HOÀI KHÁNH: Nhà
thơ Trịnh Anh Đạt là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Ông sinh năm 1946, quê gốc
Thanh Hóa, hiện sống và làm việc tại Hải Phòng. Trịnh Anh Đạt vốn mê thơ và làm
thơ từ thuở học trò. Thơ ông có cái nhìn khá sâu sắc, nhiều suy tư, trăn trở
trước cuộc sống nhưng cũng đậm đà chất trữ tình, hóm hỉnh. Ông từng đoạt Giải
thưởng Cuộc thi Thơ lục bát do báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức
năm 2002-2003, Giải thưởng Cuộc thi thơ cuối thế kỉ của Tạp chỉ Xứ Thanh năm
1999-2000. Nhiều bài thơ của Trịnh Anh Đạt được giới thiệu trên các báo và tạp
chí có uy tín ở Trung ương và địa phương.
Tập thơ Lục
bát Trịnh Anh Đạt vừa được Nhà xuất bản Văn Học cho ra mắt bạn đọc. Blog
Hoài Khánh đã đăng bài của nhà thơ Vương Trọng giới thiệu tập thơ này và được
đông đảo bloggers và bạn đọc gần xa chia vui. Tác giả Trịnh Anh Đạt và blogger
Hoài Khánh xin trân trọng gửi tặng 10 cuốn thơ tới những bloggers và bạn đọc có
tên sau:
1. Hồ Văn Thiện
2. Vũ Thu Huế
3. Nguyễn Thị
Kim Liên
4. Gió Phương
Nam
5. Nguyễn Minh
Tuấn
6. Thynguyên
7. Lương Thế Phiệt
8. Đinh Thường
9. Lê Trường Hưởng
10. Vũ Thị Minh
Hằng
Vào hồi 8 giờ
30 phút sáng chủ nhật 12-9-2010, tại Khách sạn Hoa Thành Đạt (15 phố Lí Thánh
Tông, quận Đồ Sơn - Hảo Phòng), Hội Nhà văn Hải Phòng tổ chức Tọa đàm Thơ
lục bát Trịnh Anh Đạt. Ban tổ chức trân trọng kính mời anh chị em hội viên
Hội Nhà văn Hải Phòng và những người yêu thơ trong và ngoài thành phố về dự.
Nhân đây, Blog Hoài Khánh xin giới thiệu 2 bài tbơ lục bát của Trịnh Anh Đạt
trong tập thơ mới xuất bản này.
Cứ mỗi độ thu
sang, trong tâm trí người dân nước Việt lại nhớ về sự kiện trọng đại của dân
tộc diễn ra cách đây 65 năm. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử
của thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh
ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Ngày này là một dấu son chói lọi, mở đầu kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc
Việt Nam. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám khôi phục tên tuổi Việt Nam
trên bản đồ thế giới. Còn ngày Quốc khánh Việt Nam tạo một bước ngoặt vĩ đại
trên con đường đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa
đế quốc toàn cầu.
Mùa thu nay,
người dân Hải Phòng vẫn tự hào kể cho con cháu nghe về những ngày sục sôi khí
thế cách mạng 65 năm trước. Mờ sáng ngày 23-8-1945, hơn một chục vạn nhân dân,
có lực lượng tự vệ hỗ trợ, từ nhiều ngả đường, giương cao cờ đỏ sao vàng, như
những dòng thác lớn đổ về quảng trường Nhà hát Lớn. Lực lượng vũ trang của
chiến khu Trần Hưng Đạo chia làm 2 cánh, hoà vào đoàn người từ các vùng ven,
rầm rập tiến vào nội thành. Cùng lúc, một trung đội tự vệ của Kiến An tập kết ở
Niệm Nghĩa kéo vào. Tại cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra trọng thể từ 10 giờ
sáng, trong không khí trang nghiêm, xúc động, mọi người hướng lên lá cờ đỏ
sao vàng cỡ lớn được treo lên từ trước ở mặt tiền Nhà hát Lớn. Bài "Tiến
quân ca" vang lên hùng tráng. Người dân thành phố Cảng được chứng kiến
giờ phút lịch sử trọng đại nhất của đời mình. Đồng chí Vũ Quốc Uy, thay mặt Uỷ
ban khởi nghĩa, tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai của phát-xít Nhật, thành
lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Phòng, giữa tiếng reo hò vang dậy
của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng nổ ra đã cùng cả nước đập tan xiềng
xích nô lệ, giành độc lập, tự do. Vui sướng biết bao lần đầu tiên trong lịch sử
dân tộc, công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân thoát khỏi áp bức, bóc
lột, đứng lên giành chính quyền về tay mình, làm chủ cuộc đời, làm chủ đất
nước.
Trong tiết trời
dịu mát của mùa thu thơm nồng hương biển, chúng ta hân hoan đón mừng những
thành tựu quan trọng của Hải Phòng đạt được trong những năm vừa qua. Đảng bộ,
quân và dân thành phố Cảng đoàn kết, năng động, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm cao
trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố; đảm bảo
đúng quan điểm, định hướng do Nghị quyết Đại hội đề ra; đồng thời gắn chặt,
đồng bộ với thực hiện Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị bằng nhiều biện pháp
chủ động, sáng tạo. Các chủ trương, giải pháp có tính đột phá được tập trung
thực hiện có hiệu quả cao. Hải Phòng cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ
đề ra, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức. Đảng bộ có bước trưởng thành cả về
chính trị, tổ chức, phương thức lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu. Vị thế, vai
trò của thành phố được nâng cao, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển
chung của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước; tạo nền tảng vững chắc để
Hải Phòng tự tin phát triển trong những năm tiếp theo, cơ bản trở thành thành
phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020.
Mùa thu nay, ta
càng thấy vui hơn vì có thêm hàng chục cây cầu mới, con đường mới hiện đại,
khang trang, thênh thang, thẳng tắp. Những cửa ô xoè rộng như những cánh hoa.
Đường ra Đình Vũ được nâng cấp. Cầu Khuể vừa được hợp long và chỉ mấy chục ngày
nữa được chính thức thông xe, sừng sững vắt ngang qua sông Văn Úc. Các huyện
ngoại thành Hải Phòng bừng lên sức sống mới, tạo đà cho việc xây dựng một sân
bay quốc tế ở Tiên Lãng, mở tuyến đường bộ ven biển và những công xưởng mới ở
nơi đây. Đường ô-tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đang hiện dần ra ở An Lão, Kiến
Thụy, nối Đất Cảng thêm gần với Thủ đô ngàn năm văn hiến. Chúng ta lại tiếp tục
trù liệu cho việc thiết kế những cây cầu hoặc đường ngầm qua sông Cấm, bắc
những cầu cượt biển ra các đảo Cát Hải, Cát Bà. Những siêu thị, những khách sạn
lớn, những toà nhà cao hàng chục tầng, đang nối nhau mọc lên. Những con đường
lớn, hàng loạt khu đô thị hiện đại khác sắp hoàn thành, điểm tô cho bức tranh
thành phố những gam màu tươi sáng. Hải Phòng nhiều năm nay là cái nôi nuôi
dưỡng tài năng trẻ, hàng trăm học sinh, sinh viên đỗ đạt cao ở trong nước và
quốc tế, là mảnh đất lành cho văn chương, báo chí lớn mạnh, cho các ngành khoa
học - công nghệ, văn hóa - thể thao phát triển. Quốc phòng - an ninh được bảo
đảm, có chuyển biến tốt. Hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, củng cố,
hoạt động tích cực, hiệu quả hơn. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh
doanh có chuyển biến tích cực. Người dân đất cảng được cải thiện đáng kể về đời
sống, tin tưởng hơn vào bước đi lên của thành phố. Đảng bộ, quân và dân Hải
Phòng đang phát huy toàn diện, đồng bộ các yếu tố tiềm năng, lợi thế, tập trung
cao mọi nguồn lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế, tạo bước phát triển đột phá; phấn đấu để Hải Phòng cơ bản trở thành
thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020 từ 2 đến 3 năm; có kinh
tế phát triển nhanh, bền vững; đô thị phát triển xứng tầm là đô thị loại 1,
trung tâm cấp quốc gia; phát triển văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần của xã
hội; quốc phòng - an ninh được tăng cường và củng cố vững chắc; năng lực lãnh
đạo, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của toàn Đảng bộ và hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của cả hệ thống chính trị tiếp tục được nâng cao; đảm bảo tiến bộ,
công bằng, an sinh xã hội; tiếp tục cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống
của nhân dân.
Trời thu vẫn
xanh mãi trong hiện tại vinh quang và tương lai xán lạn của các thế hệ người
dân nước Việt trên chặng đường đi tới. Thời cơ và thách thức đang gọi mọi tấm
lòng người Việt Nam cùng đoàn kết, bảo vệ vững chắc thành quả Cách mạng Tháng
Tám, đưa đất nước vững bước tiến lên, "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"
như Bác Hồ kính yêu hằng mong đợi. Và chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ quên
buổi sáng mùa thu Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, làm rạng rỡ non sông Việt Nam.
Về Đại hội Nhà
văn Việt Nam lần thứ VIII, có chút buồn, gặp một số người thân quen đau yếu. Hà
Đức Toàn, học Đại học cùng nhau ba năm, một lớp nói chuyện với anh đến nửa giờ
anh mới nhớ ra, anh bị bệnh tai biến máu não, đi phải chống gậy, đầu gậy ba
choạc; gặp Trúc Thông, anh, anh cũng bị bệnh như Hà Đức Toàn, nói khó khăn, rất
ít nói; anh Phan Xuân Hạt đã lúc nhớ lúc quên, hai lần quên cái ghế đã ngồi
(nơi anh có để hai chồng sách); Nguyễn Quang Hà từ Huế ra, mới mổ cắt ruột, lần
thứ sáu, ngồi bên, thấy anh mở hộp thuốc lạ ra uống, lại chiêu bằng ngụm nước
trong chai nhựa có sẵn trong túi; Lê Lựu càng thảm hơn, người nhà dìu đến, để
cho anh ngó vào Hội trường một hai phút rồi dìu về, mắt khi mở khi nhắm, chân
lúc bước lúc dừng, dáng run rẩy, thị lực phiêu lãng...
Vui, cũng rất
vui, gặp được Nguyễn Phan Hách, Vũ Từ Trang, Nguyễn Hồng Hà, Phạm Trọng Thanh,
đoàn Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên: Hà Cừ, Đặng Văn Sinh, Đỗ Thị Hiền Hoà, Trọng Khánh,
Lê Hồng Thiện... và đoàn Hải Phòng hùng hậu: Đình Kính, Bão Vũ, Hoài Khánh, Lưu
Văn Khuê, Phạm Xuân Trường, Vũ Thị Huyền... ,mấy phút giải lao, cùng Nguyễn
Thanh Kim, Nguyễn Anh Thuấn, Anh Vũ... được Trần Ninh Hồ (đồng hương), chiêu
đãi bia, trò chuyện tít mít, chàng bảo: "Cứ để cho hai lão kia nói, có nói
cũng chẳng ra sao đâu, vì đã giận thì mất khôn"; nhớ giọng Phạm Thị Minh
Thư, Vi Thuỳ Linh "đòi" được nói, nhớ nhiều lúc Đại hội nóng lên,
trên 90% tham luận "bị" vỗ tay nhiều đợt (đuổi xuống?), Chủ
tịch đoàn mềm dẻo, điều khiển. Nhìn chung, rất hốt. .
Kiểm lại trong
số thân quen, Vương Tùng Cương, vắng.
Với Cương, quen
biết đã lâu, từ hồi anh còn ở Ty văn hoá Hà Bắc, nhà ở gần quán Ba Giao, thị xã
Bắc Giang... những ngày, gia đình anh đầm ấm, hạnh phúc. Sau, anh chuyển về Hà
Nội, làm việc tại văn phòng Hội Nhà văn. Anh gặp bất hạnh, bỗng cô đơn, trơ
trọi!
Thơ Vương cũng
chuyển mạch, nhiều câu thơ khởi sắc, trong bài Chùa Bổ Đà: Cây gạo trầm tư
tay dâng lửa/ Hoa như đổ phẩm lối sau chùa, thơ anh nhiều bài buồn, đọc bài
Viết ngày giỗ con của anh khôn cầm nước mắt: bạn bè con vẫn thường
đến nhà chơi/ cùng trang lứa đã nên chồng nên vợ/ gió hiu hắt cứ thổi về một
phía/ bạc phận con/ trắng tóc mẹ cha rồi/ thăm mộ con/ chỉ có nói cùng cha/ lời
xanh ấy ru giấc con yên nghỉ/ xin tự chắp mảnh đời cha còn lại/ thắp câu thơ
hương khói gọi con về (8/ 1997).
Từ nỗi đau
riêng, anh đã cảm thông với nhân quần, bè bạn; một lần sau khi gặp nhau, về Hà
Nội, nửa đêm, Vương đã gọi điện thoại đọc cho nghe bài anh mới viết, Gửi bạn
sông Thương, tặng Duy Phi: :
Từng
qua nghìn dặm đất/ Lại neo về sông Thương/ Chắt câu thơ bạc tóc/ Bút xới nhàu
đêm trường.
Chữ
thánh hiền đa mang/ Miền khai tâm trăng sáng/ Tìm bạn văn thưa vắng/ Lánh chợ
đời bon chen.
Dẫu
biết là đục trong/ Ngàn năm sông vẫn chảy/ Hồn nương cõi Thần Minh/ Đường thi
nhân không mỏi.
Nâng
chén thơ run rẩy/ Dốc cạn cùng hoàng hôn/ Lặng ngấm men thi sĩ/ Chịu ơn cả nỗi
buồn.
Qua trải nghiệm,
Vương thi sĩ chia xẻ.
Tri âm, nhớ lắm.
Nay Vương có mối
tình mới, có người bạn là một nữ hoạ sĩ. Hôm Vương thi sĩ và nữ hoạ sĩ ấy về
Bắc Giang, tôi có được kiến diện. Vương thi sĩ gọi điện, mời ra quán Cây
Xanh. Có cả Chủ tịch Hội Bắc Giang: Tuấn Khương, Giám đốc Thư viện: Đỗ
Thái... Chúng tôi mừng, thấy nữ hoạ sĩ nền nã, xinh đẹp. Nàng còn đọc thơ nàng
cho chúng tôi nghe. Người thơ, giọng thơ, hồn thơ đáng mến lắm. Vương thi sĩ
nói, đã có nhau hai năm, giờ có lầu riêng, trên một hồ trong xanh gần Thiền
viện Đà Lạt...
Nói đến đó,
không mấy người không nhớ đến Tây Thi, Phạm Lãi. Mọi người đều mừng cho anh,
đúng là hết BĨ lại THÁI.
Đại hội vắng
Vương, hẳn là anh vẫn khoẻ? Nhớ hai câu thơ của anh: tự nguyện đêm đêm
ngọn đèn gác xép/ thi sĩ lặng trầm lam lũ trang thơ, chắc là anh đang lam
lũ? Không gian Đà Lạt, các bạn văn chương Chu Bá Nam, Lê Công, Đặng Thanh Liễu,
Vũ Dậu... và nàng Tây Thi hẳn giúp anh vui lên nhiều?
Nghiệp văn
chương thật khắc nghiệt, các thi sĩ văn sĩ nay đầu bạc đã nhiều, thường vẫn
phải vượt lên hoàn cảnh, như Chế Lan Viên nói, "hãy kiến trúc thời gian
thành hạt muối"...
Trong cuộc thi
thơ của Tạp chí Xứ Thanh cách đây chừng mười năm, là một thành viên Ban Chung
khảo, tôi cảm thấy thật thú vị khi gặp bài thơ nhan đề Rau má mà
Ban Sơ khảo đưa lên xét giải. Bởi cây rau má đối với người Thanh Hoá chẳng khác
gì con cá gỗ đối với dân Nghệ Tĩnh quê tôi, nó là đề tài thường làm cho những
người mới xa quê cảm thấy bị xúc phạm, có thể sinh ra cãi nhau, thậm chí choảng
nhau, nhưng lại gây thích thú cho những ai từng trải, thành đạt. Bản thân tôi
cũng đã từng nổi giận cách đây nửa thế kỷ khi có bạn sinh viên gọi tôi là dân
cá gỗ, nhưng vài chục năm nay đã bao lần tôi viết bài ca ngợi con cá gỗ. Với
cây rau má Thanh Hoá cũng vậy, ai là người làm thơ ca ngợi "đặc sản"
này là "sâm", dù đi xa đến đâu, thì : "Vị riêng rau má em ơi.
Vẫn còn ngai ngái trong người Xứ Thanh", và kết luận đầy tự hào với
cây rau má:
Vĩ nhân và
các đời vua
Cũng từ rau
má, ốc cua nên người.
Tôi phỏng đoán
tác giả bài thơ phải là một người Thanh Hoá khá từng trải, sống xa quê và được
Ban Tổ chức cuộc thi cho biết cụ thể hơn: Tác giả bài thơ, Trịnh Anh Đạt là một
doanh nhân hiện đang sinh sống và kinh doanh ở Hải Phòng!
Bài thơ Rau
má lần ấy trúng giải cuộc thi, và nhiểu người Thanh Hoá chuyền tay nhau
chép sổ.
Quê Hà Trung
(Thanh Hoá), Trịnh Anh Đạt thuộc thế hệ học sinh tốt nghiệp phổ thông đúng vào
thời kỳ cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan ra miền Băc, cầu Hàm Rồng, Đò
Lèn là mục tiêu bom đạn. Giống như hàng vạn thanh niên khác, anh lên đường nhập
ngũ, trực tiếp phục vụ công tác vận tải trên tuyến đường Trường Sơn. Vốn là
người yêu thơ, làm thơ khá sớm khi còn ngồi trên ghế nhà trường, thực tế cuộc
chiến chắp cánh cho tâm hồn thi sĩ. Từ buổi đầu ấy, sống trên đất Quảng Bình,
anh cảm thông trước sự khắc khoải chờ chồng của biết bao người vợ đã thành bà
mẹ:
Bao nhiêu bà
mẹ chờ chồng
Núi không đủ
đá để trồng Vọng Phu.
