hoạt với Đồng Đức Bốn nhà thơ Hữu Thỉnh nói về không gian thơ của nhà thơ này. Thành thị là xác làng quê là linh hồn của ta của tất cả chúng ta và trở về với linh hồn Bốn đã thành công. Mai Văn Phấn tài hoa sau thành tựu vinh quang đã có Phấn lại bỏ tất để có gan đi tìm những chân trời mới. Phấn đã sốt ruột một cách bình tĩnh. Bởi có sốt ruột một cách bình tĩnh nên đến nay Phấn đã có khá nhiều bài hay trọn vẹn khá nhiều câu thơ hay; đã tạo ra được những vùng tiểu khí hậu trong thơ đó là thế giới của riêng anh. Nhưng hình như anh mới thành công ở tầm chiến thuật chứ nếu là chiến lược thì anh phải tạo ra trường cảm của công chúng; nhiều bài thơ của Phấn dây cháy chậm còn xa ngòi nổ độ khái quát còn ít. Tôi cảm thấy sau thời kỳ chảy xiết thơ Phấn sẽ đến chỗ trong lại. Từ cuộc hội thảo này tôi thấy::Có nhất thiết thơ ta phải trải qua tất cả các khuynh hướng của thế giới không? Thế giới có hai trung tâm: Dĩ Âu và dĩ Á nhưng có những cây nó cứng cổ không chịu nép vào dĩ Âu dĩ Á như châu Mĩ Latin có hiện thực huyền ảo và Nhật Bản có Hai ku. Trường phái không phải là mục đích nó là phương tiện. Hội thảo này đánh dấu mốc phát triển của lý luận phê bình đó cũng là thành công của Hội thảo này".

Công cuộc đổi mới đất nước với một đời sống dân chủ sống động đang mở rộng không gian sáng tạo cho các nhà thơ. Vì một nền thơ Việt Nam dân tộc hiện đại tiên tiến dân chủ nhân văn chúng ta trân trọng mọi tài năng mọi sự tìm tòi và thử nghiệm. Với thơ không ai thay thế ai nhưng rất cần sự nồng ấm tâm huyết và cộng hưởng khát vọng của cả một đội ngũ đông đảo các nhà thơ để phấn đấu cho một nền thơ như thế. Hi vọng từ cuộc Hội thảo này qua những luận giải thấu đáo về thơ của Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn chúng ta có thêm cơ hội mở rộng biên độ nhận thức góp phần mở ra hướng sáng tạo mới cho thơ Việt Nam hôm nay.

HOÀI KHÁNH

LỜI CÁM ƠN CỦA BAN TỔ CHỨC

HỘI THẢO THƠ MAI VĂN PHẤN VÀ ĐỒNG ĐỨC BỐN

Được sự đồng ý của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng ngày 15 tháng 5 năm 2011 tại Hải Phòng Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng và Hội Nhà văn Hải phòng đã tổ chức Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn. Đây là một hoạt động văn chương có ý nghĩa như đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam trong lời phát biểu tổng kêt: Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn đánh dấu mốc phát triển của lý luận phê bình đó là một trong nhiều thành công của Hội thảo này.

Hội thảo thành công trước hết Hội Nhà văn Hải Phòng may mắn có được nhà thơ Mai Văn Phấn và nhà thơ Đồng Đức Bốn và chúng tôi đã chọn đúng đối tượng để hội thảo.

Ban Tổ chức Hội thảo trân trọng cám ơn Hội Nhà văn Việt Nam Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng đã chỉ đạo tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Hội thảo. Trân trọng cám ơn các nhà lý luận phê bình các nhà thơ các nhà văn và các bạn yêu thơ có tên sau đã gửi tham luận tham gia Hội thảo:

1 - Nhà thơ Bùi Kim Anh: Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau.

2 - Nhà văn Cao Năm: Nhà thơ Mai Văn Phấn: hiện thân của sự sáng tạo

3 - Nhà thơ Dương Kiều Minh: Cuộc trở về tâm không trong tập “Bầu trời không mái che” của nhà thơ Mai Văn Phấn.

4 – PGS. TS.  Đào Duy Hiệp: Mai Văn Phấn – những chặng đường sáng tạo thơ…

5 - Nhà thơ Đặng Huy Giang: Sự khởi đầu trong hành trình thơ Mai Văn Phấn

6 - Nhà thơ Đặng Thân: Hành trình cỏ cây xuyên tâm

7 – Nhà văn Đặng Văn Sinh: Mai Văn Phấn tìm về ngọn nguồn thi ca.

8 – Nhà thơ Đinh Quang Tốn: Những bài thơ cuối cùng của Đồng Đức Bốn.

9 – Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Trời đưa anh đến cõi thơ

10 - Nhà thơ Đỗ Minh Tuấn: Quyền kiến tạo đám mây

11 - Nhà thơ Đỗ Quyên (Canada): Thơ Mai Văn Phấn trong dòng thơ cần giải thích giá trị.

12 – PGS. TS.  Hồ Thế Hà: Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn

13 - Nhà thơ Inrasara: Thơ Đồng Đức Bốn & Mai Văn Phấn từ một hướng nhìn động.

14 – Nhà thơ Khánh Phương: Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn từ hai phương chiều của ”phép lạ” của thi ca.

15 – Nhà thơ Kim Chuông: Mai Văn Phấn lấp lánh giữa mông lung vô thức.

16– Nhà thơ Lê Xuân Đố: Thử phác họa chân dung thơ Mai Văn Phấn

17 - Nhà thơ Liêu Thái: Thử tìm lõi trầm trong cây dó thơ Mai Văn Phấn.

18 – Nhà thơ Lý Đợi: Mai Văn Phấn đã thong dong hơn.

19 – Nhà thơ Nguyễn Chí Hoan: Mai Văn Phấn từ thế giới đến thế giới.

20 – Tiến sỹ Nguyễn Đức Hạnh: Cảm hứng chủ đạo và một số mô típ nổi bật trong thơ Đồng Đức Bốn.

21 - Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng (Canada): Mai Văn Phấn: từng ngón đêm lóe sáng.

22 – TS. Nguyễn Hoài Nguyên: Đặc sắc ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn

23 – Nhà thơ Nguyễn Hoàng Đức: Mai Văn Phấn tìm biểu tượng mới cho tình ái.

24 – PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện: Xóa nhòa ranh giới giữa thơ ca và văn xuôi trong thơ văn xuôi của Mai Văn Phấn

25 - Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn: Thơ Đồng Đức Bốn

26 - Nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế: Mai Văn Phấn và 101 câu thơ về cỏ.

27 – Thạc sỹ Nguyễn Thanh Tâm: Lập thể của ký ức và tưởng tượng xuyên qua “Bầu trời không mái che”.

28 – Nhà thơ Nguyễn Thúy Quỳnh: Tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn - quy chiếu từ một số thống kê về thể tài và hình tượng nghệ thuật.

29 – Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Đồng Đức Bốn bắc cầu lục bát.

30 – Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: Mai Văn Phấn trong “vòng xoáy” của thơ hậu-hiện-đại.

31 – Nhà thơ Nhã Thuyên: Khí quyển thơ-sinh thái của Mai Văn Phấn: Thơ bầu trời và những linh hồn.

32 - PGS. TS.  Phạm Quang Trung: Không gian và hành trình thơ Mai Văn Phấn.

33 – Phạm Văn Học (học viên cao học Khoa Ngữ văn ĐH Quy Nhơn): Đồng Đức Bốn: lấy thơ làm cõi đi về bơ vơ.

34 - Nhà thơ Thi Hoàng: Cách tân như là đẩy thơ vượt qua tai họa.

35 – Thạc sỹ Trần Thiện Khanh: Tư duy về thơ: Trường hợp Mai Văn Phấn.

36 –  Nhà văn Văn Chinh: Để đến được với thơ Bốn bất chấp tất cả.

37 –  Nhà văn Văn Chinh: Thơ Mai Văn Phấn – cuống nhau và chùm rễ.

38 –  PGS. TS.  Văn Giá: Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người.

39 –  Nhà thơ Vân Long: Mai Văn Phấn – người lữ hành qua sa mạc.

40 –  Nhà thơ Vũ Quần Phương:  Mấy ý kiến về thơ Mai Văn Phấn

41 - Vũ Thị Thảo (học viên cao học ngành Văn học VN Đại học Đà Nẵng khóa 2010-2012): Những ảnh hưởng khuynh hướng siêu thực trong tập thơ “Hôm sau” của Mai Văn Phấn.

42 - Nhà thơ Vũ Thúy Hồng: Đồng Đức Bốn: Thơ và đời giữa cõi hư không.

Chúng tôi rất lấy làm tiếc và thành thật xin lỗi bởi rất nhiều bài tham luận công phu tính học thuận cao những do thời lượng Hội thảo đã không được trình bày.

Trân trọng cám ơn Nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật thuật Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Hồng Vinh Phó chủ tịch và các anh chị Lãnh đạo Hội đồng Lý luận phê bình nghệ thuật Trung ương; các anh các chị trong BCH Hội Nhà văn Việt Nam chủ tịch các Hội đồng Chuyên môn Hội nhà văn Việt Nam các nhà thơ các nhà lý luận phê bình các nhà văn Hội nhà văn Việt Nam Hội Nhà văn Hà Nội Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế Hội Văn nghệ Phú thọ Hội Văn nghệ Quảng Ninh Hội Văn nghệ Hải Dương Hội Văn nghệ Bắc Ninh và các bạn yêu thơ từ Hà Nội và nhiều địa phương khác đã đến dự Hội thảo.

- Trân trọng cám ơn các vị đại diện ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng Sở Văn Hóa thể thao và du lịch Hải phòng đại diện Văn phòng UBND TP Đại dịên Hội Văn hóa Doanh nhân Hải phòng và các vị khách thuộc các ban nganh thành phố…

Trân trọng cám ơn các anh các chị trong BCH Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng Các nhà văn nhà thơ thuộc Chi Hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng các anh các chị Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng và đông đảo  các vị khách quý và đông đảo bạn đọc yêu thơ.

Trân trọng cám ơn các cơ quan báo chí đại phát thanh đài  truyền hình Trung ương và địa phương .v.v..

Trân trọng cám ơn Công ty TNHH Anh Trang Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sachi; Công ty Xuất nhập khẩu Bách Hợp - Hà Nội Công ty Xử lý rác thải Tân Thuận Phong - Hải Phòng đã nhiệt tình ủng hộ tài trợ cho hoạt động văn chương nhiều ý nghĩa này.

Trong quá trình tổ chức Hội thảo khó tránh khỏi sơ xuất chúng tôi rất mong các bác các anh chị thông cảm và lượng thứ.

Xin trân trọng cám ơn!

TM. BAN TỔ CHỨC

Nhà văn Đình Kính

More...

Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

By HOÀI KHÁNH

Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

altĐột nhiên nhắc đến Đồng Đức Bốn tôi cơ hồ như có một hạt bụi rơi vào mắt mình cái cay xè cũng nhạt nhòa mà cái xót xa cũng nhạt nhòa. Cái dáng khệnh khạng của Đồng Đức Bốn đã bước qua cõi thơ và ngả bóng thật buồn lên ký ức bè bạn. Cái lưng to bè của Đồng Đức Bốn đã khuất dần cõi người và để lại những câu thơ lục bát gập ghềnh nỗi đa đoan.

Tôi kết giao và tri âm với Đồng Đức Bốn từ Chăn trâu đốt lửa của anh. Mỗi lần Bốn lên Hà Nội để gặp gỡ mọi người thường rẽ qua nhà tôi chơi hoặc gọi điện thoại từ đâu đó rủ đi uống café uống bia. Cùng với Bốn còn có anh Xuân Cường là họa sĩ và nhà thơ. Ba anh em chúng tôi gặp nhau khi nhà tôi khi nhà anh Xuân Cường khi hàng quán. Chẳng mấy ai biết đến tình bạn của anh Xuân Cường và tôi với Đồng Đức Bốn. Khi đó Bốn lặng lẽ hơn thơ Bốn chưa được biết đến nhiều lắm. Anh Xuân Cường thường rủ Bốn ăn cơm ở nhà. Tôi đưa cho Bốn chiếc xe đạp mifa của mình để Bốn đi đến các tòa soạn đến với giới văn chương. Khi đó gia đình Bốn gặp nạn. Tôi và anh Xuân Cường và một số bạn bè khác đã bên Bốn chia sẻ và các giúp đỡ những gì có thể. Sau này Bốn viết nhiều lên Bốn nổi tiếng nhiều lên Bốn cũng khá giả lên về kinh tế. Những lần lên Hà Nội của Bốn nhiều lên và cũng đôi lần nhớ đến thì gọi tôi lại một quán nào đó cùng với người nào đó. Bốn đã khác - ồn ào hay văng tục đeo đồng hồ nhẫn vàng to tướng dùng 2 3 điện thoại đắt tiền. Người ta bàn luận quanh những vật ngoài thân ấy. Nhưng tôi đã lùi ra xa hơn. Lùi ra và để đọc thơ Bốn trong tĩnh lặng.