Nhưng những bài
thơ chiến trận đầu tay ấy ít xuất hiện trong tập thơ lục bát này vì phần lớn
viết bằng các thể thơ khác, hơn nữa, khi cuộc chiến đã lùi xa 35 năm, tự tác
giả cũng khắt khe hơn khi tuyển chọn thơ mình. Trong tập thơ này, nếu có thiếu,
là thiếu những bài thơ tả và kể các trận đánh, nhưng nỗi ám ảnh chiến tranh thì
dai dẳng bám theo anh mỗi nơi mỗi lúc. Ngay khi bất chợt gặp một bông hoa chuối
rừng, anh không chỉ nói được nét đẹp đặc trưng của loại hoa này:
Nồng say cháy
cả niềm yêu
Úa tàn nguyên
vẹn cánh diều nhẹ rơi
mà ký ức xui anh
nhớ về thời trận mạc, phải kiếm tìm các loại rau rừng như tàu bay, môn
thục...nên đối với người lính ngày ấy, chuối rừng đã mang "chức năng
rau" là chính.
Trịnh Anh Đạt
đến Đà Lạt khi "Chiều gom hết nắng trên từng búp thông", rồi đêm bắt
đầu xuống, bạn đọc cứ nghĩ anh sẽ tả đêm Đà Lạt thơ mộng như bao nhà thơ khác,
nhưng không, rừng Đà Lạt xui anh "Gặp thời chiến trận nỗi lòng nôn
nao":
Cua tay áo,
lại đèo cao
Pha đèn sương
phủ hoá bao "đèn gầm"
Tiếng rừng
vọng lại âm âm
Như tàu bay
địch lượn gần đâu đây
Thế là, người
cựu chiến binh này lên Đà Lạt không phải để du ngoạn, mà không gian và thời
gian nơi đây lay nhớ lại thời chiến trận, nhớ đồng đội, làm lòng anh cất lên
tiếng gọi:
Đồng đội ơi,
đồng nghiệp ơi
Chạm rừng đêm
có nhớ thời lửa bom?
Về thời hậu
chiến, Trịnh Anh Đạt khá thành công ở những bài viết về thân phận những người
phụ nữ. Chúng ta nhớ rằng, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước thành công,
thì giới tính ở nước ta bị chênh lệch, cụ thể là nữ giới nhiều hơn nam giới một
triệu sáu trăm ngàn người. Với luật Hôn nhân một vợ một chồng của chúng ta thì
tất nhiên có đúng một triệu sáu người phụ nữ sẽ không có chồng. Lẽ dĩ nhiên
những người con gái đã đem tuổi xuân phục vụ chiến trận, hoà bình đã lỡ thì, sẽ
nhận lấy những số phận hẩm hiu đó. Phần lớn các chị trở về quê tiếp tục công
việc ruộng đồng, nhiều chị là công nhân nhà máy, xí nghiệp sống ở các khu chung
cư, nỗi cô đơn khép hờ cánh cửa nhưng chẳng có ai vào, may chăng còn ngọn gió:
Lách qua khe
cửa khép hờ
Gió trăng
thuở ấy bây giờ vẫn...suông!
(Cánh
cửa khép hờ)
Có chị thấy mình
lạc lõng giữ cõi đời trần tục, đã tìm đến cõi thiền, nhưng cõi thiền cũng khó
bề an ủi khi lòng người vẫn chìm đắm trong kỷ niệm một thời:
Bạn bè con
bế, cháu bồng
Trầu em vàng
úa, vôi nồng bạc tay
Cửa thiền cầu
chút vận may
Chỉ màu
thương nhớ xếp đầy nếp nhăn...
Với tấm lòng
nhân ái, thông cảm trước nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh, lục bát Trịnh Anh
đạt là lời sẻ chia, có nhiều khổ thơ làm người đọc rưng rưng. Thế mạnh này cũng
giúp anh thành công ở những bài thơ viết về gia đình, nhất là người mẹ. Anh
thương mẹ vì một đời sống vì người khác, một đời chờ đợi những đứa con:
Quạnh hiu dột
nát mái nhà
Hương trầm
vẫn thắp thơm xa xóm làng.
Đó là thời chiến
tranh gian khổ, đến khi hoà bình, con cái khá giả, mẹ vẫn quen cái tính chịu
thương, chịu khó:
Phố đông, dâu
thiết tha mời
Thật thà mẹ
chẳng thích nơi ồn ào
Lụi lầm thân
cuốc bờ ao
Cọng rơm, cái
tép...thế nào cũng xong
(Mẹ)
Nhà thơ, chủ
doanh nghiệp, chủ nhà này tỏ ra tinh tế khi dùng hai chữ dâu thiết tha mời
chứ không phải con mời vì ông thấu đáo cái chuyện muôn đời quan hệ mẹ
chồng nàng dâu, từ xưa đến nay hai "ngôi" ấy thường kỵ nhau, bởi vậy
"dâu mời" bao giờ cũng có ý nghĩa hơn "con mời". Khổ thơ
này không chỉ nói về một người mẹ cụ thể của tác giả, mà là ý nghĩ, tâm trạng
chung của các bà mẹ Việt Nam quen sống ở làng quê. Ý nghĩa Riêng- Chung trong
thờ là vậy.
Thơ tặng các em,
Trịnh Anh đạt viết từ mặt trận "Trong tầm pháo kích trắng trời Thừa
Thiên", vào đêm trung thu bất chợt thấy vầng trăng sáng:
Lòng càng
thương nhớ các em
Thu này liệu
có đốt đèn, trông trăng?
Hay là
"Bé bé bằng bông"
Theo đi sơ
tán phòng không nơi nao?
(Gửi
về chùa Sét)
Liên tiếp những
câu nghi vấn nối nhau vì tác giả không thể xác định được việc làm, nơi ở của
những đứa em của mình trong hoàn cảnh ấy. Và dù không đề thời gian bài thơ ra
đời thì những chi tiết của hai câu cuối khổ cũng mách chúng ta chuyện thời
chiến tranh chống Mỹ. Tính thời sự có khi vô thức nhập vào tác phẩm là vậy.
Về người vợ,
Trịnh Anh Đạt có những câu thơ cảm động:
Anh vào tuyến
lửa xa xôi
Thương em nẫu
cả khoảng trời nhớ nhung
Anh "ghi
công" vợ những ngày mình đi xa:
Hậu phương
không quản ngại ngần
Cha già, mẹ
yếu xoay trần đàn em
(Đang
chín mà em)
Đó cũng là cảm
nghĩ của anh khi thấy vợ sắm sửa quần áo nâu sồng để tìm niềm vui chốn cửa
phật, thương cho vợ, thương cho mình và cho bao lứa đôi thời xuân trẻ phải xa
nhau, khi được gần nhau thì tuổi đà đứng bóng.
Chuyện thời
cuộc, thế thái nhân tình trong tập thơ này có nhiều bài chạm tới. Khi khai thác
khía cạnh bi hài của cuộc đời, tính dí dỏm của anh được huy động. Anh kể chuyện
một ông lão cạnh nhà, tuổi già "nghèo răng", mắt "giàu thêm số
kính", tuy nhà cao nhiều tầng nhưng bị nghèo đi bao thứ:
Cạnh bà nào
có được đâu
Mấy thằng
cháu ngoại chia nhau đón về!
Đọc câu này tôi
nhớ lại chuyện vui của bác Thanh Tịnh. Đó là lần có một cán bộ trong cơ quan hí
hửng khoe với bác rằng vợ mình vừa mới sinh con trai. Sau khi nghiêm túc bắt
tay chúc mừng bạn, nhà thơ lão thành nói đùa: "Vợ sinh con trai chưa hẳn
là niềm vui, vì khi nó ( con trai) có vợ mình mất con, nó có con thì mình mất
vợ". Nhưng kể cho cùng, bà bận trông cháu ngoại, đối với ông còn
"mất" hơn nhiều, vì còn phải đi xa, và chuyện này không lạ. Lạ hơn,
vui hơn là ở chi tiết này:
Dăm ông bạn
học ở quê
Tranh nhau xí
chỗ nằm kề nghĩa trang!
(Tuổi
đời nghèo khó)
Là người kinh
doanh dịch vụ ngành du lịch ở Hải Phòng, Trịnh Anh Đạt chứng kiến không biết
bao nhiêu kiểu xuất ngoại mà anh gọi chung là "thân phận những chuyến
bay", bao gồm xuất khẩu lao động, làm dâu ngước ngoài, làm Ô Sin...Nói về
mặt kinh tế, những đối tượng này đã đem về cho gia đình và đất nước một lượng
ngoại tệ đáng kể, nhưng xét về mặt "thể diện quốc gia", rõ ràng mất
nhiều hơn được, nên tác giả buồn là điều dễ hiểu:
Áo cơm bạc
mặt kiếm tìm
Đành lòng làm
suất Ô Sin xứ người.
Cũng như vậy,
việc phải lấy chồng nước ngoài, nói chung chả mấy hay ho, là điều bất đắc dĩ,
nên tác giả cảm thấy khó chịu với những ả "dâu Tây" chưa hiểu được
thân phận mình:
Tóc đen nhuộm
tím, nhuộm nâu
Vênh vang
lườm nguýt ra dâu nước ngoài
Bữa nào xó
bếp nướng khoai
Mà giờ ngọt giọng
"bai bai" điệu đàng!
Tác giả ác cảm
rồi quá lời chăng? Cũng có thể, nhưng cũng vì những đứa con gái ấy không hiểu
được nỗi lòng của những người mẹ:
Máu tim mẹ ứa
thành lời
Ngày mai con
đã bay rồi... Ới con!
Nhưng đau buồn
nhất là người ra đi với bao ước mơ, hy vọng thì trở về bằng một nhúm tro than
hài cốt, chuyện đó trong đời ta đã từng nghe nói và gặp lại với nỗi xót thương
trong tập thơ này.
Không điểm qua
một số câu thơ viết về tình yêu sẽ là một điều thiếu sót, bởi bản thân tác giả
là người đa tình, tinh tế và thể thơ lục bát là công cụ thuận lợi cho anh trang
trải sự đa tình, tinh tế ấy. Ở đề tài này, nhiều cặp lục bát của anh thật
chuẩn, ngọt ngào, có khi thấm đẫm chất dân gian:
Vào thu gặp
rét bể khơi
Để anh mong
nắng phía trời em yêu
(Rét
thu)
Xa nhau chín
nhớ mười mong
Gần nhau im
lặng như không có gì
(Hẹn
em)
Nhớ nhau đến
rỗng không mình
Đèn em khêu
bấc tìm hình bóng ai?
(Bìm
bịp kêu chiều)
Bây giờ người
của người ta
Khát khao chỉ
biết xót xa phận mình
(Gương
kia cứ ngự trên tường)
Đã trầu phải
tỏ vân cau
Dậy hương cốm
mới lụy tàu lá sen...
(Thư
và tem)
Kể từ cuộc thi
thơ lục bát đầu tiên của báo Giáo dục và Thời đại tổ chức cách đây chừng
mười lăm năm, nhiều cuộc thi thơ lục bát của các báo đã diễn ra, nhiều tuyển
thơ lục bát của nhiều tác giả, một tác giả xuất hiện. Nghĩa là thơ lục bát đang
được mùa. Phải chăng tập thơ này của Trịnh Anh Đạt góp thêm bông lúa vàng vào
MÙA THƠ LỤC BÁT?
Tháng
6- 2010
VƯƠNG TRỌNG
Hải Phòng triển khai hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014
Hải
Phòng triển khai hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn
giai đoạn 2010 - 2014
Chiều hôm qua,
ngày 19-8-2010, Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng mở Hội nghị triển khai
kế hoạch hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai
đoạn 2010 - 2014 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Hội Nhà văn
Việt Nam phát động. Các nhà văn Cao Năm, Lưu Văn Khuê, các nhà thơ Phạm Ngà,
Kim Chuông, Hồ Anh Tuấn, Tô Ngọc Thạch, Hoài Khánh, Vũ Thị Huyền,... cùng nhiều
hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng đã tới dự.
Cuộc vận động
viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010-2014 được triển khai trong
cả nước. Cuộc bận động này nhằm phát huy trí tuệ, tiềm năng văn học nghệ thuật
của người lao động, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và những đóng góp to lớn của giai
cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời giới thiệu với mọi người về tấm gương
những người lao động và cán bộ công đoàn tiêu biểu trong cả nước. Đối tượng
được tham gia Cuộc vận động là tất cả các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp và
không chuyên, đặc biệt khuyến khích công nhân, viên chức lao động và cán bộ
công đoàn cơ sở trong cả nước. Thể loại dự thi có thể là tiểu thuyết, bút ký,
truyện ngắn hoặc thơ viết về các chủ đề liên quan tới công nhân và công đoàn.
Thời gian nhận tác phẩm dự thi từ cuối năm nay đến hết ngày 31-3-2013 (tính
theo dấu bưu điện). Ban Tổ chức sẽ tổ chức lễ tổng kết và trao 1 giải đặc biệt,
1 giải A, 3 giải B, 5 giải C và 15 giải khuyến khích vào dịp kỷ niệm 85 năm
Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2014) tại Hà Nội. Đây là
dịp để nhân dân, đặc biệt là người lao động và cán bộ Công đoàn trong cả nước
thể hiện tài năng sáng tác văn học của mình.
Các nhà thơ Kim
Chuông, Vũ Thúy Hồng, Hồ Anh Tuấn, các nhà văn Vũ Hoàng Lâm, Cao Năm, Lưu Văn
Khuê, Huy Liệu đã bày tỏ niềm tự hào về Hải Phòng là địa phương có đội ngũ sáng
tác văn học khá mạnh về đề tại công nhân và công đoàn, có những tác giả tiêu
biểu trưởng thành từ thực tiễn lao động trên thành phố Cảng, nhiều lần đoạt các
giải thưởng văn học về đề tài công nhân. Mới đây, trong số 20 tác phẩm trong
toàn quốc đoạt giải thưởng văn học về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn
1999-2010, Hải Phòng đoạt được 3 giải C với tập truyện Đảo Áng Vàng
của Trần Tự, tập thơ Bước nắng của Tô Ngọc Thạch và tập thơ Gai
hồng trong mưa của Trần Huy Tản. Các ý kiến đè xuất với Ban tổ chức ở
Trung ương và thành phố nên quan tâm mở các trại sáng tác, tổ chức các chuyến
thâm nhập thực tế sáng tác, triển khai đầu tư chiều sâu cho các tác giả đã đăng
kí đề cương tác phẩm, tổ chức cho các nhà văn được hiểu biết kĩ hơn về hoạt
động công đoàn, về giai cấp công nhân hiện nay, tiếp cận với những tấm gương
điển hình tiến tiến trong công nhân lao động và các tổ chức công đoàn cơ sở
trên địa bàn thành phố.
Phát biểu tại
Hội nghị, các đồng chí Ngô Kim Vinh - Phó trưởng ban Ban Dân vận Thành ủy,
Nguyễn Văn Hưng - Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố và họa sĩ Quang
Ngọc - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng - mong muốn các
nhà văn, nhà thơ Đất Cảng tiếp tục phát huy thành tựu văn học của Hải Phòng,
tiếp tục sáng tạo nghệ thuật văn chương, sáng tác được nhiều tác phẩm có chất
lượng, tích cực hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn
giai đoạn 2010 - 2014 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Hội Nhà
văn Việt Nam phát động.
HOÀI KHÁNH
Những thách thức với người viết cho thiếu nhi hiện nay
Những thách thức với người viết
cho thiếu nhi hiện nay
Nước ta hiện nay
số dân đã gần 86 triệu người. Với sự phát triển của hệ thống giáo dục khắp toàn
quốc đến tận vùng sâu vùng xa, tổng số học sinh phổ thông theo con số của Tổng
cục Thống kê là trên 15 triệu, trong đó gần 7 triệu học sinh tiểu học, trên 5,
5 triệu học sinh trung học cơ sở và gần 3 triệu học sinh trung học phổ thông.
Trong khi đất
nước đạt rất nhiều thành tích về phát triển và hội nhập thế giới, hàng năm nền
kinh tế luôn luôn tăng trưởng thì số lượng các nhà văn viết cho thiếu nhi ở
nước ta càng ngày càng sụp giảm. Cho đến thời điểm năm 2010 này, số lượng các
nhà văn viết cho thiếu nhi còn đủ sức khỏe sáng tác và có tác phẩm mới công bố
chắc chỉ còn ở hai chữ số .
Phải chăng hiện
nay người viết cho thiếu nhi đang đứng trước nhiều thách thức lớn?
Trước hết chúng
ta đều thấy rõ sáng tạo của các nhà văn được công bố và phổ biến trong xã hội
chủ yếu là nhờ việc xuất bản Sách. Bạn đọc thanh thiếu nhi và cả nhi đồng và
mẫu giáo đều rất ham đọc sách. Có lẽ trong đời người thời gian tuổi thơ, tuổi
đi học chính là thời gian đọc sách nhiều nhất. Ở tuổi thơ, dường như ta đọc
sách cho cả quãng đời bận rộn về sau . Hồi kí, tự truyện của tất cả các nhà văn
hoá lớn Việt Nam và thế giới đều nói về một tuổi thơ say mê đọc sách.
Nhưng, từ hơn
hai mười năm qua, sách đã bị các hình thức truyền thông ( còn được gọi là văn
hóa nghe nhìn) từ ti vi, video đến internet và trò chơi điện tử trực tuyến
(game online) càng ngày càng lấn lướt vào thời gian quý giá của tuổi thơ.
Việc dạy và học
ở nhà trường với các hình thức dạy thêm, luyện thi cùng áp lực điểm số thi cử
cũng đã lấy đi của tuổi thơ rất nhiều thời gian vàng bạc nữa . Thời gian đọc
sách của trẻ em càng ngày càng bị co hẹp lại. Đó là thách thức đầu tiên của các
nhà văn.
Từ khi đất
nước đổi mới, các nhà xuất bản đã chuyển đổi hoạt động theo sự vận hành của cơ
chế thị trường, do đó "văn hóa đọc" của trẻ em đã đón nhận một
"phát minh thời đại" đó là "truyện tranh hiện đại, khôi hài và
liên hoàn" (quốc tế gọi là comic hoặc manga) được dịch và du nhập từ nước
ngoài. Là thành tựu văn hóa trẻ em của thế giới nhiều bộ truyện tranh có ích đã
trở thành người bạn thân thiết của trẻ em Việt Nam. Có thể nói rằng đó là một
thành công lớn của ngành xuất bản nhưng lại lại một thách thức lớn với các nhà
văn, đặc biệt là nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam.
Với tinh
thần trách nhiệm với thế hệ trẻ, không đặt lợi nhuận lên trên hết, các nhà xuất
bản trong đó có nhà xuất bản Kim Đồng đã duy trì định hướng thẩm mỹ cho bạn đọc
thanh thiếu niên với những Tủ Sách Vàng, Tủ sách Thơ với tuổi thơ... Những
cố gắng duy trì tình yêu văn học bằng cách tái bản liên tục các tác phẩm cổ
điển cũng đã lưu giữ bạn đọc trẻ với những giá trị thẩm mỹ có ý nghĩa bồi dưỡng
nhân cách. Nhưng việc ấy lại tạo ra một sức ỳ trong sáng tạo các tác phẩm mới,
đó là một thách thức không nhỏ với những nhà văn đặc biệt là với người viết trẻ
lần đầu tiến cầm bút hoặc với những người viết chưa có may mắn thành công ngay
từ cuốn sách đầu tay.
Bước sang thập
niên đầu tiên của thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển hội nhập sâu của đất nước
với thế giới, hàng loạt các công ty sách mới ra đời cùng với sự xuất hiện của
các dịch giả trẻ tuổi, sách thiếu nhi thế giới đủ các phong cách khác nhau được
dịch và tuyên tuyền quảnh bá rầm rộ ở nước ta. Chưa bao giờ trẻ em nước ta, (
và cả bạn đọc lớn tuổi trong đó có tôi) được thụ hưởng những cuốn sách như
những món đồ chơi, những loại bánh kẹo cao cấp, mầu sắc rực rỡ... trước đây
chưa bao giờ được nếm thử, thế mà nay được mời chào tràn ngập và ê hề khắp nơi
. Vâng, thực tế đó chính là thách thức lớn nhất hiện nay với các nhà văn Việt
Nam.
Lòng khao khát
viết cho thiếu nhi vẫn là lòng khao khát muốn hướng con trẻ đến vẻ đẹp của cái
tâm hướng thiện . Nhưng ngay cả với trẻ em bây giờ các em cũng đã phải đổi mặt
với thói "Đạo đức giả" và thói "vô trách nhiệm"( hai đề văn
thi đại học vừa qua). Hành xử bạo lực đã nhiễm cả vào trò chơi con trẻ. Và hơn
nữa con trẻ phải đối mặt với bạo lực và sự xâm hại. Tất cả những điều mắt thấy,
tai nghe ấy là những nỗi đau nhức nhối tâm can khiến người viết cho thiếu nhi
phải lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ khi cầm bút. Nhà văn Trần Hoài Dương trong
dịp Hội sách thiếu nhi Hè 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh vừa qua đã từng phát
biểu "Bảo tôi viết về chơi game chắc là tôi chịu chết!"
Trình bày những
thách thức trên không có nghĩa là các nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam đã
hoàn toàn "chịu chết!". Sách của anh Trần Hoài Dương vẫn được trẻ em
đón nhận hàng nghìn bản. Anh Nguyễn Nhật Ánh vẫn làm sôi động các Hội chợ sách
TP Hồ Chí Minh. Các anh Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn và nhiều anh chị em trẻ
như Nguyễn Ngọc Thuần, Phan Hồn Nhiên... rồi cả những người "không có
tuổi" như cụ Tô Hoài, anh Trần Đức Tiến, anh Bùi Chí Vinh, chị Quế Hương,
chị Nguyễn Thị Bích Nga...(trong đó có cả tôi) liên tục trong các năm 2008,
2009, 2010 đều có sách mới .
Mỗi người một
cách đều đã nuôi dưỡng trong mình một tâm hồn trẻ thơ để đến với trẻ thơ. Nhà
văn Erich Kaestner, một nhà văn Đức viết theo tư tưởng hòa bình, ông nổi tiếng
viết cho thiếu nhi và từng đạt giải thưởng Hans Christian Andersen đã nói :
" Chỉ những người trưởng thành mà vẫn giữ được tâm hồn trẻ thơ, kẻ đó mới
thật là một con người. "Tôi thiết nghĩ đấy là cách nói của nhà văn muốn
cảnh báo sự vẩn đục của tâm hồn, sự tha hóa của nhân cách, thói gian trá trong
hành xử...Những điều ấy đối lập với tư duy trong sáng và tình cảm chân thành
nguyên vẹn của tuổi thơ.
Những cuốn sách
văn học ( cả tác phẩm cổ điển và tác phẩm mới sáng tác)những mong đem đến cho
trẻ em những cảm xúc tươi đẹp hiện nay đang đứng trước con số phát hành, phổ
biến là: một, hai nghìn bản. Thật là "muối bỏ biển" so với số lượng
trên 15 triệu học sinh cả nước.
Ở đây chúng tôi
muốn bàn đến vai trò điều tiết của nhà nước và pháp luật, gia đình, nhà
trường và các tổ chức xã hội.
Thời gian qua cứ
sắp đến ngày Tết thiếu nhi (1-6) hay Tết Trung thu, với tư cách là một nhà văn
viết cho thiếu nhi tôi thường bị các nhà báo "bao vây", chất vấn về
Văn học thiếu nhi :Tại sao sách thiếu nhi Việt Nam lại thiếu, lại yếu thế? Tại
sao sách ngoại át sách nội ...v. . v
Trong một cuộc
họp Văn học thiếu nhi năm 2008, nhà văn Tô Hoài đã nói : "Nếu giải thưởng
văn học thiếu nhi là 1 tỷ, thì tôi cho rằng tình hình văn học thiếu nhi sẽ
khác" (Câu nói này đã được nhiều phong viên báo chí nhắc lại trên các
phương tiện truyền thông). Nhà văn Võ Quảng trong một bài viết để lại cho thế
hệ sau có nói đại ý : "Phải có một cơ quan lo cho thiếu nhi (đặc biệt là
về văn học) phải to ngang với một Bộ!". Tôi thiết nghĩ rằng trước hết đây
là cách nói hóm hỉnh của các nhà văn. Các ông đã dùng cách nói ấy để thể hiện
tâm huyết của các nhà văn lớn lo lắng cho tương lai văn họcViệt Nam. Và, hơn
nữa đấy cũng là nhu cầu hội nhập quốc tế của văn học thiếu nhi Việt Nam.
Nhờ sự phát
triển của công nghệ thông tin, nhà văn chúng ta có thể tự tìm hiểu tình hình
văn học thiếu nhi trên thế giới. Chúng ta được biết có tổ chức Ủy ban quốc tế
sách cho thanh thiếu nhi (International Board on book for young people - IBBY)
được thành lập từ năm 1953. Tổ chức này cứ hai năm một lần, trao giải
thưởng văn học thiếu nhi Hans Christian Andersen cho tác giả thiếu nhi xuất sắc
nhất. Giải thưởng này được coi như giải Nobel của văn học thiếu nhi. Một
trong những người sáng lập ra tổ chức quốc tế về văn học thiếu nhi này chính là
nữ văn sĩ Thụy Điển Astrid Lindgren. Sau khi bà mất năm 2002 một giải thưởng
văn học thiếu nhi mang tên bà cũng đã ra đời (được thành lập bởi IBBY - Thụy
Điển). Tổ chức này cũng sáng lập ra giải thưởng Peter Pan, bắt đầu từ năm 2000,
hàng năm trao giải cho tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc nước ngoài dịch sang
tiếng Thụy Điển. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần của chúng ta đã vinh dự đạt giải
thưởng này ( năm 2008)...
Nêu những thông
tin trên, tôi mong muốn chúng ta thấy rằng ở các nước càng phát triển, Văn học
thiếu nhi càng được chú ý thông qua việc tôn vinh các nhà văn viết cho thiếu
nhi bằng các giải thưởng thích đáng.
Đối với các nhà
văn viết cho thiếu nhi sự khích lệ bằng giải thưởng là cần thiết nhưng không có
hạnh phúc nào bằng việc nhìn thấy trẻ em say mê cuốn sách của mình. Trong tình
hình hiện nay, tôi xin đề nghị trong chưong trình nhà trường có thêm môn học
"Tự đọc sách", hướng dẫn trẻ em đọc sách từ lớp một để hy vọng hưóng
các em học sinh tìm chọn sách hay để đọc. Tôi được biết hiện nay ngành giáo dục
đang rất quan tâm và đang có hướng giải quyết vấn đề văn hóa đọc với thanh
thiếu nhi.
Trong thời gian
qua, các nhà văn viết cho thiếu nhi cũng đã nhận được sự quan tâm của Hội Nhà
văn Việt Nam với nhiều hoạt động, nổi bật hơn cả là Trại sáng tác dành cho các
tác giả chuyên viết cho thiếu nhi được tổ chức tại Quảng Bá ( Hà Nội )
tháng5/2008 tạo điều kiện cho 22 nhà văn từ mọi miền đất nước đến gặp gỡ, trao
đổi và sáng tác . Từ năm 2009, Trung ưong Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
đã khởi động chưong trình phối hợp với Hội Nhà văn để tổ chức Trại sáng tác
dành cho lứa tuổi thiếu nhi và tổ chức biểu dương các nhà văn viết cho thiếu
nhi hàng năm. Dự án Hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch do Nhà xuất
bản Kim Đồng, Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch thực hiện với sự giúp
đỡ của Đại sứ quán Đan Mạch đã được tiến hành từ 2006-2010 . Thông qua các cuộc
thi, các cuộc tập huấn, các "Chuyến tầu kể chuyện" phong trào sáng
tác cho thiếu nhi đã được khích lệ. Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ đã
đỡ đầu nhiều tập sách có giá trị gây sôi động phong trào đọc sách trong thanh
thiếu nhi và đạt các giải thưởng cao trong nước và quốc tế. Hội xuất bản Việt
Nam cũng dành giải thưỏng Sách Hay, Sách Đẹp cho sách thiếu nhi hàng năm.
Tôi tin rằng Đại
hội Nhà văn Việt nam lần thứ VIII sẽ tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức
với sự phát triển văn học nước nhà. Sau Đại hội, văn học dành cho thiếu nhi sẽ
được nhà nước và toàn xã hội quan tâm hơn nữa. Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt
Nam khoá tới sẽ có những biện pháp cụ thể, hiệu quả để văn học thiếu nhi có một
bước ngoặt mới đày triển vọng trong tương lai.
LÊ PHƯƠNG LIÊN
Thành uỷ Hải Phòng gặp gỡ các nhà văn vừa tham dự Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam
Thành uỷ Hải Phòng gặp gỡ các
nhà văn vừa tham dự Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam
Sáng nay, thứ sáu
13-8-2010, tại Nhà khách Thành phố (số 2 phố Bến Bính - Hải Phòng), các đồng
chí: Dương Anh Điền - Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc
hội tại Hải Phòng, Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên
giáo Thành ủy Hải Phòng gặp gỡ thân mật các nhà văn Hải Phòng đã tham dự Đại
hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Cùng dự có đồng chí Nguyễn
Quốc Khánh - Phó trưởng ban Ban Tuyên giáo Thành ủy, NSƯT Lại Đình Ngọc - Phó
giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, NSƯT Đăng Toàn - Phó chủ tịch Hội
Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng.
Tại cuộc gặp mặt,
nhà văn Đình Kính, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa VIII), Chủ
tịch Hội Nhà văn Hải Phòng, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng
- đã thông tin nhanh về kết quả Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam. Đại hội toàn
thể hội viên diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến 6-8 vừa qua. Tiếp đó, nhà văn
Đình Kính giới thiệu đôi nét hoạt động của Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải
Phòng cùng những đóng góp của đoàn nhà văn Hải Phòng tại Đại hội nhà văn toàn
quốc vừa qua, bày tỏ sự cảm ơn của các nhà văn thành phố Cảng với Thành ủy đã
thường xuyên tạo điều kiện để các nhà văn sáng tác văn học. Nhà văn Đình Kính
cũng chuyển lời của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (khóa
VIII) - thăm hỏi và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo thành phố Hải Phòng đã giúp đỡ
Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc lần
thứ III tại Đồ Sơn đầu tháng 6 vừa qua.
Phát biểu thân mật
với các nhà văn dự cuộc gặp gỡ, đồng chí Dương Anh Điền, Phó Bí thư Thường trực
Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, đã nhấn mạnh sự quan tâm
của Thành ủy Hải Phòng đối với văn nghệ sĩ thành phố Cảng và cả nước, mong muốn
các văn nghệ sĩ nói chung, các nhà văn Hải Phòng nói riêng, tiếp tục có thêm
những tác phẩm hay, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người dân hiện nay.
Đồng chí cho rằng, các nhà văn bằng tác phẩm văn học của mình không chỉ bồi đắp
thêm đời sống tinh thần cho nhân dân và chính những tác phẩm ấy là biểu tượng
của địa phương và đồng thời là niềm tự hào chung của nhân dân thành phố. Đồng
chí đã trao quà tặng 30.000.000 đồng của Thành ủy cho Chi hội Nhà văn Việt Nam
tại Hải Phòng.
Trước đó, lãnh đạo
Ban Tuyên giáo Thành ủy cũng đã tới trao quà tặng 3.000.000 đồng của Thành ủy
cho đoàn nhà văn Hải Phòng trước khi lên Hà Nội tham dự Đại hội toàn quốc Hội
Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII.
HOÀI KHÁNH
HỘI VIÊN HỘI
NHÀ VĂN VIỆT NAM - CHI HỘI HẢI PHÒNG
1.Nhà văn Bão Vũ - Chi hội phó
2.Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
3.Nhà văn Cao Năm
4.Nhà thơ Dư Thị Hoàn
5.Nhà văn Đình Kính - Chi hội trưởng
6.Nhà văn Đoàn Lê
7.Nhà thơ Hoài Khánh
8.Nhà thơ Hồ Anh Tuấn
9.Nhà thơ Kim Chuông
10.Nhà thơ Lê An Dương
11.Nhà văn Lưu Văn Khuê
12.Nhà thơ Mai Văn Phấn
13.Nhà văn Mai Vui
14.Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm
15.Nhà thơ Phạm Ngà
16.Nhà thơ Phạm Xuân Trường
17.Nhà thơ Thi Hoàng
18.Nhà thơ Tô Ngọc Thạch
19.Nhà thơ Trần Quốc Minh
20.Nhà văn Trần Tự
21.Nhà thơ Trịnh Hoài Giang
22.Nhà văn Vũ Hữu Ái
23.Nhà thơ Vũ Thành Chung - Chi hội phó
24.Nhà thơ Vũ Thị Huyền
Kết thúc Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII: Bài học nào "gửi lại mùa sau"?
Kết thúc Đại hội Hội Nhà văn
Việt Nam lần thứ VIII: Bài học nào "gửi lại mùa sau"?
Với việc bầu đủ
số lượng 15 ủy viên Ban chấp hành như chỉ tiêu đại hội đề ra, Đại hội Hội Nhà
văn Việt Nam lần thứ VIII có thể được xem là thành công hơn so với các kỳ đại hội
gần đây. Tuy nhiên, về mặt hình thức thì như vậy, song đi vào chi tiết, nhiều
hội viên lại nhận thấy đây là đại hội có nhiều luộm thuộm trong khâu tổ chức và
những bất cập từng xảy ra trong một số kỳ đại hội trước đã lại có cơ tái
diễn...
90% người đọc
tham luận bị vỗ tay... mời xuống
Trong bài viết
"Không chỉ để cho... vui" in trên Chuyên đề Văn nghệ Công an số ra
ngày 2-8-2010, chúng tôi đã lên tiếng "cảnh báo": "Bởi trong các
đại biểu, có người hàng chục năm trời nay mới gặp nhau; có người đọc nhiều của
nhau nay mới có dịp biết mặt, họ sẽ "tranh thủ" tối đa thời gian để
hàn huyên, thăm hỏi đời sống, công việc của nhau. Cho nên, thiết nghĩ, các bản
tham luận muốn gây được chú ý đối với các đại biểu cần được trình bày ngắn gọn,
thiết thực, liên quan tới mối quan tâm chung của nhiều người" và
"Kinh nghiệm cho thấy, những nhà văn có lối nói con cà con kê, dông dài
những chuyện cá nhân tầm phào sẽ là những đối tượng dễ bị... vỗ tay mời
xuống". Tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần này, số đại biểu đọc tham
luận bị vỗ tay... mời xuống xem ra còn nhiều hơn các kỳ đại hội trước (với tỉ
lệ chiếm tới 90%). Nhà thơ Định Hải là đại biểu đầu tiên lên tiếng trước đại
hội và chỉ sau vài câu nói đã bị vỗ tay mời xuống, bất kể tuổi tác, bất kể việc
ông từng là hội viên hiếm hoi đến nay được dự cả 8 kỳ đại hội (như ông tự giới
thiệu). Sang ngày làm việc thứ hai, các đại biểu bị vỗ tay mời xuống càng nhiều
hơn. Người mở đầu danh sách này là nhà văn Trần Thanh Giao. Bài phát biểu của
ông vừa dài, vừa được xem là "mang tính dạy dỗ". Tiếp sau ông, nhà
văn Võ Khắc Nghiêm cũng bị vỗ tay mời xuống. Chỉ khác là ông nhà văn có giọng
đọc hùng hồn này tỏ ra rất... kiên định. Bị vỗ tay, ông vẫn đọc. Lại vỗ tay.
Vẫn đọc tiếp. Hội trường rộng, micro xem ra không được "bắt" lắm nên mọi
người nghe câu được câu chăng. Tôi không rõ nhà văn Võ Khắc Nghiêm khi rời diễn
đàn đã nói hết ý của mình chưa?