Viết về Đồng Đức Bốn khi anh không còn trên thế gian nữa tôi ngồi đọc rất nhiều bài liên quan đến Đồng Đức Bốn. Những lời khen thơ của anh khá bay bổng. Những lời nhận xét lối sống của anh khá sôi nổi.  Với tôi và cả các con tôi thì vẫn là yêu thích thơ lục bát của Đồng Đức Bốn. Thế thôi.  Nhưng những gì tôi cảm nhận được đọng lại trong tôi. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Có một bài viết của ai đó khi viết về thơ anh có nhắc tới ý này. Thơ lục bát của anh hay nhiều câu hay nên có lẽ chẳng cần tìm câu dễ dãi. Anh nhận mình là kẻ mượn bút của Trời. Có người cho rằng anh kiêu ngạo. Có người nói là trời cho anh những câu thơ hay. Sao Trời lại chọn Đồng Đức Bốn nhỉ?

Tôi yêu thơ lục bát và từ hồi sinh viên đã chọn ca dao làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp Nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Rất hư ảo trong tâm hồn tôi hình ảnh làng quê. Rất thiếu trong lục bát của tôi hương sắc đồng quê. Anh cho tôi hình ảnh

Chăn trâu đốt lửa trên đồng
 Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều
 Mải mê đuổi một con diều
 Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

4 câu thơ là 4 hình ảnh với 4 cách diễn tả khác nhau. Một kể sự việc. Một nhận xét. Một hình ảnh động. Một hình ảnh tĩnh mà có chuyển động. Không có từ tả âm thanh sắc màu nhưng vẫn như có lửa cháy có gió mang mùi rơm rạ mùi khoai nướng có chiều đang dần tàn. Và có một người trong cả 4 câu thơ- người và tâm trạng. Hình ảnh ấy ta thấy bao lần trên cánh đồng mà sao vẫn bâng khuâng. Tôi gặp trong thơ anh những hình ảnh làng quê qua cách diễn tả rất riêng của anh rất bất ngờ với tôi chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng

rồi

câu thơ nấp ở sân đình
 nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau
nhuộm buồn những hạt mưa mau
thành sao nở trắng vườn cau trước nhà

rồi

đất nâu tường đã cũ càng
 tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.

Tiếng kêu mẹ khi đê vỡ trong thơ anh nỗi lo lắng khi đê vỡ trong thơ anh khiến ta nghĩ đến những làng quê ngập trắng trong lũ lụt mới ngày nào

Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong…
Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không.

Tôi thích những câu thơ tình của anh. Nó thô mộc như con người anh. Nó mạnh mẽ  và thoáng liều lĩnh thoáng ngang tàng giống anh. Nó được thổ lộ tha thiết mà độc đáo trong cách diễn tả trong cách vận dụng hình ảnh ngôn từ cuộc sống quanh anh. Nó bất ngờ với người đọc. Hình như tôi chưa yêu như vậy trong thơ hay tôi chưa bao giờ bộc lộ được như vậy trong thơ. Cũng có thể vì tôi là phụ nữ chăng. Sông Thương ngày không em có nhiều câu làm nao nao lòng người con gái. Rồi Đừng buông giọt mắt xuống sông/ anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm. Cứ mỗi lần qua sông cứ mỗi khi chia ly lại thấy giọt mắt sao nặng nề xa xót thế lại lẩm nhẩm trong đầu câu thơ của Bốn. Rồi cái hôm em ở với chồng… cùng với xa một ngày bằng triệu mùa đông/ em bỏ chồng về ở với tôi không lại làm bâng khuâng chạnh lòng bao cảnh tình ngang trái. Bao nhiêu bạn đọc thích bài thơ Trở về với mẹ ta thôi. Cắt ngang trong mạch tình cảm ấy là những câu thơ về tình mẹ với con về tình con với mẹ là thân phận con người là chiêm nghiệm cuộc đời…Đọc mà buồn mà đau ngậm ngùi. Và rồi một trong những bài thơ cuối của anh để lại cho mẹ cho đời cúi đầu lạy mẹ con đi về trời…Cho đến lúc này đây Đồng Đức Bốn đã đi về trời mà câu thơ vẫn như nghẹn lại

Tôi đọc và ngẫm những câu thơ Bốn suy ngẫm về đời về thân phận – đọc trong tâm trạng của người cũng trải qua bao nỗi đời tâm trạng của người làm thơ cũng nặng lòng suy tư. Nào Chín xu đổi lấy một hào để đắng cay thì ngậm xót chua thì cầm. Nào Vào chùa để được một lá bùa  và  ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Nhiều câu thơ khác với những cách diễn tả khác nhưng ý tứ xa xôi mà cũng có liên tưởng gần gũi

Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa có gì

Cầm vàng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng

Sống gần tới phút chia tay
Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không

Chợ buồn Đời tôi Con sáo sang sông Đường đi Em là lục bát của tôi…và trong nhiều bài thơ khác đều chứa những câu đau đáu về phận làm người.

Đấy là một lời an ủi quen dùng và sự thật trong đời

Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo

Đấy là bao nhiêu nỗi đau mà tưởng kêu lên khóc đi thì vợi

Bao nhiêu là giọt mắt rơi
Làm mưa chứ chẳng làm trời nổi giông

Đã đành nói như Bốn Mỗi người có một cõi riêng mà đọc lục bát của anh cứ ngẫm ngợi và day dứt. Lời anh buông ra thơ anh buông ra dù lời yêu hay lời chua xót cũng tự nhiên giống như con người anh nhiều khi tiếp xúc cũng thấy nó tự nhiên như vậy. Anh chẳng làm duyên trong thơ mà lục bát của anh thật có duyên. Tôi học anh cái không cần bằng bằng xuôi xuôi đúng luật trong thơ – cuộc sống cuộc đời có phải lúc nào cũng đúng luật đâu. Tôi học anh cách vận dụng hình ảnh từ ngữ rất thực mà độc đáo bất ngờ. Nhưng làm sao học được cái tự nhiên đôi khi đến thật thà mà câu lục bát của Đồng Đức Bốn lại làm ta ngã lòng đến thế. Bốn nói đến trâu bò thất thuể long đong tả chiều thành tro thương mẹ áo nâu vẫn bạc bên nắng chờ nói tửng từng tưng- sư ra cho một lá bùa rồi đi nói đến tha thiết- thương em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang… nghe tiếng quốc kêu – tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa…nghe tiếng  chuông chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò

Nhiều người làm thơ về Hà Nội. Có nhiều câu thơ hay về Hà Nội. Tôi cũng viết nhiều về Hà Nội nhưng chưa bao giờ nhận thấy hết được lòng mình với Hà Nội. Đồng Đức Bốn chỉ lên Hà Nội chơi lên Hà Nội làm thơ. Anh đi qua ngõ nhỏ Tạm Thương

Có ai yêu giả bao giờ
Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương

Anh đi thuyền trên Hồ Tây

Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm và không thấy chìm khi ngồi trên sóng khi trên đầu có giông. Câu thơ không tả mà cho ta cảnh Hồ Tây chiều giông. Câu thơ cho ta tâm thế của người ngồi trên thuyền. Đồng Đức Bốn viết về Hà Nội yêu Hà Nội theo cách riêng của anh ý tứ và say mê. Không nhiều lắm nhưng ta vẫn gặp ở đâu đó trong thơ anh sự gắn bó với Hà Nội Nhà em ở giữa phường Trung Tự/ Cây tháp nước bồn hoa còn nhớ chỗ ta ngồi

Có người nói Đồng Đức Bốn được những câu thơ Trời cho còn cả bài thì…Thì cứ được những câu Trời cho đi. 600 bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn  cứ từ từ đọc để được những câu lục bát cho mình. Rất có thể thơ anh vang lên trong lòng mỗi người chúng ta khi bất chợt đối diện sự xao xác nhân duyên hoặc khi vô cớ loay hoay sự trắc ẩn ân tình!

Tôi có 3 bài thơ tặng Bốn. Tôi chưa bao giờ đọc và chỉ cho Bốn thấy. In trong các tập dù viết tặng ai tôi cũng không bao giờ đề tặng nên cũng chẳng ai nhận biết. Mấy câu này tôi viết khi bắt đầu đọc thơ Đồng Đức Bốn

đọc câu lục bát của người
tôi đi tìm lại mảnh đời bỏ quên
 
nửa câu thơ để bên thềm
nửa đời yêu để tình duyên nhạt nhèo
 
nỗi nhớ quên chẳng mang theo
niềm vui buồn tự cánh bèo nhẹ trôi
 
bâng khuâng tôi lại tìm tôi
giữa câu lục bát nhịp rơi lỡ làng.

Tôi đến nhà Bốn 3 lần chẳng có lần nào là theo lời mời của Bốn trong dịp vui nào của Bốn. Trách Bốn ư? Chưa bao giờ trách Bốn. Vả lại những gì mà Bốn thích - ồn ào khoa trương – không thuộc tính cách tôi. Tôi là bạn nữ và Bốn cũng thường dành cho tôi sự gặp gỡ ít ỏi yên lặng ấy. Lần 1 ở nhà cũ khi con Bốn hoạn nạn.  Lần 2 khi Bốn ốm. Lần 3 đến viếng Bốn. Có 2 lần đi nhờ xe anh Bằng Việt và cùng với anh Bằng Việt chị Phan Thị Thanh Nhàn.Tôi đến khách sạn Hoa Hồng thăm khi Bốn đang trị bệnh. Lần nào cũng buồn. Buồn không nói được. Buồn về làm thơ viếng bạn. Để lại nhiều ấn tượng nhất trong tôi là lần thứ 2 về thăm Bốn ốm. Đập vào mắt tôi lạnh trong tôi là 2 câu thơ gắn vào đá trước nhà. Đập vào mắt tôi là sự lộn xộn dến bừa bãi của những chai rượu tượng Phật tượng các cô gái khỏa thân là những đồ đẹp mà Bốn mua và được tặng . Sao ông lại để như vậy?  Vì Bốn ốm hay vì nhiều đồ quá mà không kịp sắp xếp không rõ nữa. Bốn cười mà không trả lời. Tôi chỉ tự cảm thấy không an lòng cảm những gì đang đến rất gần cho bạn nên cũng  lại không nói nữa. Bốn vẫn nhớ thăm gia đình tôi nhớ những gì gia đình tôi dành cho Bốn thăm con gái tôi cũng bị bệnh hiểm nghèo như Bốn và trước Bốn. Hai chú cháu mình cùng chiến đấu. Bốn đã động viên cháu và chính mình như vậy. Hai chú cháu đều rất nghị lực. Bốn vẫn làm thơ. Con gái tôi vừa đi làm vừa chữa bệnh. Con gái tôi vẫn chiến đấu còn chú Bốn đã đi về trời

Xin cho tôi được đọc bài thơ viếng Đồng Đức Bốn năm đó để thay cho lời kết

Chuông nào đánh chẳng ngân nga

biết tìm đâu gió đâu mưa
biết tìm đâu cái ngày xưa bây giờ
 
phải là duyên nợ tình thơ
mà câu lục bát thẫn thờ cơn mê
 
mặc người nơi cánh đồng quê
mặc ta ngơ ngẩn chiều tê tái lòng
 
qua cầu lại thương dòng sông
khát con nước chỉ dám trông vào trời
 
vội chi tính bỏ cuộc chơi
để câu lục bát cho người sang trang
 
vội chi lỡ kiếp đa mang
câu thơ dở phố dở làng dở yêu
 
gánh gồng trong cuộc phiêu diêu
quẳng đi lăn lóc mọi điều buồn vui
 
dẫu tha thiết dẫu ngậm ngùi
tử sinh âu cũng mệnh trời số ta
 
chuông nào đánh chẳng ngân nga
phải chuông chùa tiếng mới nhòa khói mây.

BÙI KIM ANH

More...

Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người

By HOÀI KHÁNH

altHOÀI KHÁNH: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa cho ra mắt bạn đọc cuốn Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn. Tập sách giới thiệu 195 bài thơ và 3 trường ca được tuyển chọn từ 9 tập Giọt đắng Gọi xanh Cầu nguyện ban mai Nghi lễ nhân tên  Người cùng thời Vách nước Hôm sau Và đột nhiên gió thổi Bầu trời không mái che và những bài thơ lẻ in trên báo chí mới đây của nhà thơ Mai Văn Phấn đã sáng tác từ những năm trước 1995 đến nay. Ngoài phần thơ cuốn sách còn đăng tải 4 tiểu luận văn chương và 14 bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Mai Văn Phấn. Ngày 15-5-2011 tới đây tại Hải Phòng sẽ diễn ra Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn. Hội thảo này có hơn 30 tham luận của nhiều nhà văn nhà thơ nhà nghiên cứu phê bình văn học trong nước và nước ngoài bàn về thơ Mai Văn Phấn. Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một tham luận trong số đó.

Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người

Tôi muốn nói về thơ Mai Văn Phấn. Có những điều do nói quá nhiều dễ trở nên sáo ngữ. Với Mai Văn Phấn tôi thấy điều mà tôi đang nói: “Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người” bỗng hiện lên thật sống động có hồn vía hình hài rõ rệt. Trong tính toàn thể nhất quán thơ Mai Văn Phấn đã cất lên những niềm hy vọng mãnh liệt và cảm động của con người. Hy vọng làm nên sự sống thăng hoa sự sống. Tắt hy vọng nghĩa là sự sống cũng lụi tàn. Và hy vọng cũng chính là sự sống. Biểu hiện thì đa dạng nhưng đích đến quy chụm. Mai Văn Phấn đã thi triển tư tưởng này một cách nhất quán nồng nhiệt càng về sau càng sáng tỏ.

1. Cái Đẹp là sự sống phồn sinh và hóa sinh bất định

Thế giới thơ Mai Văn Phấn khá bề bộn. Bề bộn về số lượng: 370 bài (Thơ tuyển Mai Văn Phấn NXB HNV 2011). Bề bộn về ý tưởng. Bề bộn về thi ảnh. Bề bộn cả về thể điệu: lục bát đường luật tự do thơ văn xuôi trường ca. Lại đi qua ba quãng tính từ những bài thơ đầu tiên cho đến hôm nay. Thế nên để gọi ra được “khuôn mặt” nhà thơ Mai Văn Phấn với tất cả những nét đặc sắc riêng quả là một thử thách đối với bất cứ ai. Riêng tôi nhiệm vụ của bài viết này sẽ cố gắng đi trả lời mấy câu hỏi: thứ nhất quan niệm thẩm mỹ của Mai Văn Phấn là gì? Thứ hai những hình ảnh nổi bật trong thế giới thơ Mai Văn Phấn thể hiện sắc nét nhất cái quan niệm thẩm mỹ đó? Và cuối cùng những ngón nghề đặc sắc nhất trong cách làm thơ của nhà thơ? Đặt ra những câu hỏi ấy tức là đặt ra một logic về tư duy sáng tạo ở nhà nghệ sĩ mà người làm công việc nghiên cứu phê bình không thể né tránh. Bởi vì mỗi một nghệ sĩ sáng tác phải có được một quan niệm xác định về Cái Đẹp để dựa vào. Nếu không có quan niệm này mọi cái viết của anh sẽ tản mạn phát tán không có khả năng định hình được chăng hay chớ nghĩa là không có tính thống nhất. Tiếp nữa vậy khi đã có được một quan niệm thẩm mỹ rồi thì nó chi phối hệ thống thi tứ thi ảnh của nhà thơ như thế nào anh bén nhạy với những gì lựa chọn những gì để làm nên cái riêng đặc sắc trong sáng tạo của anh. Và cuối cùng tất cả những sáng tạo đó được biểu đạt qua một/hơn một thủ pháp nghệ thuật nào làm chủ đạo? Logic này cho phép chỉ ra được những nét riêng độc đáo trong sáng tạo của mỗi nhà thơ. Cái “khuôn mặt” riêng của nhà nghệ sĩ nhờ vậy sẽ hiện lên một cách độc lập không lẫn. Cũng nhờ vậy đóng góp của mỗi nhà thơ sẽ là và chỉ là những cái riêng độc đáo đó trong/ vào đời sống nghệ thuật chung của dân tộc.

Toàn bộ thơ Mai Văn Phấn đã dựng lên một thế giới phồn sinh hóa sinh bất định.

Biểu hiện đầu tiên của nó là thế giới phồn sinh được tập trung vào hai khía cạnh: phì nhiêu sinh nở.

Trước hết đó là một thế giới phì nhiêu nhiều tầng nhiều cá thể cộng sinh chen chúc đầy hoan lạc tựa như cánh rừng nhiệt đới vậy. Đọc thơ Mai Văn Phấn thấy sự có mặt của rất nhiều không gian. Phấn chơi không gian. Đó là không gian cánh đồng. Không gian phố phường. Không gian dòng sông. Không gian căn phòng. Cụ thể hơn đó là các phối cảnh với cơ man những dòng sông cơn mưa ban mai bóng tối ánh trăng cây cối hoa cỏ đất đai con đường bầu trời đám mây trẻ con người tình… Kể cả những không gian giấc mơ không gian ảo giác đầy mộng mị hư biến kỳ ảo siêu thực với những bóng người bóng ma nội thất đồ vật con vật… nhiều loại. Từ loạt bài thơ đầu tiên Mai Văn Phấn đã có những câu thơ tôn vinh thế giới phì nhiêu này: Ghé môi vào miệng thời gian/ Cho hơi thở mọc vô vàn cỏ non (Tản mạn về cỏ) Chỉ còn ta lại với ta/ Cỏ run đầu ngõ như đà cắn câu (Lơ lửng) Mắt vừa mở với rạng đông/ Chân trời hổn hển phập phồng ngón chân (Kinh cầu ban mai)…Đặc biệt nhà thơ đã dựng lên những không gian thiên nhiên bát ngát nơi đó có đôi người yêu nhau theo cái cách tan biến vào thiên nhiên hòa lẫn với thiên nhiên Yêu nhau/ Là những nghi thức dâng tụng trời đất (…) Đất rùng mình/ Sông chảy/ Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em). Ở nhiều bài thơ Mai Văn Phấn thường rất thích để cho thiên nhiên và con người hòa thấm trong nhau trên tinh thần nhất thể hóa: thiên nhiên và con người là/trong một: Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/ Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt/ Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào/ Anh cựa mình nồng nàn tươi xốp (Bài ca buổi sớm)… Bài thơ Hải Phòng trước năm 2000 cũng vậy một thế giới trẻ trung phồn tạp toàn cảnh khoáng hoạt mà lại cụ thể trong từng nét vẽ rất đỗi thân thương thiên nhiên hiền lành dan díu với đời sống thường nhật của con người. Nhà thơ đã trở về với nguyên lý bản nguyên vũ trụ: Thiên Nhân hợp nhất - trời với người là một. Điều này không chỉ được nhà thơ quán tưởng như một ý niệm triết học mà quan trọng hơn còn được hiện lên như một ứng xử văn hóa. Đây là điều mà con người hiện đại ngày hôm nay để mất một cách nghiêm trọng. Càng gắn bó trân quý thiên nhiên con người càng lành tính càng mẫn cảm trước Cái Đẹp sinh sôi Cái Đẹp.

Không chỉ dừng lại ở trạng thái phì nhiêu của sự sống nhà thơ còn mở vào trạng thái sinh nở của sự sống. Ở Mai Văn Phấn trạng thái sinh nở mang thai thậm chí làm tình là những biểu hiện đẹp đẽ nhất của sự sống nơi trần thế. Bài thơ Tiếng gọi từ cánh đồng nằm trong vệt thơ đầu tay thế mà Mai Văn Phấn đã sớm tìm đến những hình ảnh này: Qua vỏ trấu của mùa gặt trước/ Đã nảy những đọt mầm tia nắng tinh khôi. Từ bấy thơ anh có rất nhiều những hình ảnh sinh sôi của vạn vật và con người. Này đây: Kìa thửa ruộng đang vươn lên che chở những ngôi nhà/Và bóng cây cối hiện thân thành mái tóc/Cơn hạn hán réo sôi trong bàn chân chim chóc/Tia nắng cuối chiều mơ mộng kéo thành tơ (Cấu trúc tạm thời). Đây nữa: dòng sông vừa chảy/vừa sinh nở (Đất mở). Nhiều khi cả thiên nhiên và con người cùng lúc đang cất lên bài ca sinh nở ngàn đời: Lá sen và ngó sen/ Tỉnh dậy trong vòng tay của nước/ Bờ vai em trong mịn nhô lên/ Lại tan theo sóng lăn tăn…(Sáng mùa hè). Bài thơ khiến người đọc liên tưởng đến những bức tranh thiên nhiên của Levitan nơi mà thiên nhiên hiện lên thật yên tĩnh và trong sạch. Khi viết về thiên nhiên Mai Văn Phấn rất hay miêu tả ban mai. Điều này sẽ được trở lại ở phần sau của bài viết. Nhưng người đọc hẳn dễ dàng nhận thấy điều này: ban mai là khởi đầu của một ngày khởi đầu sự sống đánh thức và bừng tỉnh vạn vật và con người được hoàn nguyên trong trạng thái khởi đầu thanh khiết tinh khôi. Quy luật này cũng được xem như là biểu hiện trạng thái sinh sôi của sự sống làm mới làm giầu sự sống. Ở những bài thơ Từ một đường bay Dấu vết bình minh Giọng nói… và nhiều bài khác nhà thơ đã biểu đạt thật tinh tế trạng thái sinh nở hân hoan của vũ trụ. Cũng trong âm hưởng ấy nhà thơ viết về người yêu bằng một câu thơ thật quyến rũ: Nơi mắt em nhìn đang nở ra những chiếc hài/ Cho tuổi thơ chân đất của anh (Gương mặt em). Do tìm thấy cái đẹp trong sự sinh nở nên Mai Văn Phấn đã nhìn thấy khung cảnh người phụ nữ thật lung linh trong dáng điệu mang thai ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa (Tắm đầu năm) hay một vẻ đẹp căng tràn sự sống phì nhiêu rất mực thiêng liêng khi người phụ nữ đang cho con bú: Căn phòng mình chẳng còn những bức tường bao quanh và không gian thành thời gian thánh thiện khi anh mải mê nhìn vầng ngực em dâng đầy như biển cứ thu mình tìm vào miệng con be bé xinh xinh…(Em cho con bú). Quen đấy mà lạ đấy sự sinh nở của cõi sống này đã được nhà thơ tụng ca nồng nhiệt với những vần thơ thật bình dị mà đẹp đẽ.