Rút kinh nghiệm
từ đồng nghiệp, nhà phê bình văn học Phan Trọng Thưởng hứa "sẽ không làm
mất thì giờ của đại hội", song khi ông đọc đến đoạn "Nhà văn cần
phải..." thì nhận được một tràng vỗ tay. Nhà phê bình văn học Lê Quang
Trang là người điều hành buổi tham luận, không biết có phải vì quá đồng cảm với
bài viết của đồng nghiệp mà phải băn khoăn hỏi lại: "Tôi không hiểu vỗ tay
tán thưởng hay vỗ tay mời xuống". Mọi người ồ lên, vỗ tay mời xuống. Nhà
phê bình Phan Trọng Thưởng tiếp tục đọc. Các đại biểu lại vỗ tay... Nói chung,
kể từ nhà văn Võ Khắc Nghiêm trở đi, hầu hết các nhà văn khi bị vỗ tay mời
xuống, họ đều cố đọc cho hết bản tham luận. Một số đại biểu thấy vậy đã phải
bình luận: "Cứ cố mà đọc trong tiếng vỗ tay ấy, không hiểu có tác dụng
gì".
Công bằng mà
nói, trong các phát biểu, các bản tham luận được trình bày tại đại hội không
phải không có những ý kiến tâm huyết, những sáng kiến, đúc kết quý báu, nhưng,
như trên đã nói, một phần do tâm thế của các đại biểu (gặp nhau, muốn hàn
huyên, trao đổi riêng với nhau), một phần do trục trặc của hệ thống loa đài, và
một phần do các đại biểu không biết cách "nhấn nhá" sao cho ấn tượng
nên suốt thời gian diễn ra đại hội, mặc dù đã có gần bốn chục nhà văn tham gia
phát biểu, song chỉ có dăm ba người là thoát khỏi tình cảnh bị vỗ tay... mời
xuống. Tất nhiên, ở đây cũng cần phải nói thêm một điều: Dù không muốn nghe
song không phải "tất cả mọi người đều đồng loạt vỗ tay" như một trang
web nào đó đã thông tin. Sự thực là gần như những tiếng vỗ tay chỉ chủ yếu xuất
phát ở mé phải của hội trường. Tiếc là trong các nhà văn tham gia Chủ tịch
đoàn, không phải ai cũng dứt khoát, mạch lạc trong việc điều hành đại hội: Như
khi nhận thấy đại biểu phát biểu dài dòng quá thì nhắc nhở ngay (có lẽ họ ngại
"đụng chạm" vì sợ ảnh hưởng đến phiếu bầu chăng?), đừng để các nhà
văn ngồi dưới phải... "ra tay trước". Nói gì thì nói, việc các nhà
văn phải hành xử với nhau theo cách vỗ tay... mời xuống là một việc mà trong
con mắt người đời, nó không được hay ho cho lắm.
Lộn xộn
khi phát phiếu, lúng túng trong kiểm phiếu
Nhiều người đã
biết, kể từ Đại hội Hội Nhà văn lần thứ IV đến trước thời điểm diễn ra Đại hội
Hội Nhà văn lần thứ VIII, chưa đại hội nào bầu được đủ số lượng thành viên Ban
chấp hành như chỉ tiêu đặt ra. Thậm chí, cả 4 kỳ đại hội đó, chưa lần nào số
lượng ủy viên Ban chấp hành của Hội tới được con số 10. Đại hội VII, tình hình
còn "thê thảm" đến độ, số ủy viên Ban chấp hành quá ít đã đành (6
người), lại là số...chẵn (một việc tối kị vì gây khó cho việc biểu quyết). Bên
thềm Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII, các báo đã nói "rát" về vấn đề
này và bản thân nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội, ngay tại phiên họp dành riêng
cho các nhà văn đảng viên hôm mùng 4 tháng 8 cũng đã phải đặt vấn đề:
"Không phải các nhà văn ta hẹp hòi với nhau đâu, mà là chúng ta chưa biết
cách tổ chức, khiến phiếu phân tán. Cần phải cải tiến phương pháp bầu cử".
Cải tiến như thế
nào? Thật ra đáp án cũng đơn giản. Trong phiên họp ngày mùng 5 tháng 8, toàn
thể các đại biểu có mặt đã biểu quyết thông qua việc Ban chấp hành Hội Nhà văn
khóa VIII phải có số lượng 15 ủy viên. Để có danh sách 15 người này, Ban Tổ
chức đã cho phát phiếu để các hội viên giới thiệu những ứng viên mà mình tín
nhiệm. Căn cứ vào sự giới thiệu ấy, Ban Tổ chức sẽ chọn từ cao xuống thấp 30
ứng viên (chứ không phải hàng trăm người như ở các đại hội trước) để sau đó,
các đại biểu tiến hành bỏ phiếu chọn lấy 15 người.
Phải nói, đây là
một cách thức bầu cử khoa học. Song do Ban Kiểm phiếu chưa được thuần thục nên
mặc dù đông tới 54 người, và với số phiếu thu về chỉ là 693, vậy mà phải mất
tới...7 tiếng đồng hồ mới kiểm đếm xong. Kết cục, tới khi kết quả được công bố
thì đã gần 7 giờ tối. Lúc này, các đại biểu, đa phần đều từ tuổi lục tuần trở
lên đã thực sự...oải (vừa mệt vừa đói). Vậy mà ngay sau đấy, họ lại phải tiếp
tục lao vào cuộc bỏ phiếu chính thức. Các thành viên tổ kiểm phiếu được kêu gọi
hãy sẵn sàng làm việc... qua đêm.
Cũng cần phải
nói thêm là sau khi kết quả đợt phát phiếu giới thiệu đề cử vào Ban chấp hành
Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII được công bố, đã có 12 nhà văn nằm trong danh
sách 30 người có số phiếu cao nhất được đề cử đã... xin rút, trong đó hầu hết
là những nhà văn có số phiếu rất cao: Nhà thơ Trần Đăng Khoa (đứng thứ 3 trong
số tất cả các nhà văn được đề cử), nhà văn Hữu Ước (thứ 5), nhà văn Nguyễn Ngọc
Tư (đứng thứ 8), nhà văn Hồ Anh Thái (thứ 9), nhà văn Phan Thị Vàng Anh (thứ
13), nhà văn Đỗ Bích Thúy (thứ 14), nhà thơ Bằng Việt (thứ 15)... Theo qui chế
đã được đại hội thông qua, sẽ có 12 nhà văn đứng thứ tự từ 31 đến 42 được
"đôn" vào danh sách này. Nhưng có lẽ vì thời gian quá muộn, mọi người
xem chừng đã ngán việc bầu bán mất thì giờ nên đa phần đều ngúng nguẩy không
muốn bổ sung thêm 12 ứng viên nữa, để rồi cuối cùng họ đi đến thống nhất chốt
lại ở danh sách 18 người. 18 người để bầu lấy 15 người. Có lẽ, lâu lắm rồi ở
Hội Nhà văn Việt Nam mới có trường hợp các nhà văn ta "thoáng" với
nhau đến vậy.
Và đến lúc này
thì việc phát phiếu gần như đã trở nên khó kiểm soát (Báo Tuổi trẻ phải dùng
cái tiêu đề "Ồn ào và lộn xộn" để nói về hiện tượng này). Bình thường
ra thì các đại biểu phải ngồi nguyên trên ghế của mình, tổ viên tổ kiếm phiếu
xuống kiểm đếm từng bàn và phát phiếu trực tiếp. Đằng này, như ong vỡ tổ, các
nhà văn người đứng người ngồi, người cắp cặp chực ra về, tổ kiểm phiếu thì luôn
miệng thông báo: "Mời các nhà văn nào chưa có phiếu lên trên này nhận
phiếu". Đã có những nhà văn lên nhận phiếu cho nhau. Bản thân tôi chứng
kiến cảnh nhà văn Nguyễn Quốc Trung cầm một tập phiếu, hất cằm hỏi nhà báo Nhật
Hoa Khanh: "Anh có phiếu chưa?". Nhà báo Nhật Hoa Khanh thật thà trả
lời: "Cám ơn, tôi có rồi". Tôi thì tôi tin nhà báo Nhật Hoa Khanh
lịch sự mà trả lời vậy thôi, chứ chắc ông chưa nhận lá phiếu nào đâu (vì ông
không phải là hội viên). Nhưng thử đặt giả thiết đây là trường hợp người đang
nằm trong danh sách 18 ứng cử viên kia thì sao? Mọi việc có đơn giản như vậy
không?
Trung tướng -
nhà văn Hữu Ước cũng được phát... 2 phiếu. Ông chỉ bỏ một phiếu, phiếu còn lại
ông trao trả nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội. Nhà văn Hữu Ước kiên nhẫn chờ
tới lúc ban kiểm phiếu công bố kết quả. Và ông thở phào nhẹ nhõm nói với tôi:
"Thật may là đại hội đã bầu đủ 15 thành viên cho Ban chấp hành như đã
thống nhất. Thế là tốt, chứ nếu không bầu đủ, tôi sẽ yêu cầu bỏ phiếu lại".
Nữ nhà báo Vĩnh
Quyên, hiện công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam đã kể cho tôi một câu chuyện: Tối
ấy, sau khi phát phiếu cho một số nhà văn, một thành viên tổ kiểm phiếu đã cầm
một xấp phiếu bước ra ngoài cửa hội trường. Tò mò đi theo, nhà báo Vĩnh Quyên
bất ngờ thấy ông nọ cho ngay xấp phiếu vào cặp. Thấy vậy, chị nhắc ngay:
"Sao anh lại cho phiếu vào trong cặp như thế". Ông nọ (nghe đâu là
một nhà văn miền Trung) vội giải thích: "Tôi đi tìm mọi người để
phát". Vĩnh Quyên nghe vậy bảo ngay: "Nếu thế thì anh phải cầm phiếu
trên tay chứ". Ông nọ lúng túng, đành phải lấy phiếu ra...
Trong cuộc trao
đổi với tôi và các nhà thơ Trần Quang Quý, Bùi Đức Khiêm trong buổi chiều
bế mạc đại hội, nhà thơ Quang Hoài, một thành viên tổ kiểm phiếu cũng thừa
nhận, việc Ban Tổ chức vừa phát phiếu vừa in phiếu (chắc vì lý do thời gian gấp
gáp - PK) đã khiến chuyện kiểm soát phiếu trở nên khó khăn hơn. Ông thật thà
cho hay, hiện ông còn giữ cả tập tới vài chục phiếu in thừa trong cặp.
Với việc bầu ra
được một Ban chấp hành đủ 15 người, trong đó có một nhà văn dưới tuổi 50
(Nguyễn Thị Thu Huệ, Vũ Hồng), bốn nhà văn dưới tuổi 60 (Trần Đức Tiến, Nguyễn
Quang Thiều, Văn Công Hùng, Võ Thị Xuân Hà), Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần
thứ VIII được xem là tương đối thành công về mặt nhân sự. Tuy nhiên, nhìn lại
hơn hai ngày tiến hành đại hội, trong khi việc kiểm điểm, chất vấn các thành
viên Ban chấp hành khóa VII chưa được tiến hành, một số kiến nghị của hội viên
về bổ sung điều khoản "Chủ tịch Hội không được làm quá hai nhiệm kỳ"
cùng một số vấn đề khác trong Điều lệ Hội chưa được lấy biểu quyết thông qua;
hầu hết thời gian dành để đọc tham luận và bầu cử, vậy mà việc đọc tham luận
thì có tới 90% đại biểu bị vỗ tay... mời xuống, việc bầu cử thì xảy ra những
chuyện lộn xộn như trên - đây thực sự là vấn đề cần phải lên tiếng cảnh báo để
các kỳ đại hội sau, chúng ta tổ chức được chặt chẽ, khoa học hơn. Xin đừng coi
là việc nhỏ. Cứ thử hình dung, chỉ cần một đôi lá phiếu bị đưa "nhầm địa
chỉ" thôi, tình thế có thể sẽ khác. Thì trong đại hội này, chẳng đã có một
ủy viên Ban chấp hành chỉ hơn người bị trượt có đúng một phiếu (354 và 353) đó
sao?
PHẠM KHẢI
Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp
Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp
Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, xây dựng, sáng tạo, chiều hôm nay, thứ sáu 6-8-2010, tại hội trường Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (135 phố Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội), Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII đã thành công tốt đẹp.
Từ mấy hôm trước và nhất là sáng ngày 4-8, hơn 700 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Thủ đô Hà Nội tham dự Đại hội, thực hiện trách nhiệm với sự kiện chính trị quan trọng của các nhà văn Việt Nam và những người yêu văn học nước nhà. Buổi chiều, đã diễn ra Hội nghị đại biẻu đảng viên, do Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam triệu tập.
Trong ngày hôm qua, 5-8, Đại hội đã tiến hành họp phiên toàn thể để thực hiện các nội dung: Bầu Đoàn chủ tịch, Đoàn thư kí, Ban thẩm tra tư cách đại biểu tham gia Đại hội; nghe Báo cáo kết quả đại hội các chi hội nhà văn ở cơ sở; Báo cáo kiểm điểm của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII (nhiệm kì 2005-2010); Thông qua Quy chế bầu Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa VIII; Bầu ban kiểm phiếu; Thông qua biểu quyết số lượng, nhân sự và bầu Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa VIII. Đại hội cũng nghe gần 20 tham luận của các nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận phê bình văn học , với nhiều nội dung phong phú, sâu sắc. Các bài tham luận thể hiện tâm huyết, ý thức, trách nhiệm của các nhà văn đối với nền văn học cách mạng của nước nhà; đồng thời nhấn mạnh đến sứ mệnh, thiên chức cao cả của nhà văn đối với sự phát triển lành mạnh của xã hội, chấn hưng nền văn hóa dân tộc, xây dựng đất nước văn minh, cường thịnh và xây dựng những phẩm chất nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Sáng nay, ngày 6-8, Đại hội đã chính thức khai mạc. Đồng chí Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng chí Phùng Hữu Phú - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; PGS, họa sĩ Vũ Giáng Hương - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cùng nhiều đồng chí lãnh đạo, đại diện các Bộ, Ban Ngành của Trung ương và Hà Nội đã tới dự; Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi lẵng hoa tới chúc mừng Đại hội.
Thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội - trình bày dự thảo Báo cáo tổng kết mang tiêu đề Vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá con người. Báo cáo khẳng định 5 nét mới trong đời sống văn học Việt Nam thời gian qua: Một là, tiếp tục viết về đề tài chiến tranh cách mạng nhưng mạnh hơn là sáng tạo trong cuộc đấu tranh để công nghiệp hoá đất nước, các nhà văn có mặt ở những mũi nhọn của đời sống, chủ đề lớn của văn học ta hôm nay là đạo đức xã hội. Hai là, các nhà văn quan tâm hơn đến yêu cầu kết tinh văn học, dồn sức cho những tác phẩm lớn mang ý nghĩa tổng kết một đời văn. Ba là, ý thức bảo vệ truyền thống, chống lại cuộc xâm lăng văn hoá từ bên ngoài. Bốn là, xu hướng hiện đại hoá văn học, kết hợp với nâng cao một bước sự chuyên nghiệp hoá nghề văn. Năm là, xuất hiện nhiều tài năng trẻ, thể hiện rõ hơi thở, giọng điệu của đời sống hôm nay. Báo cáo cũng nêu bật kế hoạch và lộ trình nâng cao chất lượng lí luận phê bình, như là một nỗ lực khắc phục cái yếu kém tồn đọng nhiều thập kỉ vừa qua; Ban Chấp hành đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, có lẽ là nhiều kỉ lục so với các nhiệm kỳ từ ngày có Hội; mở nhiều lớp tập huấn và mở Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du; các hội thảo về Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Võ Quảng, Nam Trân...đã để lại tiếng vang trong đời sống văn học. Nhiệm kỳ vừa qua, đã đưa được Ngày thơ Việt Nam vào đời sống lễ hội, năm sau nhiều sáng kiến hơn năm trước và đặc biệt hơn là lần đầu tổ chức Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam nhưng đã để lại trong lòng bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu đậm. Chủ tịch Hữu Thỉnh nhấn mạnh: "Chúng ta đang tiến sâu vào thế kỉ XXI (...) Đó là thế kỉ giải phóng các tiềm năng của con người, đó cũng là thế kỉ cần nạp năng lượng văn hoá tối đa cho con người, giúp con người thực sự trở thành Con Người, với tư cách vừa là chủ thể riêng rẽ vừa là thành viên trong một cộng đồng trách nhiệm. Trong cuộc chuyển đổi vĩ đại của dân tộc, các nhà văn chúng ta nhận lấy sứ mệnh nạp năng lượng tinh thần cho xã hội, dồn hết tâm huyết và tài năng vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá của con người.
Tiếp đó đồng chí Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã trao tặng bức trướng của Ban chấp hành Trung ương Đảng tặng Hội nhà văn Việt Nam mang dòng chữ "Đoàn kết - Dân chủ - Xây dựng - Sáng tạo" và phát biểu với Đại hội, ghi nhận những đóng góp của các thế hệ nhà văn Việt Nam vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước hôm nay, bày tỏ sự tin tưởng của Đảng đối với các nhà văn Việt Nam đang lao động, sáng tạo vì sự phồn vinh của đất nước.
Phát biểu với Đại hội, PGS, họa sĩ Vũ Giáng Hương - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam - hy vọng các nhà văn Việt Nam tiếp tục sáng tạo nghệ thuật để có thêm nhiều tác phẩm hay và Hội nhà văn Việt Nam tiếp tục được đổi mới và phát triển vì một nền văn học Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội đã bầu 15 nhà văn vào Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII. Kết quả như sau:
* Tổng số phiếu phát ra: 671
* Tổng số phiếu thu về 667
* Số phiếu không hợp lệ: 1
1. Nhà thơ HỮU THỈNH - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII - 618 phiếu
2. Nhà văn NGUYỄN TRÍ HUÂN - Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Tổng biên tập báo Văn nghệ - 574 phiếu
3. Nhà thơ NGUYỄN QUANG THIỀU - Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Ủy viên Ban biên tập Báo Vietnamnet - 509 phiếu
4. Nhà văn TRUNG TRUNG ĐỈNH - Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 506 phiếu
5. Nhà phê bình văn học LÊ QUANG TRANG - Chủ tịch Hội đồng Lí luận phê bình văn học Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh - 490 phiếu
6. Nhà văn KHUẤT QUANG THỤY - Chi hội trưởng chi hội nhà văn quân đội - 455 phiếu
7. Nhà văn NGUYỄN THỊ THU HUỆ - Trưởng phòng phim truyền hình Đài truyền hình Việt Nam - 440 phiếu
8. Nhà văn TRẦN ĐỨC TIẾN - Trưởng ban công tác nhà văn khu vực miền Đông Nam bộ - 434 phiếu
9. Nhà văn ĐÀO THẮNG - Chuyên viên Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam - 424 phiếu
10. Nhà văn VÕ THỊ XUÂN HÀ - Phó ban công tác nhà văn trẻ Hội nhà văn Việt Nam khóa VII - 414
11. Nhà văn ĐÌNH KÍNH - Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng - 399 phiếu
12. Nhà văn VŨ HỒNG - Phó trưởng ban Liên chi hội Nhà văn Việt Nam đồng bằng sông Cửu Long - 390 phiếu
13. Nhà thơ NGUYỄN HOA - Phó trưởng ban Ban Tổ chức và Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam - 372 phiếu
14. Nhà thơ VĂN CÔNG HÙNG - Phó chủ tịch Hội VHNT tỉnh Gia Lai - 371 phiếu
15. Nhà phê bình văn học PHAN TRỌNG THƯỞNG - PGS, TS Ngữ văn, Viện trưởng Viện Văn học, Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu văn học - 354 phiếu
Vào lúc 14 giờ chiều nay, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII họp phiên đầu tiên bầu các chức danh lãnh đạo hội. Kết quả,:
Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII gồm 5 nhà văn: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Quang Trang, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Thu Huệ.
Nhà thơ Hữu Thỉnh được bầu lại làm Chủ tịch Hội.
Nhà văn Nguyễn Trí Huân, nhà lí luận phê bình Lê Quang Trang và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được bầu là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.
Nhà văn Khuất Quang Thụy được bầu là Trưởng Ban kiểm tra của Hội.
Chiều nay, Đại hội tiếp tục thảo luận tại hội trường và thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Hội Nhà văn Việt Nam, thông qua Nghị quyết và bế mạc Đại hội.
Giờ chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường
Xa mảnh vườn, xa những đàn chim khác
Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước
Nhìn về hướng bầu trời mở đôi cánh
Đỉnh cây vươn mỏ con chim
Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió
Tiếng hạt vỡ trong ngực
Bãi trống và quả xanh
Qua rừng sâu tán lá rậm rạp
Con sơ sinh trên đất
Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ
Bơi qua sông đứt đuôi nòng nọc
Bật lá mầm bay đi thênh thang
Hơi nước bến sông
Không gian đặc thời gian nhầm lẫn
Ngọn khói lên cao lan xa
Biết mình bơi trong biển sương
Không phải sương mà đang mưa
Ngược đỉnh tháp trong veo sáng láng
Hơi thở, cơ bắp chắc, lá reo...
Người đã khuất bỗng về trong hoa nở
Con rùng mình một bến bờ
Mặt nước nghẹn nơi không sóng vỗ
Ngụm nước mát trôi qua chầm chậm...
Chợt nhớ mùa nước lớn tràn hang dế nhỏ
Lóc bóc tiếng bong bóng phun lên từng đợt
Cho con
biết được đâu là cửa hang...
II
Đặt con lên đất
Lòng sông đau xé thân đêm
Thiên nhiên láng ướt
Thân cây rã rời từng đốt
Nước xiết
Chảy nhanh hơn
Con bật khóc cuốn đi lưới nhện
Tiếng con vạc khàn khàn
Tàn tro loé sáng
Mặt trăng run
Nhặt viên sỏi vẽ lên mặt đất
Một cánh đồng
Chú bê non ngơ ngác
Tô đậm nét chú bê cúi xuống gặm cỏ
Hướng khác vẽ thêm con mắt
Mắt muông thú hay mắt người
Viết vội dòng chữ vào ô trống còn lại.
III
Giọng nói rất gần
Dưới bình minh con hãy lột xác!
Hoa quả
Lửa đèn
Âm dương chén nước
Như trườn qua cơn chạng vạng
Rút dần cơ thể khỏi lớp vỏ bọc
Con hớp những giọt sương
Đống vỏ bọc chất cao xám xịt
Đã xa tầm tay với
Đoàn người dìu nhau bấy bớt
Cuối bình minh.
IV
Bóng cây oà vỡ dưới chân
Hình bản đồ rách nát
Hay xác chết nửa dơi nửa chuột
Con hốt hoảng đan lưới sắt
Đặt bàn chông quanh mình
Mài con dao
Thủ sẵn bao diêm
Chân trời càng gần
Bóng tối càng trôi khủng khiếp
Nhanh hơn mọi cảm xúc
Con vẫn dồn lo âu, căm tức
Trên mặt đất bóng đêm đang xoá sạch.
V
Con đã đuổi theo con mồi nhỏ
Tung mình lên mặt sóng rồi mất hướng
Nước rút
Trong giấc mơ gần sáng
Xương cốt con đau
Đuôi và vây lưng tê cứng
Có bàn tay luồn những sợi dây
Kéo con lê lết
Họ đã dừng lại trú mưa
Bất ngờ phóng thích con
Gần chân sóng
Con biết ơn trận mưa
Sấm to và gió mát.
VI
Cha vừa gượng
dậy sau trận ốm liệt, men dần ra cửa, lọt vào khối vuông ánh sáng
Người cố đưa
ngón tay lên cao và bảo con cánh cam trên tán lá kia cha nhìn thấy lần đầu
Con kể những
chuyện vô tình lúc cha hôn mê. Chuyện đám mây lớn thường bay chậm qua nhà mình.
Chiếc giếng khơi dâng hơi nước lên cửa sổ. Chuyện tiếng con chim khách làm mọi
người cùng nhìn vào bát thuốc
Cơ thể cha tựa
sông cạn, củi khô, hạt lép
Chùm quả nặng
đung đưa trong gió mạnh
Cha bỗng thều
thào hãy dìu cha đi nghỉ
Tiếng lá khô lăn
nhanh trên mái nhà làm cha và con cùng rơi nước mắt.
Tọa đàm về tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng
Sáng
nay, thứ sáu 30-7-2010, tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, diễn
ra cuộc tọa đàm về tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản
Hội Nhà Văn - 2009) của Nguyễn Quốc Hùng - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Tác
giả hiện là công nhân Cảng Hải Phòng.
Các nhà văn Lưu
Văn Khuê, Vũ Hoàng Lâm, Ngọc Châu, Hoài Khánh, Cao Năm, Nguyễn Long Khánh,
Lương Văn Chi, Đình Kính ... đã có tham luận hoặc bài phát biểu tại cuộc tọa đàm,
khẳng định: tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của anh viết về một
làng quê nhỏ bé, khiến ta liên tưởng đến một câu chuyện cổ tích về cuộc đời của
riêng từng nhân vật, của riêng làng quê ấy, một vùng đất nhỏ tới nỗi gặp một
trận mưa to là lụt trắng cả làng, gần hai trăm sinh linh phải dồn về trú ngụ
tại khoảnh đất đình. Hai tuyến nhân vật thiện và ác được thể hiện rõ nét. Cuộc
xung đột âm thầm giữa hai dòng họ trong làng là diễn biến chính của câu chuyện.
Mô-típ tuy đã cũ nhưng tác giả muốn làm mới nó bằng cách tập trung khai thác
những xung đột nội tâm của từng nhân vật. Và xung đột của những con người ấy
như tiền định bắt phải thế, như giời xui phải làm thế chứ cuộc sống thường ngày
của họ hoàn toàn không có nguyên cớ gì để tạo nên mâu thuẫn, mà "Tất
cả chỉ là dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi". Tất cả
các nhân vật chính trong tiểu thuyết đều có tuổi thọ cao, nhưng rồi khi tiến tới
cái chết mỗi người phải chịu một hoàn cảnh thật công bằng với những gì họ đã
làm ở trần thế. Tác giả muốn đề cập tới sự nhân quả ở đời. Trong tiểu thuyết có
một số chi tiết huyền ảo, thần thoại nhưng tất cả đều giải thích được nguyên
nhân từ đâu. Tất cả từ tâm con người mà ra.
Vốn sống thực tế
phong phú là điểm mạnh trong sáng tác của Nguyễn Quốc Hùng. Qua tiểu thuyết Dòng
sông chở kiếp, anh còn thể hiện rõ được tính cách thâm trầm, suy tư
thường ngày của anh.
Mấy chục năm trở
lại đây, những người công nhân trực tiếp đứng máy trong các xưởng thợ tham gia
sáng tác văn chương không nhiều. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng là một trường hợp
hiếm hoi, nhất lại viết tiểu thuyết, thì thật đáng trân trọng.
HOÀI KHÁNH
Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức
Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức
Xưa nay, văn học
thiếu nhi luôn là mảnh đất đầy tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức. Sở dĩ như
vậy là vì văn học thiếu nhi tuy có đề tài phong phú, hấp dẫn nhưng lại khó
viết, khó hay và khó tìm độc giả. Vì cuộc sống là một dòng chảy không ngừng nên
theo thời gian, độc giả của văn học thiếu nhi cũng đòi hỏi các tác giả phải đổi
mới cách nhìn, cách viết cho phù hợp với thời đại mới.
Các bạn nhỏ ngày
nay vừa "già" hơn trong suy nghĩ và hành động, lại tỏ ra "non" hơn trong cảm
xúc so với các thế hệ trước.Vậy nên viết cái gì, viết như thế nào cho lứa tuổi
măng non cùng việc tìm ra một đường hướng phát triển cho văn học thiếu nhi là
những vấn đề đang được đặt ra cho người sáng tác và tất cả những ai quan tâm
đến mảng văn học này.
Mảnh đất đầy tiềm năng
Nhiều độc giả
hẳn còn nhớ, những năm 80, 90 của thế kỉ trước, trong mạch nguồn đổi mới văn
học mở ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, văn học thiếu nhi thời kì này xuất hiện
nhiều tác giả, tác phẩm như Nguyễn Quang Sáng với Dòng sông thơ ấu, Phùng
Quán với Tuổi thơ dữ dội, Duy Khán với Tuổi thơ im lặng, Ma Văn
Kháng với Côi cút giữa cảnh đời, Sơn Tùng với Búp sen xanh... Có thể
nói rằng, các tác phẩm ấy cho đến nay vẫn còn đầy sức sống và khả năng chinh
phục người đọc. Những năm giao nối giữa hai thế kỉ, khi thế hệ trẻ Việt Nam bắt
đầu làm quen và say mê với internet, với game online thì cũng là lúc một loạt
các tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản như Dế
mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài), Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng
Khoa), Đất rừng phương nam (Đoàn Giỏi), Quê nội (Võ Quảng), Bầu
trời trong quả trứng (Xuân Quỳnh)... Những tác phẩm này được tôn vinh
trong "Tủ sách vàng" dành cho thiếu nhi của Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ
tiếng và được thiếu nhi ở nhiều nước đón nhận nồng nhiệt. Dế Mèn và Dế Trũi
trong Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài đã trở thành các nhân vật kịch
mà trẻ em Nga rất thích nếu được vào vai trên sân khấu. Nhân vật Cục và Cù Lao
trong Quê nội của Võ Quảng được độc giả nhí nhiều nước hâm mộ không
kém gì Huckle Berry Finn trong Những cuộc phiêu lưu của Huckle
Berry Finn và Tom Sawyer trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer
do Mark Twain viết. Những vần thơ của Trần Đăng Khoa cũng được nhiều bạn nhỏ
Cuba thuộc nằm lòng... Nhà xuất bản Kim Đồng thời gian này đã đầu tư cho nhà
văn Nguyễn Nhật Ánh thực hiện bộ sách Kính Vạn hoa - bộ sách sinh hoạt
thiếu nhi dài kì đầu tiên ở Việt Nam, với 45 tập (được phát hành từ 1996 và kết
thúc ở 2002). Như vậy, việc tìm về và trân trọng các giá trị văn học thiếu nhi
trong quá khứ đã góp phần định hướng thẩm mĩ cho bạn đọc nhỏ tuổi khi văn hoá
đọc đang có nhiều thay đổi.
Bên cạnh đó, các
cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi đã được hai nhà xuất bản ở hai miền Bắc -
Nam tổ chức rầm rộ. Qua các cuộc vận động của Nhà xuất bản Kim Đồng, hàng loạt
tác phẩm được giải như Đợi mặt trời của Phạm Ngọc Tiến, Bỏ trốn
của Phan Thị Thanh Nhàn, Bí mật hồ cá thần của Nguyễn Quang
Thiều, Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương, Miệt vườn xa lắm của Dạ
Ngân, Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn... đã ghi nhận sự cố gắng của
nhiều tác giả. Cây bút Nguyễn Ngọc Thuần xuất hiện với tác phẩm Vừa
nhắm mắt vừa mở cửa sổ trong cuộc vận động "Văn học thiếu nhi - Vì
tương lai đất nước" của Nhà xuất bản Trẻ, sau đó là tác phẩm Một
thiên nằm mộng được giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nhiều nhà
nghiên cứu đã đánh giá cao phong cách mới, trẻ trung trong văn học thiếu nhi
của tác giả này. Viết cho thiếu nhi, còn phải kể đến các nhà văn tâm huyết như
Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn, Lê Phương Liên cùng một đội ngũ khá đông các cây
bút văn, thơ khác liên tục có sách xuất bản cho thiếu nhi như Phan Hồn Nhiên,
Nguyên Hương, Hồ Việt Khuê, Lê Hồng Thiện, Hoài Khánh, Phạm Đình Ân... Những
năm gần đây, với sự ra đi của các cây đại thụ như Võ Quảng, Phạm Hổ, cùng tình
trạng tuổi cao sức yếu của một thế hệ nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi như
Định Hải, Vũ Tú Nam, Nguyễn Kiên, Phong Thu, Thy Ngọc, Nguyễn Ngọc Kí..., yêu
cầu tiếp nối nguồn mạch cho văn học thiếu nhi trở nên cấp bách.
Gần đây, Nguyễn
Nhật Ánh đã làm sôi động diễn đàn văn học thiếu nhi với các tác phẩm Kính
vạn hoa, Chuyện tình xứ Lang Biang, Tôi là Bêtô, Cho tôi một vé đi tuổi thơ...
tạo nên một "làn sóng đọc sách" trong các em nhỏ. Góp phần khởi sắc cho mảng
văn học này, thể hiện qua các cuốn sách thường xuyên xuất hiện trên thị trường,
còn có Hồ Phương với Cha và con, Lý Lan với Bí
mật giữa tôi và thằn lằn đen, Lưu Thị Lương với Con cá mày ở trong nhà,
Trần Thị Hồng Hạnh với Chuyện của nhóc Bill, Trần Hoài
Dương với Nàng công chúa biển, Lê Phương Liên với Cuộc phiêu lưu của chú Rối Tễu,
Nguyễn Đình Chính với Ngàn dặm xa, Đoàn Thạch Biền với một
loạt tác phẩm Những ngày tươi đẹp, Tôi thương mà em đâu có hay, Tôi
hay mà em đâu có thương, Tình nhỏ làm sao quên, Mùa
hè khắc nghiệt, Phượng yêu... "Tủ sách Tuổi mới lớn"
với một số cây bút trẻ như Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Thị Yến Linh, Nguyễn Thiên
Ngân cùng các cây bút miền núi tham gia viết cho thiếu nhi như Nguyên Bình,
Đoàn Hữu Nam, Đoàn Lư... cũng ít nhiều mở ra một triển vọng mới.
... và nhiều thách thức
Trên thế giới đã
và đang xuất hiện không ít tác phẩm hay viết cho thiếu nhi và tuổi mới lớn như Bao
Công xử án, Phong thần diễn nghĩa, bộ Tôn Ngộ Không (mô phỏng theo các
truyện cổ Trung Quốc) và sau này là Đôrêmon, Harry Potter... Những
truyện tranh này đã làm sôi động không khí đọc sách của trẻ em nhiều nước. Bạn
đọc nhỏ tuổi ở nước ta một thời cũng đã từng say sưa với tủ sách thiếu nhi của
nền văn học Nga (nhất là những cuốn sách in rất đẹp do Nhà xuất bản Cầu vồng
Moskva ấn hành) như Chuyện phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn (Nikolai Nosov), Ở xứ
cỏ rậm (Vladimir Bragin), Chiếc chìa khóa vàng hay chuyện li kì của
Buratino (Aleksey Tolstoy), Thời thơ ấu (Maxim Gorki), Timua
và đồng đội (Gaida)... và các tác phẩm văn học thiếu nhi đặc sắc của
nhiều nước khác như truyện cổ Grim, truyện cổ Andersen, Không
gia đình (Hector Malot)... Ở Việt Nam, điểm qua những tờ báo hiện nay,
có khoảng 600 - 700 ấn phẩm báo và tạp chí nhưng chỉ có rất ít tờ dành cho lứa
tuổi măng non. Dường như mọi người nghĩ rằng, chỉ cần một số tờ Hoạ mi, Nhi
đồng, Thiếu niên tiền phong, Hoa học trò, Khăn quàng đỏ, Mực tím, Áo trắng, Văn
học và Tuổi trẻ... là đủ đem lại những thông tin về học đường và thể hiệnđủ đời
sống tinh thần phong phú của các em. Thực ra, nhu cầu được đọc, được học, được
tìm hiểu các kiến thức khoa học và đời sống từ phía các em là rất lớn. Và dù
vẫn có những tác phẩm viết cho thiếu nhi như đã nêu trên, nhưng số lượng chưa
nhiều và chất lượng chưa đáp ứng được đòi hỏi của đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi. Có
thể nói rằng, thời gian gần đây ở nước ta, văn học thiếu nhi ít được nhìn nhận
một cách bình đẳng so với nhiều mảng văn học khác.