Sau khi tiếp cận với thế giới phồn sinh nhà thơ tiến thêm một bước nữa nhìn vào cực bên kia của phồn sinh là sự hóa hóa sinh sinh. Ban đầu anh miêu tả một thế giới bị rình rập hủy diệt tàn tạ phân rã: Chim chóc nghe lách cách giữa thân cây tiếng viên đạn lên nòng nấp vào đám mây bị quay vàng trong hoàng hôn chảo lửa/ Con hà sặc khói hun mở miệng luận bàn về sự bất tử của nước và thoáng chốc con thuyền/ Con gấu ôm trọn tổ ong buông mình từ đỉnh cây xuống nơi giăng bẫy…(Mùa hạ rất gần) hoặc: Chưa khiếp sợ bằng ngón tay tỉa sen/ đang teo lại trong áo khăn trong suốt (Sen)…Thỉnh thoảng Mai Văn Phấn nói về cái chết cái chết của thiên nhiên của con người. Có những câu thơ đọc gai người và tê tái buồn: Gió lùa về/làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú/ trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô (Giấc mơ vô tận). Nhưng nếu nói về cái chết chỉ như vậy không thôi có thể ấn tượng đấy cũng sẽ không mấy ý nghĩa. Bởi đã có nhiều thi sĩ cổ kim đông tây nói về cái chết rất ám ảnh. Điều quan trọng là: Mai Văn Phấn xem cái chết như một sự khởi đầu mở ra sự sống mới rồi cứ thế hóa hóa sinh sinh vô cùng vô tận miên viễn. Ý thức hóa sinh này bắt nguồn từ một cảm niệm có ý nghĩa triết học: chết chưa phải đã chấm dứt chết có thể là một sự khởi đầu của một quá trình mới. Điều này bắt gặp tinh thần Phật giáo. Phật học cho rằng cái chết là sự luân hồi(1). Có thể Mai Văn Phấn không suy tư theo hướng Phật giáo. Nhưng với một nhân sinh quan khỏe khoắn cộng với bản tính tự nhiên hồn thơ này luôn hướng về sự sống tái sinh phục sinh hồi sinh sinh lại khai sinh phôi thai - những chữ được nhà thơ sử dụng nhiều lần với tần suất cao. Nhà thơ có những hình ảnh về sự thảm bại của cái chết hoặc về tư thế vươn lên quyết giành giật sự sống làm cuộc tái sinh mầu nhiệm: Chân trời vừa mai táng bóng đêm (Linh hồn đã bay); Con quạ khật khừ xuyên đêm/Thảng thốt kêu/ Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại (Biến tấu con quạ); Trồng khóm hoa nơi gốc cây đã mục/ Hương thơm rình nấp phía chân trời (Ngày đẹp trời)… Và đỉnh cao là vẻ đẹp của bông sen:  Bên nhau lặng im nghe bông sen trắng/đang nhói sáng/vươn trong huệ tưởng (Hình đám cỏ). Thơ Mai Văn Phấn khuyến dụ con người hy vọng vào sự sống bất tử nhờ lẽ hóa sinh mầu nhiệm - một nguyên lý tinh thần nằm ngoài tầm kiểm soát của lý trí/ ý chí con người.

Vào những năm sau này Mai Văn Phấn đẩy ý niệm hóa sinh luân chuyển tiến thêm một bước nữa: ảo giác về sự tồn sinh- lẽ sống chết của kiếp người sự biến hóa của muôn vật. Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ chính là ảo giác về một kiếp người vô định. Không thể tin là ảo giác về nguyên ủy của các con vật sống. Quay theo mái nhà lại là ảo giác về trật tự không gian nội thất. Đúng vậy phải chăng là ảo giác về chính sự hiện hữu của con người… Những bài thơ này đã diễn tả một cách thật tinh tế những ảo giác kỳ lạ đến mức kỳ bí của con người. Trạng thái hóa sinh của hiện tồn được đẩy ở mức tới hạn nằm ngoài trí năng bất khả giải.

Đến đây có thể hình dung được cách nhìn thế giới của nhà thơ Mai Văn Phấn. Một thế giới phồn sinh động cựa và luân chuyển hóa hóa sinh sinh vô hồi vô hạn với tất cả vẻ đẹp bí ẩn và mầu nhiệm nhất đã tràn vào thơ anh thống ngự thơ anh chiếm ngôi trị vì không nhượng bộ. Bằng một cách tự nhiên nhất thơ Phấn đã biểu đạt thế giới này trong trạng thái đó và coi đó là hiện thân của Cái Đẹp.

Quan niệm mỹ học này đã chi phối toàn bộ những tìm kiếm và lựa chọn của nhà thơ để có được một thế giới nghệ thuật riêng không lẫn.

2. Đất đai Ánh sáng và Em

Như trên đã nói quan niệm thẩm mỹ như thế nào sẽ có cách lựa chọn và biểu đạt đối tượng thẩm mỹ tương ứng. Trong rất nhiều thi ảnh bề bộn ở thơ Mai Văn Phấn có ba hình ảnh cô đọng nhất chụm nhất nên trở thành tiêu biểu nhất: Đất đai Ánh sáng Người tình (được gọi là Em). Cả ba hình ảnh này đều nằm trong sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng.

Xin nói trước về hình ảnh đất đai. Trong thơ Phấn không một hình ảnh nào lại có mặt với một mật độ dầy đặc như hình ảnh đất đai. Vốn trong tâm thức dân gian đất được hình dung như là Mẹ mang tính Mẫu (Cha trời mẹ đất) gắn liền với sự bình yên che chở sinh sôi (khác với nước vừa dung dưỡng vừa hủy diệt). Nhưng trong thi cảm nhà thơ Mai Văn Phấn thì đất lại được ví với người đàn ông nhất thể hóa với người đàn ông: Đất đai- người đàn ông nằm ngủ/( …)Trên ngực còn vương tro than của mùa đốt đồng (Sau mùa gặt); Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/( …)Anh cựa mình nồng nàn tươi xốp (Bài ca buổi sớm). Hóa ra nhà thơ đã nuôi nấng trong mình một nỗi khao khát thật lạ: Ta thèm một lần nhân danh đất đai (Khúc phóng túng). Đây là điều thực sự độc đáo ở thơ Phấn. Tôi chưa thấy nhà thơ đàn ông nào lại ví bản thân mình với đất. Hẳn phải có lý do gì đó. Tôi cho rằng do tôn thờ tột bậc sự phồn sinh và hóa sinh bất định nên nhà thơ đã nhất thể hóa bản thân và hóa sinh bất định đó. Một câu thơ thật trìu mến: Đồng đất quê ta hao hao giống những mặt người/Một sớm dậy nhìn ta thân thiết thế…/Đất vạm vỡ dưới bầu trời tươi tốt (Tiếng gọi từ cánh đồng). Đất cũng mang vóc dáng suy tư của phận người: Mẹ ơi mẹ! Giờ con thấy bóng râm từ bùn đất/ Đất ở dưới chân mà cao hơn những suy nghĩ của mình (Nhật ký đô thị hóa). Một khía cạnh nữa về hình ảnh đất: đất luôn luôn trong trạng thái che chở dung dưỡng sinh sôi; và chỉ có như vậy đất mới hiện lên như một biểu hiện thuộc về Cái Đẹp. Hãy dừng lại với những câu thơ này: Kìa thửa ruộng đang vươn lên che chở những ngôi nhà (Cấu trúc tạm thời); Lao vào đất những ngón chân khát nước/ Chiếc lá mới nhô lên đặt lại ca từ (Sáng mùa hè); Trên ngực bùn nâu đã linh thiêng ban lộc/Máu hồi sinh rần rật chạy qua (Hồi sinh).  Với câu thơ Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt/ dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời (Bài hát mùa màng) lại một lần nữa chứng thực một cách chắc nịch tinh thần phồn thực sinh nở như hiện thân của Cái Đẹp trong thơ Mai Văn Phấn.

Tiếp đến là hình ảnh Ánh sáng. Tương tự như đất hình ảnh ánh sáng cũng có mặt tràn lan trong thơ Phấn. Ở nơi nào có ánh sáng ở nơi đó có giã từ bóng tối chết chóc hủy diệt. Và hơn thế nữa nơi nào có ánh sáng nơi đó đồng nghĩa với sự phì nhiêu sinh nở hóa sinh. Thật nhất quán trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn.

Đó là những thời khắc tạo sinh lộng lẫy và màu nhiệm của vũ trụ trong hào quang ánh sáng mà chủ yếu là ánh sáng ban mai: Như vừa mở được chiếc hũ nút/ Bóng tối tràn tím rạng đông (Tự thú trước cánh đồng); Lá sen và ngó sen/ Tỉnh dậy trong vòng tay của nước (Sáng mùa hè);  Sông rất sáng/Một ngày dài rất đẹp (Ngày đẹp trời); Có giọt sương đêm qua đang cựa mình thăng hoa dưới ánh mặt trời (Hải Phòng trước năm 2000); Ấy là dấu hiệu tái sinh/ Hay bắt đầu những điều trọng đại/Chưa kịp xúc động/ Mới mơ hồ nhận ra/ Ban mai đã cuốn lấy ta những vòng tã lót (Khúc dạo đầu)Đó còn là ánh sáng trong những phút giây chan chứa tình yêu tuổi trẻ: Anh bước lên vạt nắng/ Một con thuyền ban mai/ Em bảo hãy chờ để khóa chặt cổng (Vườn em). Bài thơ Dấu vết bình minhcăng mọng” một bầu trời sắc dục ái ân: Da thịt anh rộn ràng mang dấu chân em/ Làm những móng tay trên đất càng vang vọng/ Mỗi đốt xương muốn rời ra ngân lên bộ hơi/ Ngỡ có đôi môi trên đỉnh đầu đang thổi. Mai Văn Phấn cũng là người công khai sử dụng các yếu tố dục tính. Tuy nhiên ở Phấn dục tính hiện lên trong sự hướng đạo của ánh sáng tình yêu và tính thiêng liêng nên về cơ bản là mang tính duy mỹ. Vượt lên nhục cảm để trở thành Cái Đẹp. Ở những bài thơ sau này hoặc gần đây nhất Mai Văn Phấn vẫn không thôi ám ảnh về ánh sáng. Bài Tắm đầu năm lại tìm về ánh sáng của ngọn đèn thứ ánh sáng của không gian gia đình của tâm linh của yêu thương. Bài thơ thật xuất sắc trong một ẩn dụ thân thuộc khơi gợi sâu lắng mang chiều sâu của văn hóa nguồn cội. Trong bài thơ Ở Sokcho cũng vậy một thứ ánh sáng thanh khiết trìu mến thuộc về ban mai: Cửa sổ mặt hồ yên tĩnh/ Giọng nói thân tình bỡ ngỡ ban mai.

Phải công bằng mà nói hình ảnh ánh sáng không có gì xa lạ trong thi ảnh của các nhà thơ. Nhưng đến lượt thi sĩ họ Mai ánh sáng bừng lên đồng nghĩa với sự sống ngời hiện. Có lần nhà thơ ví lòng ống sáo là bóng tối của địa ngục mỗi khi giai điệu cất lên là mỗi lần tìm lối tới thiên đường và với người thổi sáo thì: Mỗi góc tối trong tôi đang ngậm lấy âm thanh như ngậm vào vú mẹ từ miệng mình he hé ánh sáng bồng bế nhau thong thả tràn vào. Đó chính là sự lên tiếng của sự sống phồn sinh và hóa sinh kỳ diệu.

Sẽ là không đầy đủ nếu không nói đến hình ảnh Người tình nhân vật được gọi là Em với nhiều dáng vẻ trong thơ Mai Văn Phấn.

Thứ nhất người tình hiện ra qua khuôn hình của kẻ đang yêu vô cùng tình tứ: Con sâu đo em đu lên người anh/ thì thầm gặm hết những xanh non (Gió thổi). Thứ đến người tình như một thứ quyền năng mầu nhiệm: Em đã nghe/Nên gốc cây vừa mới tưới ngấm nhanh đến thế/ Vòm phượng vĩ đẫm sương sáng nay bốc cháy/ Những quả ngô đồng khô nỏ khua vang (Sáng mùa hè). Và sau nữa là hình ảnh Em trong vẻ đẹp sinh nở hoài thai: Khẽ nhắm mắt khẽ ngậm vào tóc em/ Đang chết đi và đang sinh sản/ Dù có lả đi thành âm u bóng tối/ Lại thấy huy hoàng chạm những môi hôn (Anh đã rơi)Nói về thơ tình Mai Văn Phấn có không ít những bài thơ thật quyến rũ trong vóc dáng thanh tân hiện đại: Sáng mùa hè Gương mặt em Gió thổi Nghe em qua điện thoại Vườn em. Những bóng hình Em trong các bài thơ ưu tú ấy đều mang tư thế của kẻ đem cho che chở dâng hiến tạo dựng giá trị. Nữ tính và mẫu tính hài hòa trong mỗi giai nhân. Nhà thơ trong vai Anh hiện ra như kẻ được ân hưởng được “rửa tội” được “ban phép lành thánh thể” như một tín đồ trong tính thiêng liêng mầu nhiệm của Đạo Yêu.

Tuy nhiên cả ba hình ảnh Đất đai Ánh sáng và Người tình trong nhiều trường hợp cùng hiện lên phối thuộc lẫn nhau hòa quyện trong nhau tương tác và tôn vinh nhau: Yêu nhau. Là những nghi thức dâng tụng trời đất. Bây giờ là mùa xuân. Anh mệnh Kim và em mệnh Hỏa. Từ lửa làm ra Thổ ra Mộc ra Thủy. Đất rùng mình. Sông chảy. Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em…); Hôn em trời đổ mưa/ đất đai hồi sinh tươi tốt/ Hạt giống nẩy mầm rồi bỏ đi xa (Những bông hoa mùa thu)… Đó là những biểu hiện toàn vẹn sung mãn nhất về hiện thân của Cái Đẹp phồn sinh và hóa sinh bất định. Nói theo cách nói của thi pháp học đó chính là thế giới nghệ thuật đặc sắc của thơ Mai Văn Phấn.

3. Mỗi bài thơ là một câu chuyện nhỏ

Nhìn lại các chặng thơ Mai Văn Phấn thấy có sự thay đổi. Từ khởi đầu đến 1995 (chặng 1) là thơ của tự tình. Từ 1995 đến năm 2000 (chặng 2) là thơ của ý tưởng. Và từ 2000 đến nay (chặng 3) thơ tìm về ảo giác.

Ở chặng 1 thơ nghiêng về truyền thống: thể điệu lục bát thơ Đường tự do có khổ có vần diễn tả cảm xúc tâm tình thi tứ thi ảnh đôi chỗ hơi lẫn với người khác chưa có nhiều chất riêng. Chặng thứ 2 là cả một nỗ lực bứt phá: giờ đây không trọng tự tình nữa mà trọng xác lập ý; hình ảnh hóa cảm xúc hóa ý. Ở chặng này cũng đã xuất hiện chất ảo như là sự manh nha để rồi phát huy rõ rệt ở chặng 3. Sang chặng sau cùng này Mai Văn Phấn đã có được một mùa màng nặng hạt. Nhiều bài thơ được coi là đỉnh cao của chính Mai Văn Phấn đồng thời cũng là những thi phẩm sáng giá trong nền thơ ca đương đại: Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ  Nghe em qua điện thoại Tắm đầu năm Gió thổi… Và còn có không ít những bài thơ khá ấn tượng độc đáo: Bưng chậu nước lên cao Cốm hương Vườn em Khuôn mặt tôi ở Ansan… Có người cho rằng thơ ở chặng này của Phấn mang tinh thần thơ siêu thực. Tôi không phải là người súng sính khái niệm lạm dụng khái niệm nhưng quả là tinh thần siêu thực ở Mai Văn Phấn đã có ít nhiều. Đó là những cách biểu đạt có tính vô thức tìm kiếm giấc mơ ảo giác những mê sảng những hình ảnh mang màu sắc huyền bí; hệ thống thi ảnh phi logic đầy những nghịch lý bất ngờ; đặt sáp nhau những hình ảnh vốn rất xa nhau…Tuy nhiên đích đến cuối cùng của mỗi tìm kiếm phải là những bài thơ hay. Nếu quả thực Mai Văn Phấn có ứng dụng siêu thực và không chỉ siêu thực hay việc phối kết giữa siêu thực và khung cảnh thực tại để có được những bài thơ đặc sắc như trên thì đó chính là thành công trong nỗ lực cách tân của nhà thơ. Tôi lại nghĩ thêm: cái mà ta gọi là siêu thực ở thơ Mai Văn Phấn chắc hẳn cũng đã được nhà thơ chiêm nghiệm và phát huy từ truyền thống văn hóa phương Đông đặc biệt ở Việt Nam. Nơi đây có cả một thế giới truyền kỳ hư ảo ma quái trong truyện cổ trong thần tích thần phả trong tín ngưỡng đa thần giáo dân gian… Mai Văn Phấn vẫn có thể đi tiếp con đường kiếm tìm này bởi vì trữ lượng của nó có thể nói là vô tận.

Tôi muốn nói điều này: Những bài thơ thành công nhất của Mai Văn Phấn đều được cấu trúc theo những câu chuyện nhỏ có thể  gọi là những truyện ngắn mini bằng thơ. Đã gọi là truyện ngắn đều phải có tích truyện có nhân vật có chi tiết nghệ thuật độc đáo. Nhìn vào thơ của Phấn thấy có cả ba yếu tố này. Ở chặng đầu chưa rõ. Càng về sau tính truyện càng hiển lộ. Ví dụ 1: Bài thơ Gương mặt em  là câu chuyện về nhỏ về nỗi nhớ của nhân vật anh đang ở xa em- người tình khi nhớ nhung nhân vật có nhu cầu phải nói lên thậm chí hát lên như một đứa trẻ cốt để cho vợi đi nỗi nhớ ai dè nỗi nhớ lại càng cháy bỏng và kết thúc câu chuyện là một chi tiết thật đẹp tài hoa: Nơi mắt em nhìn đang nở ra những chiếc hài/ Cho tuổi thơ chân đất của anh. Ví dụ 2: Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ. Nhân vật xưng “mình” trong câu chuyện này kể về một buổi sáng tiếp một ông khách khi pha xong ấm trà quay ra không nhìn thấy ông khách đâu nữa; thế rồi nhân vật rơi vào tình trạng mất tỉnh táo mất trí nhớ hoang mang về chính bản mình; rồi đột nhiên bước vào một hành vi có tính vô thức: đẩy chén trà về phía ông khách tự nhiên thấy: Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập. Câu chuyện có lớp lang cốt truyện (4 lớp: gặp gỡ- mất trí nhớ- kiểm tra lại trí nhớ của mình- gặp lại hình hài tử khí của vị khách) có tình huống kỳ ảo có tâm lý nhân vật có chi tiết đặc sắc có kết thúc bất ngờ. Nghĩa là bài thơ có đầy đủ tính cách của một truyện ngắn mini mang hình thức thơ. Nói cách khác đó là một kiểu thơ- truyện rất ngắn (không phải truyện ngắn thông thường hoặc truyện dài). Gần đây một số nhà lý luận phê bình đặt ra vấn đề: điểm gặp gỡ giữa thơ và truyện ngắn (2). Tôi cho rằng một số bài thơ thành công nhất của Mai Văn Phấn là những minh chứng nghệ thuật sống động cho sự giao thoa gặp gỡ giữa hai thể loại tưởng như rất xa nhau này.

*

Mai Văn Phấn đã đi qua một chặng đường thơ 20 năm có lẻ.

Với người nghệ sĩ này một xác tín hiện lên thật nhất quán: Còn sự sống là còn phồn sinh và hóa sinh bất định; và còn phồn sinh hóa sinh bất định là còn khiến con người có quyền hy vọng vào những gì đẹp đẽ và nhân bản nhất. Thơ Mai Văn Phấn hát ca niềm hy vọng không bao giờ ngơi nghỉ ở con người.

Ngoài những gì đã thành thơ anh cũng có những điều còn dang dở. Tôi nghĩ rằng anh chưa khẳng định được mình trong thể loại trường ca và thơ văn xuôi. Với trường ca thì đã rõ. Riêng với thơ văn xuôi anh viết khá nhiều. Đây là một thể loại cũng đã có lịch sử khá dài trong thơ Việt Nam hiện đại mà người thành công sớm nhất có lẽ là Hàn Mặc Tử (3). Từ bấy trở đi có không ít nhà thơ thể nghiệm nó. Nhưng phải thành thật với nhau rằng số các thi phẩm thành công là không nhiều. Và các tác giả định vị một các chói sáng ở thể thơ này là vô cùng ít ỏi. Trong số này chưa có tên Mai Văn Phấn. Những bài thơ đỉnh cao của Phấn lại ở những bài thơ tự do như đã nhắc tới trên kia. Mỗi lần đọc thơ văn xuôi của Phấn tôi đều phải tự nhủ cần cố gắng mới đi hết được. Không biết có ai cùng cảm giác giống tôi về thơ văn xuôi của Phấn: bộn và kềnh càng cho dù nếu chịu khó đọc vào cũng vẫn bắt gặp đây đó những câu hay những hình ảnh độc?...

Thế hệ thơ cùng thời với Mai Văn Phấn được gọi là thế hệ hậu chiến trưởng thành sau 1975 dần khẳng định mình từ sau 1986 thực sự định vị vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại/đương đại thế hệ này đã có được vị trí xứng đáng.

Mai Văn Phấn đã khiến người ta buộc phải kể tên mỗi khi nhắc đến thế hệ của mình.

Hà Nội vào hè 2011

VĂN GIÁ

_____________
(1) Khi bàn về nguyên lý tất định và bất định trong Tinh hoa triết học Phật giáo (NXB Phương Đông 2008 bản dịch Tuệ Sỹ) Junjiro Takakusu cho rằng: “Theo đạo Phật tất cả mọi loài chúng sinh đã nhận đời sống hiện tại như là kết quả tự tạo và ngay ở hiện tại chúng cũng đang tự tạo lấy. Nói cách khác mỗi loài là một giai đoạn của dòng biến hành sinh động. Mặc dù đẳng cấp và hình thái của sự sống biến thiên trong mỗi lớp thọ sinh nhưng đừng tưởng có sự phân biệt chặt chẽ của thời gian như quá khứ hay vị lai. Sự thực chỉ có hiện tại là duy nhất. Nghĩa là chúng ta có một diễn trình hiện hữu lâu dài mà sống và chết chỉ là những đợt sóng lên hay chìm xuống trong một đại dương của đời sống. Sống và chết không phải là số phận định trước cho một chúng sinh mà là một “hậu thân của hành động (nghiệp)” như một số người thường gọi. Ai hành động phải nhận lấy hậu quả hoặc sớm hay muộn. Khi cảm nghiệm một hậu quả người ta đang gieo trồng những hạt giống mới như thế tạo ra đợt sóng kế tiếp của đời sống cao hay thấp tùy theo bản chất của các hành động trước kia của mình” (tr.59).
(2) Những điểm gặp gỡ tương đồng giữa thơ và truyện ngắn đó là: tính cô đúc tính gợi tình huống nghệ thuật (tứ) nhân vật tâm trạng coi trọng chi tiết nghệ thuật kết mở. Xem thêm các bài:
-“Truyện cực ngắn” của PGS.TS Đặng Anh Đào Tạp chí Văn học và tuổi trẻ số tháng 2-2005
-“Thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học đương đại
của TS. Lê Dục Tú -http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=58&menu=106
-“Về những tiểu thuyết ngắn” [1/2]-Kristjana Gunnars (Hải Ngọc dịch) -evan.vnexpress.net/News/phe-binh/nghien-cuu/2004/07/3B9AD364
-“Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây” của Văn Giá-evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2004/12/3B9AD44A đăng trong cuốn Đời sống và đời viết (Văn Giá NXB Hội nhà văn- TT Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây 2005).
(3) Xem thi phẩm thơ văn xuôi “Chơi giữa mùa trăng” của Hàn Mặc Tử

More...

Chùm thơ Bùi Thị Thu Hằng

By HOÀI KHÁNH

altHOÀI KHÁNH: Tập thơ Lặng lẽ cánh buồm em (Nhà xuất bản Văn Học -2010) của Bùi Thị Thu Hằng ngay từ khi ra mắt đã được bạn đọc gần xa quan tâm tìm đọc. Tác giả là một người phụ nữ nhỏ nhắn tươi tắn và xinh xắn. Đó là một hội viên trẻ của Hội Nhà văn Hải Phòng. Bùi Thị Thu Hằng chủ yếu sáng tác thơ về đề tài tình yêu và hạnh phúc gia đình. Những bài thơ do chị sáng tác ra công bố trong các kì sinh hoạt CLB thơ ở thành phố rồi được đăng báo Văn Nghệ Trẻ tạp chí Cửa Biển và một vài trang văn học mạng. Cái tên Bùi Thị Thu Hằng dần dần được nhiều người chú ý. Hiện chị ở phường Minh Đức quận Đồ Sơn - Hải Phòng. Những bài thơ lục bát của chịít nhiều tạo cảm gíac thú vị cho bạn yêu thơ. Âu đó cũng là cái cớ để blog Hoài Khánh dành giới thiệu một số bài trong tập thơ đầu tay của chị và mong nhận được sự chia vui và những cảm nhận chân tình của bạn đọc gần xa.