Không ít người
sáng tác có suy nghĩ kì cục là viết cho thiếu nhi hay mấy cũng chỉ là nhà văn...
trẻ con. So với các giai đoạn trước, hiện nay số nhà văn chuyên tâm cho văn học
thiếu nhi trở nên thưa thớt. Một số cây bút trẻ viết được vài tác phẩm cho
thiếu nhi nhanh chóng chuyển sang viết cho người lớn. Điểm lại các giải thưởng,
vài năm trước chỉ mới có tác phẩm Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương
và Miệt
vườn xa lắm của Dạ Ngân được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam
về văn học thiếu nhi và bộ Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh
được tặng thưởng. Từ năm 2006 trở lại đây, không có tác phẩm văn học thiếu nhi
nào được giải của Hội Nhà văn. Đó là điều đáng để chúng ta suy nghĩ.
Có thể nói, sách
cho thiếu nhi đọc ở Việt Nam hiện nay "thừa" nhưng vẫn "thiếu". "Thừa" bởi sự
xuất bản tràn lan truyện tranh nước ngoài trong đó không ít cuốn mang tính bạo
lực, kích động, song lại thiếu các tác phẩm văn học hay, mang tính giáo dục và
mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Có lẽ chưa bao giờ bạn đọc nhỏ tuổi được tiếp
cận với văn học thiếu nhi thế giới kịp thời như bây giờ, trong khi trên các
quầy sách ít thấy tác phẩm hay nào của văn học thiếu nhi trong nước. Trẻ em
hiện nay lại thích đọc truyện tranh hơn truyện chữ và hầu như không đọc thơ...
Văn hóa nghe nhìn lấn át văn hóa đọc, các sản phẩm thời thượng lấn át các giá
trị đích thực - đó là một thực tế tất yếu trong sự vận động phát triển của xã
hội, nhưng phải chăng vì thế mà chúng ta quay lưng lại với văn học nói chung và
văn học thiếu nhi nói riêng?
Viết cái gì và
viết như thế nào cho thiếu nhi?
Đây là câu hỏi
không dễ trả lời đối với những người cầm bút. Theo nhà văn Trần Đức Tiến (người
đạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Bước qua
hai thế giới" do Nhà xuất bản Kim Đồng, Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan
Mạch phối hợp tổ chức gần đây), văn viết cho thiếu nhi của ta còn nghiêm trang
quá, lên mặt "đạo đức" quá, trong khi phẩm chất đầu tiên của nó phải là hồn
nhiên, tự nhiên, gần gũi với đời sống các em. Hai là, văn học thiếu nhi còn
thiếu sự hài hước và trí tưởng tượng. Hài hước giúp các em duy trì được trạng
thái hưng phấn, đọc mãi không chán; tưởng tượng dẫn dắt các em đến những vùng
đất lạ, chân trời lạ, như đi du lịch. Ba là, tốc độ còn chậm - mạch văn, sự
biến hóa của câu chữ và diễn biến của những tình tiết đều chậm - trong khi
nhanh mới tạo ra sự cuốn hút. Trẻ em không thích rề rà, chỉ chậm một chút là sự
chú ý của chúng bị ngắt quãng. Bởi vậy khi viết cho thiếu nhi, người viết cần
tránh những nhược điểm này.
Viết cho thiếu
nhi là lựa chọn không đơn giản. Trẻ em khác người lớn, nhận thức chưa chín,
kinh nghiệm sống chưa có, tâm hồn mỏng manh, trong sáng như cây non. Làm sao
viết để các em đọc thấy đúng là mình, gần gũi với cuộc sống và suy nghĩ, tâm
lí, xúc cảm của mình, không lên gân xơ cứng... - đó là thử thách đối với người
sáng tác. Ở một số tác phẩm viết cho thiếu nhi, quả thực có tình trạng áp đặt
suy nghĩ của người lớn. Có truyện mang tính dạy dỗ như những bài học đạo đức,
công dân. Đã đến lúc người viết cho thiếu nhi phải đổi mới cách viết và cách
nhìn - mỗi một tác phẩm phải là tiếng nói gần gũi với các em, phải là sự cộng
hưởng những tâm tư, tình cảm của các em và mang không khí, nhịp điệu của cuộc
sống hiện đại, chứ không thể áp đặt cái hay của một thời vào mọi thời. Nói cách
khác, người viết phải thực sự hiểu các em và thời đại các em đang sống. Nhà văn
lão thành Thy Ngọc từng cho rằng: "Viết cho thiếu nhi trước hết phải có tính
giáo dục, song lại phải giản dị mà vẫn hấp dẫn. Ngay cả đến giờ, càng viết tôi
càng thấy khó. Bởi hấp dẫn không phải là cầu kì, mới lạ, mà là cách đặt vấn đề
như thế nào. Nhưng trên hết, mình phải hết lòng với các em thì mới viết được.
Phải chăng vì vậy mà những cây viết trẻ hiện nay hình như không mấy tâm huyết
với đề tài thiếu nhi?".
Giải pháp nào để văn học thiếu nhi phát
triển?
Sáng tạo cho
thiếu nhi hôm nay cần một sự nỗ lực đổi mới hết mình. Những người cầm bút viết
cho lứa tuổi này cần phải làm sao sáng về nhận thức và trong về nghệ thuật như
cách nói của nhà văn Lê Phương Liên, Trưởng ban Văn học thiếu nhi của Hội Nhà
văn Việt Nam. Đi tìm một giải pháp cho sự phát triển của văn học thiếu nhi là
điều khó khăn, nhưng cũng vì thế mà cần những suy nghĩ, tìm tòi.
Trước hết, cần
khơi dậy văn hoá đọc. Việc cho trẻ em tiếp cận các tác phẩm văn học thiếu nhi
ưu tú từ nhỏ là một biện pháp hết sức quan trọng góp phần định hướng nhân cách
và phát triển tâm hồn, trí tưởng tượng của trẻ. Trong thời đại ngày nay, làm
sao để các em say mê những trang sách hơn trò chơi game trên máy tính, yêu
thích truyện chữ hơn truyện tranh, đó là việc không dễ dàng và cần có sự quan
tâm sâu sát của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Ở nhiều trường hợp, các
bậc phụ huynh cũng không nên "cắt giảm" thú vui được nghe bố mẹ đọc sách trước
khi đi ngủ của con em mình. Bên cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền cho văn học
thiếu nhi cần được đẩy mạnh. Các cơ quan truyền thông, xuất bản cũng có vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học thiếu nhi.
Nhà văn Tô Hoài
từng nói, sở dĩ văn học thiếu nhi ở ta tồn tại như hôm nay là do chúng ta đang
thiếu một phong trào viết cho thiếu nhi. Muốn tạo ra được phong trào này phải
có nhiều cuộc thi, phải quan tâm và chăm lo bồi dưỡng đội ngũ viết cho thiếu
nhi, có những hỗ trợ thích đáng, kịp thời để tác phẩm có chất lượng đến được
với bạn đọc. Tác giả Dế Mèn phiêu lưu kí, Đảo
hoang đã quả quyết: "Nếu trao giải thưởng một tỉ đồng thì sách thiếu
nhi sẽ hay ngay". Chúng ta chưa đến mức quá bi quan về lực lượng sáng tác cũng
như đối tượng tiếp nhận mảng văn học này, vấn đề là phải tạo ra được một phong
trào viết cho thiếu nhi hiệu quả, thiết thực và lâu dài. Chỉ khi nào tác phẩm
văn học cho trẻ em thực sự được chú ý, được đầu tư và quảng bá mạnh thì mới có
thể thay đổi suy nghĩ của người viết, thúc đẩy một số cây bút tiềm năng dành
nhiều tâm huyết cho mảng đề tài này.
Trên thực tế
những năm gần đây, sự quan tâm dành cho văn học thiếu nhi mới chỉ là bề nổi và
dừng lại ở những hội nghị, hội thảo. Hoạt động trại sáng tác dành cho văn học
thiếu nhi còn quá thưa thớt, ngay như Hội Nhà văn Việt Nam sau 14 năm mới mở
thêm được trại sáng tác. Mong rằng những năm tới, các trại này sẽ được tổ chức
thường xuyên hơn. Các dự án hỗ trợ cho tác giả văn học thiếu nhi cũng rất cần
thiết, như dự án mới đây của Đan Mạch và Nhà xuất bản Kim Đồng.
Ngoài ra, để
khuyến khích các cây bút, chúng ta cần có các giải thưởng thật sự có uy tín,
giá trị, trước hết là giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, chứ không chỉ dừng
lại ở những cuộc vận động sáng tác của một số nhà xuất bản. Việc tham khảo cách
tổ chức giải thưởng văn học thiếu nhi mang tính năng động, có bề dày lịch sử
của một số nước như Mỹ, Canada... thiết nghĩ cũng là việc nên làm.
Ngày nay, do
những tác động của xã hội hiện đại, tâm lý trẻ đã ít nhiều thay đổi và nhu cầu
đọc của các em cũng thay đổi, không giống các độc giả nhí trước đây nữa. Trước
sự biến chuyển mang tính khách quan ấy, các nhà văn, nhà thơ cần tìm tòi đổi
mới cách viết cho phù hợp với thế hệ trẻ thời đại mới, nhưng nhất quyết phải
giữ được tinh thần nhân văn truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam và giá trị
văn chương đích thực, không thể chiều lòng trẻ theo những thị hiếu và nhu cầu
giải trí tầm thường.
Để góp
phần khởi sắc cho văn học thiếu nhi, vai trò của phê bình rất quan trọng, do đó
giới nghiên cứu phê bình cần quan tâm hơn đến mảng văn học này. Ở đây có điều
đáng lưu ý, là lâu nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến lực lượng người lớn viết
cho thiếu nhi, còn thiếu nhi viết cho chính lứa tuổi của mình chưa được chú ý
đúng mức. Một thực tế nữa là tác giả viết cho thiếu nhi phần nhiều xuất hiện ở
miền Nam trong khi miền Bắc vốn có những tác phẩm hay nhưng người viết lại ít.
Trong tương lai, hy vọng sẽ có sự cân đối hơn ở các phương diện này.
Trước khi trông
chờ sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức, việc đổi mới và phát triển văn học thiếu
nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức - vẫn được quyết định bởi tài
năng và tấm lòng của các nhà văn, nhà thơ yêu quý trẻ em và tâm huyết với mảng
đề tài này. Và câu trả lời cho câu hỏi "Bao giờ văn học thiếu nhi lớn mạnh?"
còn tùy thuộc vào sự chung tay của cả một dây chuyền: người viết - nhà xuất bản
- người phát hành, tiếp thị sách và cả xã hội. Văn học thiếu nhi của ta có đứng
vững tại thị trường trong nước, mới mong tiến ra hội nhập với văn học thiếu nhi
thế giới.
Trong khuôn khổ Hội nghị sơ kết thi đua 6 tháng đầu năm 2010 của 6 Đài Phát thanh và Truyền hình của 5 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, 30 cán bộ, nhân viên của 6 Đài đã có chuyến du lịch 3 ngày 2 đêm từ Hải Phòng (Việt Nam) sang Nam Ninh (Trung Quốc). Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây, là một thành phố vùng biên Trung Quốc, địa thế chủ yếu là đồi núi và mới phát triển từ 8 năm nay. Nhưng Nam Ninh thực sự đã để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng những ai một lần tới đây.
5 giờ sáng thứ bảy 3-7-2010, xe ô-tô và hướng dẫn viên du lịch của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Song Nguyễn đưa chúng tôi rời khách sạn Hải Quân - Hải Phòng, theo quốc lộ 5, 18 và quốc lộ 1 vượt qua các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, đến thẳng cửa khẩu Hữu Nghị Quan làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc. Cái nóng mùa hè hầm hập tràn khắp vùng biên giới. Gương mặt những nhân viên hải quan cả bên Việt Nam và bên Trung Quốc lúc nào cũng mang dáng vẻ rất ư là quan trọng, để lộ ra đôi mắt nhìn ai cũng thấy nghi ngờ. Mấy trăm mét dạo bộ qua cửa khẩu quốc tế Việt - Trung với những thủ tục kiểm soát nặng nề càng làm cho bước chân du khách thêm nặng nề... Có lẽ những người có thẻ cười tươi là mấy anh chị hướng dẫn viên du lịch vừa tranh thủ đổi tiền vừa kết hợp bán sim điện thoại di động kiếm lãi và cánh lái xe điện chở du khách khỏi phải đi bộ dưới nắng gắt từ bãi đỗ xe ô-tô tới khu vực làm thủ tục xuất nhập cảnh. 1 tệ Trung Quốc đổi bằng 2.900 đến 3.000 đồng Việt Nam. 1 thẻ sim điện thoại Trung Quốc bán với giá 200.000 đồng Việt Nam, trong đó có 50 tệ trong tài khoản, có thể foji từ Trung Quốc về Việt Nam trong vòng hơn 20 phút liên lạc... Bước chân qua cửa khẩu Hữu Nghị, tôi cảm nhận thấy sự khác biệt trong các kiến trúc xây dựng, trong sự hoành tráng, cổ kính mà phía bên kia biên giới mang lại. Chỉ cách nhau một lằn ranh phân chia lãnh thổ giữa 2 nước, nhưng tôi chạnh lòng buồn tủi khi so sánh bên Việt Nam chúng ta là nhà cấp 4, còn bên Trung Quốc là nhà cao tầng hiện đại.
Xe ô-tô du lịch và hướng dẫn viên Trung Quốc đưa chúng tôi đi tới thành phố Bằng Tường. Hơn nửa giờ xe chạy, chúng tôi vòng vèo qua vùng núi biên giới tỉnh Quảng Tây. Núi không cao nhưng nhọn đỉnh. Bên đường mọc lên cái làng từng được mệnh danh là cái làng giàu có nhất Quảng Tây - làng Ái Khẩu, nơi của những người một thời buôn bán hàng hóa tiểu ngạch, chủ yếu là xe đạp Phương Hoàng và Vĩnh Cửu gia công từ Trung Quốc sang Việt Nam. Họ vượt núi mang hàng sang bên thị trấn Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn. Giờ đây, nhưng ngôi biệt thự này chủ yếu để chứa hàng hóa trung chuyển của các hộ buôn bán cá thể. Dân làng đã trở vào thành phố Bằng Tường mua đất cha lô, dựng nhà để ở lâu dài.
Thị xã Bằng Tường của Trung Quốc giờ cũng là thành phố, tương đương với địa thế của thành phố Lạng Sơn của Viêt Nam. Nghỉ ngơi và ăn trưa tại nhà hàng Quyên Quyên ở thành phố Bằng Tường xong, chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình tới thành phố Nam Ninh theo con đường cao tốc Nam Hữu. Con đường này còn có tên là đường ASEAN. Để đón đầu việc giao thương giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, Trung Quốc đã xây dựng con đường cao tốc ASEAN dài 230 km với 4 làn đường mỗi bên, nối liền Bằng Tường với Nam Ninh. Suốt dọc đường này đều có trang trí hoặc dựng cờ của các nước ASEAN. Trên tuyến đường này có 2 trạm dừng chân. Tại mỗi trạm, có cây xăng, nhà vệ sinh, quầy hàng giải khát để người đi đường có thể nghỉ chân, thư giãn. Đoạn đường dài 230 km nhưng với chất lượng tốt, cảnh quan đẹp, nên chỉ mất gần 3 giờ và không tạo cảm giác mệt mỏi. Nhân viên trạm thu phí trên tuyến đường này đều là các cô gái trẻ dưới 25 tuổi, mặc đồng phục màu xanh rất đẹp, luôn nở nụ cười tươi, dễ dàng xua đi cái mệt nhọc, căng thẳng của các anh tài xế khi qua đó. Điều này chưa hề có ở các tuyến đường Việt Nam. Phí giao thông của tuyến đường cao tốc này thu qua thẻ từ. Mức phí tùy từng ;oại phương tiện. Xe công được giảm một nửa phí. Các xe cấp cứu, cảnh sát, quân đội được miễn phí.
Nam Ninh nằm gần biên giới Việt - Trung, là thành phố sinh thái của thế kỉ 21, là thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, nơi tụ cư của 12 dân tộc như: Choang, Hán, Miêu, Dao..., trong đó dân tộc Choang có nền văn hóa - nghệ thuật dân gian lâu đời nhất. Người Choang có trang phục rực rỡ, giỏi múa, hát dân ca. Nam Ninh được du khách đánh giá là nơi có mùa đông không khô héo, hoa không phải mùa xuân cũng nở rộ. Cuối buổi chiều, chúng tôi đặt chân tới quảng trường Trung tâm Hôi chợ ASEAN. Khu nhà có kiến trúc độc đáo, với nóc nhà mang hình bông hoa dâm bụt 12 cánh, thứ hoa đặc trưng của Nam Ninh, biểu tượng đẹp cho tình hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng có thể coi đó là biểu tượng của thành phố Nam Ninh. Xung quanh quảng trường là khu vực mới xây dựng, khá thoáng rộng, nằm ở phía tây của thành phố. Sau đó, chúng tôi được đưa tới tham quan hiệu thuốc Đồng Nhân Đường và ăn tối tại một nhà hàng ngay trong khu trung tâm phía đông thành phố.
Đến Nam Ninh, chúng tôi ở khách sạn 3 sao High Class, cạnh nhà ga xe lửa, ngay trong khu vực trung tâm thành phố. Từ trên tòa nhà khách sạn cao tầng này có thể ngắm cảnh một góc thành phố Nam Ninh đang đổi mới từng ngày. Buổi tối Nam Ninh rực sáng ánh đèn màu huyền ảo. Đèn chiếu lên các tòa nhà. Đèn viền những con đường cầu vượt. Đừn trang trí các biển hiệu, nhà hàng. Đèn hắt sáng từ các ô cửa những tòa nhà cao tầng. Đèn ling linh trên những đường phố dành cho người đi bộ. Vẫn có thể bắt gặp những cảnh bán hàng rong, bán hàng ăn vỉa hè, những trò đỏ đen, cờ bạc bịp, những cô gái đánh giày mặc áo như không mặc,...