Anh tôi

Vẫn tin có phật bên người
Nghìn tay nghìn mắt thấu đời trắng đen
 
Ưu phiền bao nỗi không tên
Oan khiên như nứơc trắng miền tháng năm

Mong sinh linh ấm chỗ nằm
Anh theo tiếng mõ ru đằm ca dao

Trót tin cả trận mưa rào
Ai hay sấm sét đánh vào cỏ cây

Cha giờ Hạc lội ngàn mây
Anh còn lăn lóc tháng ngày hư không

Lệ giòng quặn thắt nguồn sông
Mẹ hiền vẫn thuở bế bồng yêu tin

Khi buồn rong ruổi cánh chim
Khi đau cũng chỉ biết tìm cao xanh

Giấc mơ mờ nhạt mong manh
Ở hiền mà chẳng gặp lành thế thôi

Cơ giời vận nứơc mấy mươi
Xung quanh bao trận bão người bủa giăng

Mây còn che kín đường trăng
Rào gai cứa vết sâu bằng cơn giông

Thương anh giữa chốn chênh chông
Tay cầm tràng hạt phập phồng niềm xa

Tặng con gái

Không còn khuyết chưa đủ tròn
Con xa giấc mẹ chập chờn sao nguôi

Con vui về phía tiếng cười
Mẹ đong xác chữ mựơn lời đẩu đâu

Giấc mơ cầm đựơc nông sâu
Ai hay tiếng sét ngang đầu cơn giông

Hạt mưa vẫn rối bòng bong
Chảy xuôi như lệ nguồn sông tháng ngày

Người xưa sấp ngửa rãnh cày
Áo manh gìn nếp thẳng ngay giữ tình

Đói nghèo chẳng kể nhục vinh
Nắng mưa kiếp cỏ yên bình hề chi

Điều hay con phải nhớ ghi
Dở thì cũng thấu phòng khi  chính mình.

BÙI THỊ THU HẰNG

More...

Đọc Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng: “Nghiệt chướng” và “nghiệp chướng” trong cách thể hiện của nhà văn

By HOÀI KHÁNH

altHOÀI KHÁNH: Những năm gần đây đội ngũ những người viết văn ở Việt Nam được phát triển mạnh về số lượng. Nhưng trong só đó không có mấy người đang là công nhân trực tiếp đứng máy thực sự bắt tay vào những phần việc lao động cụ thể trong những công trường xưởng thợ nhà máy xí nghiệp. Thật mừng là ở Hải Phòng vẫn có một tác giả viết văn xuôi đang là một công nhân thực thụ trên bến cảng. Đó là Nguyễn Quốc Hùng (ảnh bên) – tác giả từng đoạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam từng có tiểu thuyết đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009) của anh thời gian qua ít nhiều tạo được dư luận tốt trong công chúng bạn đọc. Nhân Ngày quốc tế Lao động 1-5 Blog Hoài Khánh xin giới thiệu bài của Vũ Thúy Hồng bàn về tiểu thuyết này. Bài vừa đăng trên báo Hải Phòng cuối tuần số 16 (bộ mới) phát hành ngày 24-4-2011.

Đọc Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng: “Nghiệt chướng” và “nghiệp chướng” trong cách thể hiện của nhà văn

Nhà văn công nhân Nguyễn Quốc Hùng làm việc tại Cảng Hải Phòng. Với tay nghề lái cần trục chân đế 4/4 được đào tạo bài bản và có thâm niên công tác 25 năm anh hiện là giáo kiêm chức hướng dẫn thực hành về lái đế cho công nhân trẻ mới vào làm việc tại Cảng. Như một định mệnh không thể chối bỏ Nguyễn Quốc Hùng dấn thân vào văn chương và viết khá đều tay. Vốn liếng của anh là 2 tập truyện ngắn và 2 cuốn tiểu thuyết. Dòng sông chở kiếp do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành là cuốn tiểu thuyết thứ hai của anh gây được sự chú ý trong văn đàn cũng như với độc giả. Đặc biệt những vấn đề xoay quanh các nhân vật chính của tiểu thuyết đã được làm “nóng” lên trong cuộc hội thảo về Dòng sông chở kiếp của Hội Nhà văn Hải Phòng. Trong bài viết của mình tôi xin đề cập đến “nghiệt chướng” - tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết thông qua tuyến nhân vật chính của tiểu thuyết.alt

Bối cảnh của Dòng sông chở kiếp là một làng nhỏ vùng đồng bằng Bắc Bộ gắn với con sông Vàng. Mâu thuẫn này sinh truyền đời hàng thế kỷ giữa hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ - một đề tài tương đối phổ biến về nông thôn trong văn học Việt Nam. Mâu thuẫn ấy nảy sinh từ thời Pháp thuộc và vẫn còn tồn tại đâu đó trong  giai đoạn hiện nay. Bỏ qua một số hạn chế về tính xác thực trong các giai đoạn lịch sử hay cách diễn đạt về văn hóa ngôn ngữ còn đôi chỗ không đồng nhất - Dòng sông chở kiếp đưa ra thông điệp về “nghiệt chướng” xuất phát từ “dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi”. Đứa con bất hợp pháp của chị đĩ Nhụ với lý Ngang đã sinh ra oan nghiệt. Thằng Sông là trưởng họ nhà chồng chị lại chính là đứa con của kẻ thù. Người mẹ muốn giữ kiếp làm người trong sạch cho con như liệu nó có sống như nguyện ước của người mẹ?

Tác giả xây dựng hai tuyến nhân vật đối kháng nhau: “Phe” tích cực tiêu biểu là gia đình ông Tổng Cò anh Diệc anh Dự anh Sơn chị Thư  - những con người có ý chí vươn lên học hỏi sẵn sàng đi theo cách mạng làm cách mạng. Tuyến nhân vật phản diện là gia đình Lý Ngang Trương Bân thằng Trường thằng Sông “rau nào sâu ấy”... Những cái chết của các nhân vật chính trong truyện thể hiện quy luật có vay có trả ở đời ác giả ác báo con người công bằng trước cái chết. 

Nguyễn Quốc Hùng thấm thía chân lý Bốn Chân Lý Diệu Kỳ của Đấng giác ngộ Buddha (Đức Phật Thích Ca): Chân lý về nỗi đau khổ chất chứa trong cuộc đời; Chân lý về nguyên nhân của nỗi đau khổ: Khi trong người chất nặng lòng tham và sự thèm muốn người đó chỉ luẩn quẩn với nỗi khổ mà thôi; Chân lý về sự chấm dứt nỗi đau khổ: Khi con người ta diệt trừ được mọi ham muốn và dục vọng thì nỗi khổ đau cũng sẽ chấm dứt; Và cuối cùng là chân lý về con đường sáng: Nếu như ta tránh làm tổn hại đến mọi sinh linh nếu như ta mài sắc trí tuệ và thiếp thu được mọi tri thức ắt sẽ có hạnh phúc trọn vẹn ắt sẽ chấm dứt mọi khổ ải.

Trong bài viết “Bức thông điệp về dục vọng con người” được trao đổi tại hội thảo về Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng cách đây ít lâu nhà văn Vũ Hoàng Lâm có bàn: “... Tác giả còn dùng từ “nghiệt chướng” để nói về thằng Sông. Sách nhà Phật chỉ có từ “nghiệp chướng” - một trong ngũ chướng: “Phiền não chướng nghiệp chướng sinh chướng pháp chướng sở tri chướng”... Ông cho rằng có thể Nguyễn Quốc Hùng dùng nhầm từ “nghiệp chướng” thành “nghiệt chướng” chăng?

Trong sách Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo phần Di Lặc chân kinh giải nghĩa “Nghiệt chướng” như sau: Nghiệt là cái mầm ác tạo nghiệp ác Chướng là trở ngại. Nghiệt chướng là sự ngăn trở do nghiệp ác gây ra. Kiếp trước mình làm nhiều việc gian ác nó sẽ trở thành Nghiệp ác ảnh hưởng lên kiếp sống này làm cho kiếp này phải bị nhiều chướng ngại như: bệnh tật tai ương. Số báo ứng đó hoàn toàn theo đúng luật Nhân Quả.

Về từ “Nghiệp chướng” sách chú giải: “Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Nghiệp được tạo ra bởi các việc làm lành hay dữ trong kiếp trước tuy nó vô hình nhưng nó ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại bằng sự may và sự rủi để làm cho kiếp sống hiện tại được hạnh phúc hay đau khổ. Việc làm lành sẽ tạo nên Nghiệp lành (Thiện nghiệp) cái Nghiệp lành này nó theo ủng hộ mình nâng đỡ mình (mà mình gọi đó là dịp may). Còn việc làm ác sẽ tạo ra Nghiệp ác (Bất thiện nghiệp) cái Nghiệp ác này nó theo báo hại mình (mà mình gọi đó là xui xẻo rủi ro) khiến mình bị hoạn nạn tai ương và phiền não. Vậy Nghiệp chướng là những ngăn trở khó khăn trong kiếp sống hiện tại do Nghiệp ác tạo ra”.

Như vậy có thể thấy Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của nhà Phật coi hai từ “Nghiệt chướng” và “Nghiệp chướng” đồng nghĩa nhưng “nghiệt chướng” hàm ý rõ rệt hơn.

Trong Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng từ “nghiệp chướng” có nghĩa rộng hơn tích cực hơn. Nghiệt chướng và tai ương trong cuộc đời mỗi nhân vật nói riêng và cả xã hội nói chung đều do những dục vọng của con người mà ra. Nghiệt chướng tai ương đời nào cũng có thời nào cũng có. Thằng Sông ra đời không bình thường. Chị đĩ Nhụ biết quan hệ với lý Ngang là không phải biết làm điều sai trái ngay dưới điện thờ thành hoàng là ngang trái sẽ phải tội. Nhưng chị bất lực với chính cuộc đời mình. Bởi ham muốn dục vọng trong con người chị lớn quá không kiềm chế nổi. Nghiệt chướng ra đời từ đó. Chị biết nghiệt chướng mắc oan cho nhà chồng: “Hắn (lý Ngang) tỏ ra tử tế đúng là nghiệt chướng đeo đẳng nhà này (nhà chồng) rồi …. Nhưng đi thế nào đây cho mọi người khỏi nghi ngờ và rồi còn phải đi đâu để thằng nghiệt chướng (thằng Sông) sau này học được làm người tử tế”.

Nghiệt chướng thể hiện trong tham vọng của con người: Lý Ngà cùng quan tri Nghiệp không từ một âm mưu thủ đoạn tàn ác nào để đạt mục đích lấy lòng quan thầy để tiến thân. Lại bàn đến luật Nhân Quả: Lý Ngang chết khổ sở. Lý Ngà ăn phân chó để tỏ lòng trung với quan thầy. Thằng Sông phải bỏ nhà cửa quê hương để trốn nợ. Thời xưa là vậy còn thời nay: Thằng Sông vì muốn làm giầu nhanh nên lừa đảo…

Con sông Vàng như một nhân vật trong tiểu thuyết từng chứng kiến bao biến động trong cái làng quê nhỏ bé và nghèo khó ấy. Và cũng chính con sông ấy phải hứng chịu những tai ương vì lòng ích kỷ của con người. Để hóa giải “nghiệt chướng” ông cụ Cờ - bố ông Tổng Cò phải đánh đổi tính mạng để giữ nguyên dòng sông Vàng để dân hai làng cùng hóa giải thù hận sống hòa bình với nhau. Nhưng từ một dòng sông nó đã biến thành hai con mương bởi người đời sau vẫn đang tâm xẻ đôi dòng nước: “Thì bên Thuận Thanh họ đòi chia. Sông của họ thì họ dùng sông làng mình thì làng mình dùng. Mất khối công đắp bờ”.

Liệu những kẻ bị gọi là nghiệt chướng của xã hội có cải biến được. Thật khó! Thằng Sông được giáo dục bởi những con người có tấm lòng vị tha như bà Nhụ trong một gia đình nhân ái nhưng bản tính của nó vẫn không thay đổi. Cái kết của Dòng sông chở kiếp vẫn mở ra những mâu thuẫn mới mâu thuẫn điển hình và phổ biến của xã hội thời kinh tế thị trường: “Nghiệt chướng” vẫn tồn tại là do “dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi”.

 Tháng 4-2011

VŨ THÚY HỒNG

More...

Tâm sự về vợ

By HOÀI KHÁNH

Tâm sự về vợ

Hai người bạn tâm sự với nhau. Một người than vãn:
- Buồn quá cậu à. Vợ tớ cứ nhắc tới mấy tay chồng cũ của cô ấy.
- Thế là còn may đấy ông ơi! Mụ vợ tôi còn tệ hơn kia. Cô ta luôn mồm nói tới mấy gã chồng sắp tới.

Người đầu tiên 

Sau buổi lễ cha đạo hỏi một đám đông các con chiên đàn ông của mình: 
- Ai trong số cac con không hài lòng với vợ của mình hãy đứng dậy? 
Mọi người nhất tề đứng dậy chỉ vòn một người vẫn ngồi yên tại chỗ. Cha đạo lại gần anh ta thân mật nói: 
- Chúa dạy mọi người hãy thương yêu và hài lòng với vợ chồng mình. Con thật đáng khen. Tiếc là trên đời người như con còn hiếm lắm thậm chí con là người đầu tiên mà ta gặp... 
- Thưa cha - Người kia đáp - Con không dám nhận lời khen của cha đâu ạ. Số là con bị vợ đánh què nên không đứng dậy được ạ! 

Vợ ghen

Một chàng vớ phải cô vợ có tính ghen. Nghe tin bạn có bí quyết "triệt ghen" anh ta liền tìm đến học hỏi. Thế nhưng cô vợ thậm chí còn đòi li dị nên anh ta lại tìm đến người bạn thắc mắc:
- Thế mày có giả vờ nói mê như tao bảo không?
- Có tao nói y nguyên.
- Mày thử nhắc lại xem nào?
- Liên ơi... Anh... chỉ... yêu... mình... em… thôi...
- Trời ạ Liên là vợ tao thế mày không thay bằng tên của vợ mày à?

HÀNH KHOÁI sưu tầm

More...

Sinh nhật Hoài Khánh – 49 đang qua…

By HOÀI KHÁNH

Sinh nhật Hoài Khánh – 49 đang qua…

altHôm nay thứ bảy ngày 23-4-2011 tôi sang tuổi 49. Cái thuở tôi chớm biết đến mùi đàn bà chẳng rõ vợ tôi đi xem bói ở đâu được ông thầy bói phán rằng "anh nhà sang tuổi 47 là khá lắm". Chẳng biết có "khá" thực sự không mà đã 2 năm nay sáng ngày 23 tháng 4 nào cũng vậy trong cái ví lép kẹp của tôi chỉ còn vỏn vẹn mấy trăm nghìn đồng không đủ chi cho một bữa nhậu để mời bạn bè. Buồn quá! Năm nay là năm hạn 49 tuổi tôi càng buồn hơn…

Khi tôi 17 tuổi cũng vào ngày này đang học lớp 10 cuối cấp 3 phổ thông (nay là lớp 12) lần đầu tiên tôi tổ chức sinh nhật bằng số tiền nhuận bút 6 đồng do được đăng bài thơ đầu tiên.dịp Trung thu năm trước. Nhà tôi nghèo. Việc tổ chức sinh nhật là chuyện lạ. Nhưng vì biết tôi bang giao rộng chơi nhiều đứa bạn đều chăm ngoan học giỏi ở các trường khác trong thành phố nên gia đình không ngăn cản. Lễ sinh nhật diễn ra từ 7 giờ tối. Tiệc không có bánh ga-tô không thắp nến nhưng cũng có nhiều bánh kẹo Hải Hà loại ngon hạt bí hạt dưa và cả thuốc lá Sông Cầu nữa. Dưới ánh đèn điện vàng hoe gần hai chục đứa bạn nam có nữ có kéo nhau đến vui mừng lễ sinh nhật của tôi. Chúng ôm đàn ghi-ta gảy phưng phưng và gõ phập phùng cùng nhau nghêu ngao hát những ca khúc không đầu không cuối. Tôi vác ra cuốn sổ lưu bút tự tay tôi đóng lấy bằng 3 thếp giấy có bìa cứng hẳn hoi. Tôi bóc tờ lịch blog treo tường ngày 23-4-1980 dán vào giữa trang giấy của cuốn sổ lưu bút đó mời các bạn dự lễ sinh nhật kí tên xung quanh. Những chữ kí nghệch ngoạc ken chật trang giấy. Rồi hết năm đó mỗi đứa một phương trời có đứa còn thi thoảng gặp lại có đứa gần như mất liên lạc có đứa bị nghiện ngập ma túy mà đầu năm nay tôi mới biết tin chàng đã về nơi âm thế mấy năm qua rồi. Ôi những đứa bạn học trò thuở ấy bây giờ ở đâu?

Mẹ tôi bảo tôi sinh ra vào buổi sáng tại Khoa Sản - Bệnh viện Việt Tiệp (nay là Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng). Nghe bố mẹ tôi kể rằng dạo đó gia đình tôi nghèo khó làm ăn vất vả. Chẳng biết mẹ tôi xem bói ở đâu mà thầy bói phán rằng nếu đẻ được cậu con trai thì gia cảnh mới khá lên. Ước gì được nấy. Thằng tôi oe oe cất tiếng khóc chào đời. Mẹ tôi mừng lắm ở viện chưa được mấy ngày đã bế tuột tôi về nhà khoe rinh khắp hàng xóm. Cái xóm tôi ở có 6 gia đình. Mẹ tôi bảo cả xóm kéo đến nhà hoan hỉ vạch tã ra nhòm "con chim nho nhỏ" của tôi tận mắt xác thực tôi chính là thằng cu chứ không phải như lời đồn đại của những kẻ độc mồm...

altTôi thiệt phận bị cận thị ngay từ bé xíu nên tôi được bố mẹ và các anh chị cưng chiều được lo ăn học chu đáo nhất nhà. Tôi cũng ham học và học tương đối khá. Tôi có năng khiếu vẽ nhưng vì mắt kém nên không chọn nghiệp hội họa. Người bạn đầu tiên của tôi là Nguyễn Đức Nghĩa sinh ngày 10-12-1962 hơn tôi 3 tháng tuổi. Hai chúng tôi được các bà mẹ cho bú rình. Khi 4 tuổi cả 2 thằng đã thích vẽ vẽ bằng phấn màu hẳn hoi vẽ mát bay xe tăng tàu hỏa... những "tác phẩm" ấy nằm chềnh ềnh suốt dọc vỉa hè trên tường nhà từ nhà tôi (số 45) sang nhà Nghĩa (số 57). Tuổi thơ tôi đã lớn khôn ở ngôi nhà mặt đường của phố Chợ Con ấy.

Trong một bài báo đăng trên Văn Nghệ Trẻ số ra ngày 29-5-2005 tác giả Nguyễn Long Khánh viết: "Hoài Khánh có một câu thơ viết về kỉ niệm rất khó quên:

Ngày lại ngày đi về qua phố chợ
Câu thơ xoàng biết bán cho ai?

Câu thơ ấy Hoài Khánh viết chắc khi còn là một chú bé ở phố Chợ Con. Nhà làm đồ mây tre ngoài giờ đi học cậu bé Hoài Khánh ngồi đan những chiếc ghế mây trẻ con. Thỉnh thoảng cậu lại ngừng tay nhìn người đàn bà lam lũ tất tả đi lại quanh cái Chợ Con bé nhỏ ở một phố lao động nghèo và buồn... Chính những ngày ấy Hoài Khánh đã làm thơ đã tưởng tượng ra bao điều thú vị ngộ nghĩnh về thế giới tuổi thơ mà sau này Hoài Khánh đã viết những bài thơ khá hay cho thiếu nhi cả nước..."

Chẳng biết do giờ sinh tháng đẻ của tôi thế nào mà số tử vi chỉ rằng tôi có số đào hoa. Ngay từ khi học lớp 6 tôi đã chơi với một vài bạn gái cùng học vẽ ở Câu lạc bộ Thiếu nhi (nay là Cung Thiếu nhi Hải Phòng). Năm học lớp 9 có một nữ sinh Hà Nội là em họ của một thằng bạn thích kết giao với tôi. Thư đi thư lại ướt át lắm. Cô bạn ấy bảo tôi đổi tên sang Trần Hoài Khánh (tên một bạn gái của cô ấy) để viết thư cho cô ấy thì không bị gia đình cô ấy kiểm duyệt. Tôi nghĩ mình họ Đặng nên bỏ phéng cái họ Trần kia đi chữ viết của tôi nắn nót như chữ con gái thế là tôi có thêm cái tên: Hoài Khánh. Nghĩ cũng hay hay như tên một cô gái vậy từ tháng 5 năm 1983 tôi bắt đầu viết báo đăng thơ với cái bút danh ấy.

Tháng 10-2000 thằng con trai thứ hai của tôi đầy năm vợ chồng tôi tổ chức mừng sinh nhật cho cu cậu. Kể cũng lạ anh lớn thì chẳng thiết tổ chức sinh nhật nhưng cậu út thì năm nao cũng gióng giả trước 1 tháng để bố mẹ lo lễ sinh nhật cho mình. Sau đó gia đình tôi cứ đến dịp sinh nhật của vợ chồng và các con đều bày biện ăn uống "cải thiện" để mừng sinh nhật của nhau.

altTôi có một người bạn tên là Vũ Ngọc Uyên cũng có ngày sinh 23-4 nhưng hơn tôi 2 năm. Mấy năm qua gia đình tôi và gia đình Uyên luân phiên tổ chức sinh nhật cho 2 "ông chủ". Đơn giản thôi chỉ là bữa nhậu ở nhà hoặc ra nhà hàng với sự tham gia của tất cả các thành viên trong 2 gia đình không mời khách. Năm 2008 vợ chồng Uyên vừa sinh thằng con thứ 2 tôi thì vừa đi phẫu thuật ở Viện Mắt Trung ương về nên không tổ chức sinh nhật cùng nhau nữa. Còn từ năm ấy thì... Cậu con trai đầu lòng của tôi đang theo học đại học tại Hà Nội. Nhưng chắc chắn trong bữa cơm chiều nay có 2 nhân vật không thể thiếu được là vợ và cậu con út của tôi (trong ảnh trên do cậu con trai lớn của tôi chụp đấy). Năm nay đến lượt gia đình Uyên đăng cai. Đây là hình ảnh tiệc mừng sinh nhật tại Nhà hàng altVườn 22 phố Văn Cao - Hải Phòng tối ngày 23-4-2010. Trong ảnh (từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ): Vũ Ngọc Uyên Hoài Khánh con trai út và vợ Ngọc Uyên con trai út và vợ Hoài Khánh con trai cả Ngọc Uyên Lại Văn Cường - có ngày sinh 15-4-1963 bạn thân của cả Ngọc Uyên và Hoài Khánh. Tan cuộc Hoài Khánh mang hoa về nhà riêng ở phố Đông Trà quận Lê Chân - Hải Phòng. Hai bức ảnh này đều do Trần Hồng Ánh - bạn thân của chúng tôi - chụp đấy.alt Bữa tiệc mừng sinh nhật tối hôm nay cũng diễn ra tại địa điểm này với số khách cũng như vậy.

Hôm nay tôi bước sang tuổi 49. Còn nhớ cách đây 3 năm nhân dịp đón mừng sinh nhật của mình ngay từ đầu tháng tôi khởi động trang blog này nhằm có thêm điều kiện giới thiệu rộng rãi những sáng tác của bản thân của bạn bè đông nghiệp tới đông đảo bạn đọc gần xa ngõ hầu sự chia sẻ giao lưu và đồng cảm của các nhà văn nhà thơ các bạn viết cùng những người yêu thích văn chương trong và ngoài nước.