Sau bữa ăn sáng tự chọn tại tầng 3 của khách sạn, hơn 9 giờ (giờ Trng Quốc) sáng chủ nhật 4-7-2010, xe đưa chúng tôi đi qua nhiều đường phố. Thành phố Nam Ninh đã cấm lưu thông xe máy được 10 năm. Phương tiện thay thế cho xe máy là xe buýt, xe đạp điện và xe đạp, trong đó mạng lưới xe buýt dày đặc là nhân tố quyết định cho việc thành công của việc cấm xe máy. Nam Ninh có nhiều xe đạp điện lưu thông trên đường. Xe không đẹp, không sang trọng, nhưng nhỏ gọn. Hầu hết các phương tiện giao thông đều được sản xuất tại Trung Quốc. Rất hiếm thấy xe nhập ngoại nguyên chiếc. Với các phương tiện giao thông, cứ mỗi năm chủ xe phải đem phương tiện đi đăng kiểm một lần. Nếu xe nào không đạt tiêu chuẩn về khói thải hoặc thời gian thì sẽ bị cấm lưu thông. Xe nào hết hạn nhưng còn tốt thì được gia hạn thêm 3 năm nữa. Chính vì thực hiện việc đăng kiểm tốt nên trên đường phố không có hiện tượng xả khói mù mịt như những xe buýt ở các thành phố Việt Nam. Hai bên đường và các ngã tư đều có các camera quan sát. Nếu phương tiện nào vi phạm thì sẽ bị thu hình, đến cuối năm, khi chủ xe đem đi đăng kiểm thì sẽ bị phạt. Chính cách quản lí hiện đại này đã làm giảm số lượng cảnh sát giao thông và tránh được các hiện tượng tiêu cực của cảnh sát giao thông. Chúng tôi không thấy một bóng dáng anh cảnh sát nào xuất hiện trên đường. Trong thành phố Nam Ninh, có một cầu vượt 3 tầng, trông rất hoành tráng, hiện đại. Điểm ấn tượng nhất là cây cầu này được thi công hoàn tất trong vòng 7 tháng. Một điều không tưởng so với thời gian thi công cầu đường ở Việt Nam. Thành phố Nam Ninh có rất nhiều tòa nhà cao hàng chục tầng, với kiến trúc đẹp, tiện nghi hiện đại. Tòa nhà cao nhất thành phố có 59 tầng, là khách sạn quốc tế Nam Ninh, trên nóc nhà có một quả cầu khổng lồ. Tại Nam Ninh, hiện chỉ còn rất ít những nhà thuộc kiểu nhà riêng như ngày xưa. Những khu nhà này cũng sắp được giải tỏa thay cho các nhà chung cư cao tầng. Theo luật của Nam Ninh cũng như Trung Quốc, mọi người chỉ có thể mua và sở hữu nhà trong 70 năm (một đời người). Hết thời hạn, người mua phải trả lại cho công ty bất động sản phá dỡ, xây lại và bán lại. Điều này, được giải thích ở các khía cạnh tích cực như con cái cũng phải vận động, các công ty bất động sản có trách nhiệm với khu đất, khu nhà mà mình đã thuê của Nhà nước và đã bán cho người dân. Một điểm khác biệt cơ bản nữa là cách quản lí hộ khẩu. Theo luật của Nam Ninh, bất kỳ ai mua một căn nhà chung cư được phép đăng kí 04 nhân khẩu. Mua một căn hộ có thể được đăng kí hộ khẩu cho chồng, vợ, bố, mẹ. Riêng con thì đương nhiên được đăng kí hộ khẩu theo bố mẹ. Đặc biệt là, người mua nhà có thể cho suất đăng kí nhân khẩu cho người khác. Đây là một giải pháp kích cầu rất tốt và tránh được rắc rối như Việt Nam theo kiểu có nhà mới cho đăng kí hộ khẩu và để đăng kí hộ khẩu thì cần phải có nhà như trước đây. Giá thuê đất hợp lí, cùng với chính sách hợp lí, nên chỉ trong 8 năm đã có rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đổ tiền vào đầu tư bất động sản tại Nam Ninh. Nhưữg khu nhà cũ sẽ bị phá dỡ để xây các chung cư, văn phòng hiện đại. Lác đác trong thành phố vẫn thấy những khu nhà chung cư đang được khẩn trương xây mới.
Bên cạnh việc thu hút đầu tư, chính quyền thành phố Nam Ninh cũng rất chú trọng đầu tư cho môi trường. Song song với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng phương tiện giao thông và khí thải, chính quyền Nam Ninh đã đầu tư rất nhiều vào cây xanh. Có thể nói, nhìn từ trên cao xuống, thấy một nửa diện tích thành phố được phủ bằng cây xanh. Mặc dù vẫn đang trong tiến trình phát triển, rất nhiều công trình đang xây dựng nhưng khi đi bộ trên đường, khách bộ hành không cảm thấy bị ô nhiễm, ngột ngạt. Chúng tôi dừng chân tại công viên Nam Hồ. Công viên rộng 192 héc-ta. Công viên này còn được gọi là công viên Si Đa vì ở đây chủ yếu trồng cây si và cây đa. Công viên này đang sưu tập nhiều loại cây rừng ở nhiều nơi về trồng, có cả những cây mang từ Việt Nam sang. Dạo chơi và chụp ảnh lưu niệm xong, chúng tôi lại tới công viên Thanh Tú Sơn - nơi được coi là lá phổi của thành phố Nam Ninh, với cảnh đẹp tự nhiên có diện tích khoảng 730 héc-ta, là nơi nghỉ mát lí tưởng của người dân Trung Quốc. Nơi đây, chúng tôi lên thăm chùa Quan Âm đang được xây dựng mới khá đồ sộ, ngắm nhìn ngôi chùa Thái Lan, trèo lên tháp Long Tượng, ngồi chơi bên hồ Thiên Trì,... Tiếp đó, xhusng tôi được đưa tới Cung Nam Châu, nơi trưng bày những sản phẩm ngọc trai nổi tiếng của thành phố Bắc Hải và ăn trưa tại đó. Sau đấy, chúng tôi còn vào thăm một nơi trưng bày các sản phẩm chế tác từ đá quý, hàng mĩ nghệ Trung Quốc. Buổi chiều, mọi người trong đoàn chúng tôi í ới rủ nhau đi chơi phố, tự do mua sắm tại các tổ hợp siêu thị. Nam Ninh thực sự ấn tượng, để lại cảm tình cho những ai qua đây không phải chỉ là việc mua sắm, mà là sự phát triển, là quy hoạch, là quản lí đô thị, là giao thông, là cây xanh, là cách làm du lịch ...
8 giờ sáng thứ hai 5-7, sau bữa sáng, chúng tôi rời khách sạn High Class và lên xe trở lại cửa khẩu Hữu Nghị Quan làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam. Xe đón Quý khách về thành phố Lạng Sơn ăn trưa tại nhà hàng Thảo Nguyên. Đầu giờ buổi chiều, mọi người trong đoàn, nhất là các bạn đồng nghiệp ở các Đài phía Nam, tíu tít rủ nhau vào mua sắm tại chợ Đông Kinh. Trong chợ hầu hết là hàng hóa từ Trung Quốc mang sang. 3 giờ chiều, chúng tôi lên xe xuôi quốc lộ 1 về Hà Nội và chia tay nhiều bạn đồng nghiệp dưới chân cầu Thanh Trì. Ăn tối tại nhà hàng Monh Ngọc - Hải Dương xong, chúng tôi về tới Hải Phòng, thì trời đã vào khuya. Tôi về nhà và mở xem blog của mình, phúc đáp những comments bạn bè gần xa gửi tới. Trong lòng tôi xốn xang bao cảm xúc sau mấy ngày xa nhà. Nam Ninh, một thành phố vùng biên của Trung Quốc cũng cho ta nhiều điều đáng để học hỏi. Tôi tin chắc rằng nếu mình chưa đi thì sẽ chưa biết nhiều về Nam Ninh.
Từ câu chuyện
của ông Vân "ôm xác vợ", đi ngược lại những thông tin do hệ thống
truyền thông Việt Nam phát trên các kênh báo chí lâu nay có liên quan đến nhân
thân hay chuyện riêng tư của cá nhân, không biết có nhà báo hay nhà tâm lí học,
xã hội học...đưa ra câu hỏi "truyền thông Việt Nam hiền hay ác"?
Đánh
"hội đồng" hay "a dua"?
Không hiểu vì lí
do gì mà tự dưng thông tin về "ông ôm xác vợ" được gần như các kênh
truyền thông báo chí đồng lọat đăng tải một cách hào hứng với nhiều nội dung,
từ tin ngắn, điều tra mấy kỳ, phỏng vấn nhân vật "ôm xác vợ"... đến
những bài nghiên cứu mang tính học thuật đông - tây, kim - cổ, kể cả những bài
tranh luận "ái..." hay không "ái..." do các phóng viên, nhà
khoa học, nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn, sản xuất phim.... tham gia.
Không kênh
truyền thông lớn nào tỏ ra "lép" với đồng nghiệp. Nhưng gần như không
có ai quan tâm đến một vấn đề là "hậu" của câu chuyện sẽ ảnh hưởng ra
sao đến sự riêng tư của gia đình nhân vật mà gần nhất là đứa trẻ còn đang tuổi
vị thành niên- tuổi có luật riêng bảo vệ. Nó sẽ ra sao khi chuyện nhà bị
"phanh phui", mà bản thân đứa trẻ chưa đủ năng lực trí tuệ hiểu tại
sao lại như thế.
Ngược lại trước
đó, chắc không ai quên vụ "scandal" hoa hậu Việt Nam chưa tốt nghiệp
phổ thông. Chuyện người lớn sai - Ban tổ chức, nhưng tất cả mọi thông tin cứ
nhăm nhăm vào cô gái, moi móc cả những chuyện nhỏ bất hòa với bạn học, điểm
kém, trốn học... Mà chuyện đó ai từng đi học làm gì không có, nhưng qua truyền
thông, nó trở thành "bằng chứng" cho sự không ngoan của cô gái. May
mà cô gái đứng vững và vượt qua để mà hướng về phía trước, không như một số
trường họp khác đau lòng hơn.
Những người làm
báo của thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm trước chắc không quên vụ báo chí hồi đó
đã hợp lực "đánh" một cán bộ Cảnh sát hình sự mắc khuyết điểm. Tòa
chưa tuyên tội ông ta,nhưng báo chí đã tuyên án "tử" với cô con gái
ông ta đang học trung học phổ thông. Chỉ vì không thể chịu nổi những bài báo
liên tiếp "bêu xấu" ba cô và đến trường thì bạn bè nhìn cô bằng ánh
mắt khinh miệt, cô đã nhảy lầu tự tử và chết.
Hay vụ án một sĩ
quan cảnh sát dính đến tội phạm ma túy. Báo chí đưa tin cứ "hồn
nhiên" nêu cả danh tính con cái họ tên gì học trường nào... Và kết quả là
mấy đứa trẻ không chịu nổi áp lực. Cũng may là những đồng nghiệp của người cảnh
sát đó đã không bỏ rơi bọn trẻ cho dù cha chúng có tội, đã cưu mang và bảo vệ
chúng không bị ảnh hưởng tâm lí, tinh thần,tiếp tục học và trưởng thành.
Có lẽ truyền
thông không thời nào như thời này có sự cạnh tranh thông tin quyết liệt, nên có
một tin gì dù nhỏ xíu cũng được "thổi" thành sự kiện, và các kênh
truyền thông lao vào, sợ chậm chân, sợ thua kém đồng nghiệp, thậm chí có người
còn lấy đó như một cách tăng tiara số báo hay là dịp để tạo tên tuổi phóng viên.
Và khi truyền
thông đã đồng lọat để mắt đến, thì lúc này việc phán xét sự việc sẽ không quan
trọng,chỉ cần "moi" được càng nhiều thông tin càng tốt,"thượng
vàng, hạ cám", ngóc ngách, xó xỉnh... có gì là lôi ra bằng sạch sành sanh,chưa
kể có nhà báo còn thêm thắt "ít xít ra nhiều", "thêm mắm, dặm
muối", dùng lời lẽ "đao to búa lớn", không ai để ý đến cái
"hậu" của thông tin sẽ như thế nào.
Truyền
thông việt Nam hiền hay ác?
Nếu như ai đó để
ý khi xem, nghe, đọc truyền thông của nước ngòai, sẽ thấy họ có sự cẩn trọng
khi đưa những thông tin thuộc về nhân thân, và nhất là có liên quan đến trẻ vị
thành niên. Khi một kẻ tình nghi vi phạm pháp luật quốc gia bị bắt, chính những
người thi hành công vụ đã che chắn thậm chí cho đương sự túi che mặt, tránh
những ống kính của truyền thông. Với họ, khi tòa chưa tuyên án, chưa có tội, và
đang là người ở diện tình nghi cần xét hỏi, điều tra, nếu họ không có vi phạm,
thì nhân thân họ phải được bảo vệ, kể cả hình ảnh.
Còn với trẻ vị
thành niên,nếu có dính đến pháp luật, việc truyền thông chụp ảnh chỉ là những
trường hợp đặc biệt với sự cho phép của luật pháp, và một số cơ quan bảo vệ
quyền trẻ em, vì nếu đưa hình ảnh đứa trẻ không theo luật, chính tờ báo hay
phóng viên sẽ bị luật pháp quy tội, chưa kể các nhà họat động vì quyền trẻ em
của quốc gia hay quốc tế sẽ không tha thứ.
Còn với những
trẻ vị thành niên mà cha mẹ vi phạm pháp luật, thì có những vùng cấm của luật,
không được xâm phạm, gây ảnh hường đến tâm, sinh lí và tương lai của đứa trẻ.
Truyền thông cũng phải tuân theo một cách nghiêm ngặt.
Với ngay cả cách
dùng từ để chỉ kẻ bị tình nghi vi phạm pháp luật, truyền thông nước ngòai cũng
tránh dùng những từ mang tính nhục mạ hay thiếu tôn trọng kẻ đó. Và ngay cả khi
tòa tuyên án, nếu có đưa tin họ vẫn kèm theo trước cái tên là Mr, Mrs, Miss...
Nhưng truyền
thông Việt Nam của ta thì có khác. Các ống kính của truyền thông thì tìm mọi
cách để có một "cận cảnh" kẻ bị tình nghi đang được cơ quan thi hành
pháp luật tạm bắt giữ. Và ngôn từ xử dụng khi thông tin thì mặc sức đưa những
chữ như "tên...", "thị...", "hắn...", thậm chí
còn mạnh mẽ hơn tuyên án trước cả tòa như "kẻ sát nhân", "kẻ thủ
ác",...
Và với trẻ vị
thành niên thì hình như không có ranh giới nào gọi là vùng cấm. Có thể thấy
hình ảnh những đứa trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật trên hầu hết các kênh
truyền thông mỗi khi có vụ việc nào liên quan đến bọn trẻ, từ ăn cắp vặt, giật
đồ, móc túi, đua xe... đến hút chích ma túy, hiếp dâm, giết người....
Nếu sau ít ngày,
vài tháng, vài năm chúng được trở về với xã hội, liệu có "di chứng"
gì không về tâm lí khi nếu ai đó vô tình hay cố ý đưa ra hình ảnh không mấy đẹp
của chúng? Mà cái "dư luận" về thành tích bất hảo của một cá nhân
trong xã hội Việt Nam ta vẫn còn đầy thiên kiến, rất khó gột rửa.
Không biết có ai
nghĩ nếu sau này những đứa trẻ đó lớn lên, được cải tạo giáo dục tốt, làm một
người lương thiện hay thậm chí có thể trở thành một công dân thành đạt... Chỉ
vì một trang báo xưa có in hình ảnh mình, thì nó sẽ ảnh hưởng như thế nào với
họ và cả với con cháu của họ?
Luật pháp quy
định có thể xóa bỏ án tích trong một thời gian nhất định sau khi thi hành án,
nhưng truyền thông là "giấy trắng, mực đen","bút sa gà
chết", là hình ảnh sống động, sự thật 100% , lại được lưu bằng đủ hình
thức, thì sao xóa được? Nhất là khi họ vô tội.
Luật báo
chí có phải vẫn còn thiếu sót?
Cho dù Luật báo
chí - xuất bản của Việt Nam và những quy định, văn bản quy phạm pháp luật,
những thông tư, nghị định, văn bản dưới luật có sửa đổi và cập nhật theo
những phát triển của truyền thông, nhưng có lẽ vẫn thiếu những chi tiết cụ thể.
Ví dụ như việc
con gái người cán bộ cảnh sát hình sự vi phạm pháp luật kia tự tử chết, trách
nhiệm đó thuộc về ai? Hay giả dụ như cô hoa hậu kia không chịu nổi dư luận do
truyền thông đăng tải thông tin về mình, do tuổi còn quá trẻ, mà hành động
thiếu lí trí thì truyền thông hay gia đình hay bản thân cô ta chịu trách nhiệm?
Và cậu bé học lớp 6 con "ông ôm xác vợ", đang yên bình bỗng nay bị
truyền thông làm kinh động trí óc non nớt, gây sang chấn tinh thần, ai sẽ chịu
trách nhiệm hậu quả nếu có?
Nếu như truyền
thông đã vội thay tòa án kết tội người bị tình nghi trước cả cơ quan diều tra,
cơ quan pháp luật thì sẽ ra sao nếu như người đó vô tội khi họ không thể đi
thanh minh với từng người, báo nói sai, tôi vô tội...
Có thể luật còn
thiếu, chưa theo kịp những phát sinh của ngành truyền thông, nhưng không phải
vì thế mà những người làm báo có thể "để quên" lương tâm hay một chút
trắc ẩn, nhân hậu của mình,vì lợi ích tức thời, để có thể đưa thông tin "hiền"
hơn, nhân văn hơn.