Mới ngày nào sau khi đoạt giải Cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi toàn quốc mùa hè năm 2004 tôi dành trọn tiền thưởng để sắm bộ máy vi tính cá nhân. Có PC rồi tôi nhờ vợ con và bạn bè truyền dạy cách soạn thảo văn bản trên máy vi tính. Mày mò tập gõ bàn phím chỉnh sửa nhiều kần làm nhiều dần quen tôi còn tranh thủ tự học thêm tin học qua sách và thực tiễn công việc làm thơ viết báo của mình. Kết nối mạng internet ADSL tôi có điều kiện thực hiện gửi thư điện tử đọc báo và tra cứu tư liệu trên mạng. Tháng 10-2007 con trai tôi lập blog này cho tôi nhưng đến cuối tháng 3-2008 tôi mới học được cách đưa bài lên mạng. Vạn sự khởi đầu nan tuy chỉ có hơn 3 tuần và trong tình trạng phải đi phẫu thuật chữa trị mắt nhưng tôi vẫn cố gắng đưa lên được hơn 100 tin bài và tác phẩm thơ văn. Thật mừng và vượt quá sự tưởng tượng của tôi là đã có hơn 1300 lượt bạn đọc truy cập vào trang blog bé nhỏ và đơn sơ này. Đến ngày hôm nay sau 3 năm hoạt động blog của tôi đã có 964 bài vieesrt 33.515 góp ý 234.761 lượt truy cập. Tôi biết trong đó là cả sự động viên khích lệ rất lớn của nhiều nhà văn nhà thơ nhà báo và bạn bè đồng nghiệp mà tôi quen biết. Đấy cũng là những tri ân giao cảm của đông đảo các bloggers xa gần mà tôi chưa được hân hạnh làm quen. Dù thế nào đi chăng nữa tôi cũng xin được hàng trăm nghìn lần cảm ơn cho vạn sự khởi đầu gian khó ấy.

HOÀI KHÁNH

More...

Cách dùng chữ trong thơ Trịnh Anh Đạt

By HOÀI KHÁNH

Cách dùng chữ trong thơ Trịnh Anh Đạt

altCó lẽ tôi là người hiếm hoi không dám làm thơ lục bát. Đọc Nguyễn Bính thuộc thơ Nguyễn Bính đến khi biết làm thơ là tự mình thấy rằng mình viết lục bát kiểu gì cũng thành “vè” thành “ca dao mới”. Lại hãi. Sao mà tiền nhân viết lục bát hay vậy.

Thế rồi tôi đọc ông Nguyễn Duy. Cái đất Thanh Hóa lạ kỳ sinh ra những bài lục bát đọc lên mà sởn gai ốc. Lại càng thấy sợ. Thôi chả dám đụng đến món quê kiểng linh thiêng ấy nữa.

Mãi sau này tôi mới biết Trịnh Anh Đạt nghe đâu lại là bạn ông Nguyễn Duy. Lúc đầu có vẻ hơi chủ quan trong cách nghĩ: “Một ông nhà giàu - doanh nhân làm thơ mà lại làm thơ lục bát thì thế nào nhỉ ?

Hóa ra mình chủ quan duy ý chí thật.

Lại càng thấy lạ đời. Sao cái đất Thanh Hóa sinh ra nhiều quái nhân lục bát. Hay hồn cốt của bùn - đất - cỏ - rơm thấm vào người họ từ bé mà thành quê kiểng như thế.

Nhưng đọc mãi đọc mãi lại thấy Trịnh Anh Đạt không hẳn là quê kiểng. Cũng là chữ là nghĩa mà chữ của Trịnh Anh Đạt xem ra khác biệt. Ngẫm ra thấy đúng là do cái tài của người xếp chữ. Ý tứ vần điệu nhuyễn vào nhau mà khẩu khí thì rất hiện đại. Ẩn giấu đằng sau cách dùng chữ tưởng chừng nhà quê là nhẩn nha bao chuyện thế sự. Thương trường là chiến trường vợ chồng dựa vào nhau để không “dễ gì buông lái”; con người lòng dạ thẳng ngay nên “chẳng dễ lưng này uốn cong” …

Đọc Trịnh Anh Đạt người ta nhặt ra nhiều câu thơ hay. Thấy hay cả câu cả đoạn dễ nhận ra mọi người cũng đã nghe đã trích nhiều tôi không nhắc lại. Tôi phục Trịnh Anh Đạt cách dùng chữ.

Khóc Tản Đà thì viết “rượu đắng nứt lời” nghe cứ như có ai cấu vào tâm can. Cái tiếc nuối cho sự vô tình nhỡ nhàng lỗi hẹn thì anh viết “chưa trả nợ lời mời” - sao nặng trĩu nỗi niềm một lời mời dài gần hết cuộc đời. Tôi đọc “Mắt lá” anh viết về hoa trinh nữ lại thấy thương cái mắt xanh khép hờ rồi liên tưởng đến ngành “công nghệ không khói” nổi tiếng ở Đồ Sơn (là nghe người ta đồn thổi thế) lại thắc mắc chẳng biết những số kiếp hoa trôi bèo dạt vật vờ hành nghề ở khu du lịch này có vận vào thơ anh hay không ? 

Trong “Làng Chua” đọc qua vài câu miêu tả ban đầu kiểu “lúa nghẹn đòng chiêm mùa tần tảo” lại chủ quan nghĩ:  À bình thường thôi cũng là cảnh quê nghèo cả ai viết cũng giống ai. Nhưng đến hai câu cuối “Làng Chua như gái dậy thì - Ngực căng hương cốm bật khuy giữa trời” mới thấy chữ nghĩa của Trịnh Anh Đạt thật đắt. Anh cố tình lừa người ta bằng hình ảnh rất cũ rồi đột ngột bung ra ý tứ tràn trề ở cuối câu để người đọc thấy sự phát triển thấy sự rực rỡ tươi mới thấy đất chua phèn đã hóa thành màu mỡ tự khi nào.

Lại xem anh bàn về rau má ngọn rau của làng quê mọc tràn lan bờ ruộng bờ ao cái thứ rau lạ lùng át hết cả cỏ để rồi “xanh rười rượi với đời”. Nếu bạn có dịp về Thanh Hóa vào bất cứ nhà hàng bình dân quán ăn đặc sản hay bữa nhậu thù tạc bạn bè y như rằng thấy rau má thay cho rau thơm rau sống ngoài Bắc. Thành ra rau má là đặc sản được ví như Sâm Cao Ly của Triều Tiên. Tôi cứ nghĩ cây rau má ấy như là Trịnh Anh Đạt vậy. Lăn lộn chiến trường bươn trải trong thương trường quăng quật với gió cát miền cửa biển để rồi thành doanh nhân thành tác giả. Người Hải Phòng chúng tôi cứ vơ vào mà nhận Trịnh Anh Đạt là nhà thơ Hải Phòng nhưng thực ra cái chất Thanh Hóa hồn Thanh Hóa cứ “ngai ngái” trong thơ anh và nhận ra rằng dù ở đất nào quê nào thì con người ta vẫn phải về với cội nguồn. Hạnh phúc sao khi có một quê hương có điểm tựa để người ta đi mãi trên đường đời để người ta ngẫm về ốc cua về rau má mà nên người. Anh nói tưng tửng “em chớ vội cười” mà thấy anh đang cười giễu ai đó mất gốc. Cái gốc của anh bắt nguồn từ “bậc thềm mòn vẹt” từ “cọng rau cái tép..” để “nuôi phần hồn vin vào con đã lớn khôn đến giờ” bằng lời ru của mẹ. Có một cái gốc như thế chữ nghĩa bình thường tự nhiên được hồn thi sĩ chắp cánh thành ra thơ.

Hành trình vật lộn với con chữ của Trịnh Anh Đạt là cả một quá trình tìm ngọc từ trong đá. Chữ nghĩa của Trịnh Anh Đạt chắt lọc từ quặng từ cát từ sạn thô nhám của cuộc đời mà đưa vào trang thơ. Tôi cứ nghĩ “Lặng lẽ” là một tuyên ngôn của anh:

Không dưng sạn hóa ngọc đâu
Trai vo tròn lẳn nỗi đau không lời
Luyện trong bùn cát sa bồi  
Sáng nay nhả một mặt trời dịu êm.

Hải Phòng tháng 9-2010

VŨ THÚY HỒNG

More...

Người lạ gõ cửa trong đêm

By HOÀI KHÁNH

Người lạ gõ cửa trong đêm 

Có một cô gái có chồng thường hay đi làm ca đêm tối ngủ một mình cho nên rất nhát và sợ ma. Một đêm cô đang ngủ thì có tiếng gõ cửa gấp rút cô liền thức giấc và lại gần cửa hỏi vọng ra:
- Xin lỗi ai đang gõ cửa thế?
Có tiếng đàn ông lạ trả lời:
- Cô có thể giúp tôi một chuyện không?
Vì có một mình và nhát nên cô ấy trả lời:
- Tôi không thể giúp ông bất cứ việc gì được đâu vì đêm đã quá khuya!
Rồi cô ta quay vào ngủ tiếp.
Sau đó mỗi đêm đều có người đàn ông lạ ấy đến gõ cửa và hỏi cô ta cùng một câu hỏi như vậy. Cô ta cũng đều từ chối.
Cho đến một hôm cô kể cho chồng nghe việc xảy ra thì ông chồng trấn an cô:
- Tối nay anh sẽ xin nghỉ ở nhà với em em cứ việc mở cửa tiếp hắn và hỏi hắn muốn gì? Nếu hắn lạng quạng xàm xỡ với em thì anh sẽ cho hắn một bài học!
Đêm đó khi có tiếng gõ cửa người chồng nhỏm dậy núp sau cửa bảo vợ ra mở cửa. Vì có chồng ở nhà cô vợ mạnh dạn mở cửa và hỏi:
- Ông muốn gì vậy?
Người đàn ông trả lời:
- Chuyện là thế này cô ạ! Mấy hôm trước tôi sang gõ cửa tính nhờ cô sang gọi chồng cô về nhà vì hắn đang ngủ với vợ tôi. Còn hôm nay tôi sang cám ơn cô vì có lẽ cô đã bắt hắn ở nhà rồi. Hôm nay không thấy hắn sang nhà tôi nữa có vậy thôi xin chào cô!
Nghe xong cô vợ ngất xỉu.

May thật! 

Hết giờ làm việc sếp vội vàng gọi đến một cô nàng mới quen ở khách sạn:
- A-lô! Em đó hả? Tối nay anh sẽ đến. Nhớ đón anh nhé cục cưng!
- Anh đó hả? Không được đâu anh ngày mai đi vì tối nay lão già nhà em sẽ bò về.
Nhận ra tiếng vợ mình hoá ra sếp đãng trí đã bấm gọi nhầm số điện thoại nhà mình sếp vội vàng cúp điện thoại và lẫm bẫm: "Chết cha may quá! Chút nữa bà ta nhận ra tiếng mình".

Kiêng kị số 13

Tại một khách sạn cao tầng một cặp nhân tình đang hú hí thì anh chồng bỗng nhiên trở về bất thình lình. Đó là một cảnh binh to lớn lúc nào cũng đeo một khẩu súng bên mình. Nghe tiếng gõ cửa bà vợ quýnh lên nói với tình nhân:
- Chồng em về tính sao?
- Tính gì? Hay để anh chui xuống gầm giường nhé?
- Không được đâu gầm giường thấp thế anh chui sao lọt?
- Hay là anh đứng trốn trong cái tủ kia vậy mở cửa mau đi.
- Không được vì chồng em có tật đi đâu về cũng trước nhất là cất áo khoác và mũ vào trong tủ.
- Thế thì chết anh rồi!
- Chết cả tôi nữa bây giờ chỉ có một cách là anh phóng ra cửa sổ.
- Em điên hả? Em không biết đây là tầng thứ 13 của khách sạn này sao?
- Trời hỡi! Đến nước này mà anh còn kiêng kị con số 13 nữa hay sao?

HÀNH KHOÁI sưu tầm

More...

Bên chùa Thiên Mụ

By HOÀI KHÁNH

Bên chùa Thiên Mụalt

Lên chùa thắp một tuần nhang
Bụi mưa theo khói tạt ngang vòm trời
Vàng thau nào biết ở đời
Tôi cầu duyên phước cho người mình mơ
 
Chưa tìm được nửa câu thơ
Trái tim ướt lạnh đôi bờ vai em
Cánh hoa đại rớt bên thềm
Gió vờn khăn tím nghiêng thêm vạt đồi
 
Vô tư đức Phật mỉm cười
Hồn nhiên ngọn tháp giữa trời tắm mưa
Dẫu là vua chúa ngày xưa
Cũng quỳ gối trước lưng rùa đội bia
 
Chỉ sông Hương lặng lờ kia
Chở câu ca Huế cạn khuya vơi tình
Chỉ riêng tôi với người xinh
Trước sân chùa cứ tự mình tụng nhau

Huế 27-3-2011

HOÀI KHÁNH

More...