HOÀI KHÁNH:
Nhà thơ Lê Anh Hoài đã có lần giới thiệu về nhà thơ Mai Văn Phấn như sau:
"Nhiều người nghĩ cách tân thơ là làm mới về hình thức, nhưng Mai Văn Phấn
đã chứng minh sức sống của chữ "cách tân" bằng việc cốt tuỷ: nghĩ khác,
cảm khác. Dường như Phấn để cho thơ kéo các giác quan mình đi, với một cuộc chu
du mê mẩn đầy ngẫu tượng, ngẫu thanh... Mọi điều trong thế giới này, vô phân
biệt, đều trở thành một phần của thơ Phấn. Thế nên, có thể thấy "Tay này, đúng
tay trái/ Đã mỏi mệt mở cổng từ sớm/ Vung nhẹ lúc phân chim rơi vô tình./ Còn
tay kia/ Giơ lên cách đây một giờ/ Lúc mọi người biểu quyết/ Có việc phải vào
biên bản..." lại đứng chung với "Thân dâng/ Hương thơm ngon
ngọt/ Con chào mào em/ Khoét rỗng môi anh/ Và vỗ cánh/ Ngậm anh đi
gieo hạt...". Nhưng cuộc dạo chơi của thơ Phấn,
không rơi vào vơ vẩn, ngơ ngẩn, bởi nó có thần thái của tuý quyền. Nghĩa là
biết hết nhưng buông hết..." (Báo Tiền Phong Cuối Tuần, số 1, ra
ngày 8-1-2010). Mỗi bạn đọc có thể sẽ có những cảm nhận riêng khi tiếp cận thơ
Mai Văn Phấn. Blog Hoài Khánh xin chuyển tới bạn yêu thơ gần xa một tác phẩm
mới nhất của nhà thơ Mai Văn Phấn được rút từ tập thơ Hình đám cỏ, gồm 9
nhịp, chưa xuất bản.
Những
năm qua, trên sóng phát thanh Việt Nam, loại hình câu chuyện truyền thanh
vẫn được duy trì, nhưng dễ thấy tình trạng bị suy giảm. Thính giả hôm nay
không còn hào hứng đón nghe câu chuyện truyền thanh như trước nữa. Có quá nhiều
loại hình giải trí trên những phương tiện truyền thông hiện đại đã lấy đi khá
nhiều thính giả của câu chuyện truyền thanh. Dường như câu chuyện truyền thanh
đang bị ngủ mê, cần được đánh thức.
1. Khó thống nhất quan niệm về câu chuyện truyền
thanh.
Quan niệm cho câu chuyện truyền thanh là một thể loại
báo chí, đã biến câu chuyện truyền thanh thành hoạt cảnh tuyên truyền cổ động
khá thô thiển. Những cuộc vận động chính trị như tuyên truyền bầu cử, tòng quân,
nộp thuế nông nghiệp, thủy lợi phí, vận động thuyết phục di dân cho công tác
giải phóng mặt bằng ... được đưa vào câu chuyện truyền thanh rất khiên cưỡng, sơ
giản, thậm chí kệch cỡm, thiếu sức thuyết phục. Câu chuyện truyền thanh vô hình
chung lấy hình thức diễn kịch để tuyên truyền chủ trương, chính sách. Trong câu
chuyện truyền thanh, yếu tố cốt truyện có phần quan trọng. Nó bám
sát vào những đề tài tương đối cụ thể, nhưng là một yếu tố không
thể thiếu được để cấu thành nội dung câu chuyện truyền thanh. Cốt
truyện và ngôn ngữ đối thoại hóa là những căn cứ cơ bản để khẳng
định thể loại câu chuyện truyền thanh là nghệ thuật chứ không phải
là một thể loại báo chí.
Quan niệm coi câu chuyện truyền thanh là một dạng văn
nghệ trên sóng phát thanh, tự nhiên khoanh vùng cho người làm báo phát thanh.
Ai làm việc ở ban biên tập văn nghệ thì nên hoặc bắt buộc phải làm câu chuyện
truyền thanh, còn những phóng viên, biên tập viên ở các ban biên tập khác không
cần quan tâm đến câu chuyện truyền thanh nữa.
Quan niệm rằng câu chuyện truyền thanh là một dạng
kịch ngắn truyền thanh, thì phát sinh tình trạng tìm dựng những vở kịch ngắn
sân khấu đưa hình thức truyền thanh để dàn dựng chương trình. Thực tế tìm kịch
bản sân khấu ngắn quá hiếm. Quan niệm này cũng buộc đối tượng sáng tác phải viết
kịch bản câu chuyện truyền thanh như mổ vở kịch ngắn trên sân khấu vậy. Câu
chuyện truyền thanh có thể có xung đột gay gắt và cũng có thể không
có xung đột nhưng vẫn được thính giả yêu thích. Xung đột không phải
là một đặc trưng, một yếu tố bắt buộc của câu chuyện truyền thanh. Việc
xác định những đặc trưng đó rất cần thiết, tạo cơ sở cho việc sáng
tạo những tác phẩm trên sóng phát thanh...
Quan niệm khẳng định câu chuyện truyền thanh là một
thể loại tổng hợp, vừa có tính báo chí vừa có tính văn nghệ, có
phần đúng hướng hơn, song nếu sa đà vào nội dung thông tin tuyên truyền thời sự
chính trị sẽ làm cho câu chuyện truyền thanh không có giá trị lâu bền và ít được
coi trọng giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. Thế mạnh của một câu chuyện
truyền thanh là ở chỗ, nó vừa sử dụng một cách có hiệu quả những
ưu thế của nghệ thuật truyền thanh, vừa bám sát những đề tài sống
động trong cuộc sống. Người nghe câu chuyện truyền thanh thường có cảm
giác mình đang sống với những nhân vật và hoàn cảnh trong câu chuyện.
Họ cảm thấy hình như mình đã từng gặp ở đâu đó những nội dung tương
tự và qua nội dung ấy liên hệ với thực tế quanh mình.
2. Nguồn kịch bản câu chuyện truyền thanh quá thiếu.
Tác giả câu chuyện truyền thanh trước đây là những nhà
văn, nhà soạn kịch. Nhưng đội ngũ này giờ hầu như đã già yếu và có không ít người
buông bút từ lâu. Giờ đây, tác giả câu chuyện truyền thanh chủ yếu là dân nhà
Đài tự cung tự tác, viết sao dùng vậy. Kịch bản có nhưng yếu về cả nội dung và
hình thức. Những tác giả nhà Đài chủ yếu là các phóng viên, biên tập viên văn
nghệ. Họ có nhiệt huyết nhưng thiếu kĩ năng sáng tác. Sáng tác một câu
chuyện truyền thanh, trên cơ sở vốn sống của mình, tác giả lựa chọn
những chi tiết, những tình huống và nhân vật điển hình để hư cấu nên
một câu chuyện. Quá trình sáng tác này nêu có điểm riêng biệt thì
chính là ở chỗ, tác giả câu chuyện truyền thanh thường bám sát vào
những đề tài có ý nghĩa thời sự để xây dựng tác phẩm của mình. Sáng
tác lại là hoạt động sáng tạo nghệ thuật, khác hẳn những bước tác nghiệp của người
làm báo phát thanh.
Sáng tác câu chuyện truyền thanh khó và không phải ai cũng
sáng tác được, buộc họ phải chuyển sang hướng chuyển thể Câu chuyện truyền
thanh từ các thể loại khác - thông thường nhất là truyện ngắn. Đó
là những chuyện có xung đột, có kịch tính cao hoặc những truyện nêu
lên được những vấn đề thời sự đang được mọi người quan tâm, phù hợp
với nhiệm vụ tuyên truyền của Đài. Truyện ngắn đăng trên báo chí nhiều,
nhưng không phải truyện nào cũng có thể mang ra chuyển thể thành câu chuyện truyền
thanh được. Công việc của người chuyển thể thực chất là sáng tạo
lại. Căn cứ vào những đặc trưng truyền thanh, người chuyển thể phải
chuyển hóa từ ngôn ngữ tự sự hoặc ngôn ngữ đối thoại thành tự sự
và đối thoại hóa của truyền thanh. Quá trình sáng tạo ra kịch bản
của câu chuyện truyền thanh đã mang đầy đủ những đặc trưng của sáng
tạo nghệ thuật. Trong đó, tác giả đã vận dụng vốn sống, kiến thức
của mình để tái hiện hiện thực thông qua những hình tượng mang tính
kịch.
Biên tập viên có thể để lại dấu ấn phong cách của
mình trong quá trình này. Ngoài việc khai thác kịch bản có đề tài,
chủ đề thích hợp, biên tập viên còn phải cắt xén, sửa đổi tình
tiết và lời thoại nhằm nâng cao chất lượng kịch bản. Trên cơ sở nắm
rõ giọng nói của từng diễn viên, biên tập viên có trách nhiệm mời
họ tham gia thể hiện và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức thu than
và chỉ đạo diễn xuất sao cho đúng với tinh thần của kịch bản. Tiêp
theo là khâu pha trộn nhạc và tiếng động, viết lời giới thiệu để
tạo thành một chương trình hoàn chỉnh.
Cùng với lời nói, âm nhạc và tiếng động là những
phương tiện để chuyển tải nội dung trong câu chuyện truyền thanh. Khi
chọn nhạc cho câu chuyện truyền thanh, người ta thường chỉ chọn những
đoạn nhạc tương đối phù hợp với tính chất chung của mỗi đoạn trong
câu chuyện. Riêng về tiếng động, câu chuyện truyền thanh sử dụng nhiều
những tiếng động nhằm tạo ra một không khí gần gũi với đời sống.
Biên tập viên càng có kiến thức và trình độ đa dạng, câu chuyện
truyền thanh càng sinh động và hấp dẫn. Thực tế hiện nay, câu chuyện
truyền thanh bị hao hụt thính giả một phần đáng kể do lỗi của người biên tập,
dàn dựng. Sự lười biếng pha âm, pha nhạc, trộn tiếng động, thiếu chu đáo khâu
trao đổi với diễn viên, khâu thu mộc, chưa kết hợp ăn ý với kĩ thuật viên để
khai thác kĩ xảo âm thanh trong quá trình dàn dựng thu thanh,... dẫn tới tình trạng
đẩy Câu chuyện truyền thanh xa lạ dần với người nghe đài.
4. Diễn xuất câu chuyện truyền thanh tưởng dễ mà khó.
Chuyển hóa từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ văn học
sống động của truyền thanh là một yêu cầu khách quan, là một quá
trình sáng tạo nghệ thuật. Diễn viên có thể thêm vào những từ,
những chữ mà trong kịch bản hoàn toàn không có và phải biết xử lý
tiết tấu ngôn ngữ để nhằm làm cho câu chuyện trở nên sống động. Tất
nhiên, sự sáng tạo phải trên cơ sở nắm vững những đặc rưng của
truyền thanh và phù hợp với tính cách và nội dung câu chuyện. Khi
diễn xuất câu chuyện truyền thanh, người ta ưu tiên những chất giọng
tự nhiên để nhằm tạo ra một không khí gần với đời thực.
Ngôn ngữ tự sự là lời dẫn chuyện hoặc lời độc
thoại và ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật trong câu chuyện truyền
thanh giản dị, gần với đời thường. Câu chuyện truyền thanh chấp nhận
những cộng tác viên không chuyên (mà vẫn gây được hiệu quả). Như vậy,
ngôn ngữ và diễn xuất của câu chuyện truyền thanh gần gũi với đời
thường.
Đội ngũ diễn xuất thường được lựa chọn từ những diễn viên
kịch nói chuyên nghiệp có đài từ đẹp. Nhưng do thiếu kịch bản, thù lao thấp, nên
họ không mặn mà với câu chuyện truyền thanh nữa. Nhà Đài cũng không thể duy trì
một đội ngũ cộng tác viên chuyên diễn xuất câu chuyện truyền thanh như trước nữa.
Thế là, để tiện cho việc dàn dựng câu chuyện truyền thanh, một số phát thanh
viên, phóng viên của Đài được mời tham gia diễn xuất câu chuyện truyền thanh.
Không phải đối tượng này không diễn xuẩ được, nhưng không phải lần diễn xuất
nào cũng hay. Khâu đánh giá chất lượng rơi vào tình trạng hạ thấp thước đo và
chất lượng chương trình bám vào đó trượt đốc.
5. Cách làm
cũ tạo sinh khí mới cho câu chuyện truyền thanh.
Ngành
phát thanh Việt Nam từ lâu có một đội ngũ tác giả, đạo diễn câu chuyện truyền
thanh. Có người vừa nghỉ hưu, có người đã khuất bóng, có người chuyển sang làm
cán bộ quản lí hoặc không còn làm công việc biên tập văn nghệ nữa. Xa dời công
việc biên tập, dàn dựng câu chuyện truyền thanh, họ cũng ít gắn bó với thể loại
này nữa. Hi vọng lại có những trại sáng tác, chuyển thể câu chuyện truyền thanh
như trước đây, để tập hợp, thu hút lại lực lượng này nhằm có được một khối
lượng kịch bản nhất định.
Đội ngũ kế cận thì có nhưng chưa đủ mạnh. Họ không thiếu năng
lực thẩm định và khai thác kịch bản hoặc tác phẩm để chuyển thể câu chuyện truyền
thanh. Cái mà họ thiếu là kĩ năng và bản lĩnh công việc vì chưa được đào tạo kĩ
lưỡng về việc này. Tự họ phải mày mò để đúc rút kinh nghiệm. Sách nghiệp vụ cho
công việc này đã hiếm và cũng không được tái bản. Mong sao lại có những đợt tập
huấn nghiệp vụ sáng tác, chuyển thể, biên tập, dàn dựng câu chuyện truyền thanh
như trước đây cho những người đang làm nghề có điều kiện được đào tạo kĩ, đào
tạo lại và có thể từ đây lại có một lượng kịch bản câu chuyện truyền thanh ra
đời.
Hiện nay thiết bị kĩ thuật hiện đại hỗ trợ khá nhiều cho
việc biên tập, dàn dựng, nhưng lại nảy sinh cách làm cẩu thả, cắt bước, thiếu đầu
tư trí tuệ, công sức trong khâu đạo diễn, pha âm. Tôn trọng và bảo đảm đúng quy
trình biên tập và dàn dựng, chắc chắn câu chuyện truyền thanh hôm nay sẽ đạt chất
lượng nghệ thuật tốt hơn.
Câu chuyện truyền thanh có những đặc trưng phương pháp
riêng biệt bởi nó là một thể loại nghệ thuật tổng hợp nằm trong phương
thức kịch. Câu chuyện truyền thanh còn là một thể loại văn nghệ thông
tin đại chúng, nên có thể dung nạp những ưu thế của các hình thức
khác như văn học, kịch truyền thanh, điện ảnh,... Ngoài ra, câu chuyện truyền
thanh còn có khả năng bám sát những đề tài thời sự giống như những
thể loại báo chí, với phương thức biểu hiện sống động, linh hoạt.
Đó là điều mà không phải thể loại văn nghệ nào cũng có thể có
được. Tin rằng câu chuyện truyền thanh sẽ tìm lại được một thời vang bóng của
mình.
Một vóc dáng rất
đàn ông, một đôi mắt hơi u uẩn buồn, anh không có gì đặc biệt lắm ngòai việc là
người Việt Nam duy nhất trong nhóm lữ khách du lịch đi lên núi Bạch Mã. Gần đến
giờ khởi hành, sếp tôi đưa anh ra xe và dặn dò tôi một câu nửa thân mật, nửa
"lệnh": "Chăm sóc chu đáo anh bạn thân của anh nghen chú
mày". Tôi chào anh với vẻ hơi kính cẩn, bạn sếp mà, nhưng anh khóat tay dễ
dãi: "Tự nhiên. Chú làm việc của chú đừng bận tâm đến anh". Anh nhảy
lên xe trước, ngồi ở hàng ghế sau cùng. Khi tất cả mọi người đã ở trong xe, tôi
nhìn anh hơi áy náy vì phía trên còn ghế trống, nhưng anh ra dấu để mặc anh.
Suốt quãng đường đi, tôi kín đáo quan sát anh với sự tò mò, trong khi miệng vẫn
liếng thoắng giới thiệu cảnh quan dọc đường cho các vị khách. Anh lơ đãng nhìn
ra ngòai cửa xe, hình như đang suy nghĩ điều gì đó, anh tên gì, làm gì, ở đâu,
tôi chưa được biết. Nhìn anh vừa giống một lãng tử phong trần vừa có nét lịch
lãm của một người hiểu biết qua cách ăn mặc và cách anh cười khi nghe tôi nói
một chuyện vui với khách. Mà sao anh đi Bạch Mã có một mình, không giống lắm
người đi du lịch,càng không phải là người đi làm việc. Sếp tôi không nói rõ
ràng ngòai hai chữ "bạn thân", hay đây cũng là mẫu người "quái
quái" như sếp, thôi thì như sếp dặn "chăm sóc chu đáo", nhưng có
vẻ như anh không cần đến cái "chăm sóc chu đáo" đó.
Xe tới chân núi
Bạch Mã, tôi thấy anh có một cái gì đó thật lạ. Vẻ bồn chồn, anh đẩy cửa kính
xe, chồm hẳn ra ngòai nhìn, gương mặt không còn vẻ lãnh đạm thờ ơ như nãy giờ
trên đường đi. Chương trình của tôi ở Bạch Mã có nghỉ đêm nên tôi cho làm thủ
tục nhận phòng ở khách sạn Bạch Mã ngay lưng chừng núi. Mải giúp khách nhận
chìa khóa nên tôi không để ý đến anh; hơn nữa, anh và tôi chung phòng, phải ưu
tiên mấy vị khách nước ngòai trước. Xong hết, tôi quay ra kêu anh, nhưng hình
như anh không nghe dù chỉ đứng cạnh tôi có mấy bước chân. Anh đứng như bị thôi
miên trước bức tranh thêu một tiên nữ đang vui đùa giữa hoa lá chim muông rất
đẹp, sống động... Tôi lại gần chạm vào anh, anh mới giật mình, môi lắp bắp:
"Hương Phong...là nàng...". Anh đi theo tôi nhưng không quên ngóai
đầu lại nhìn bức tranh, ánh mắt thật lạ, như cười như pha chút băn khoăn, khắc
khỏai thế nào ấy.
Buổi tối, sau
khi cùng đòan tham gia chương trình tour, trở về khách sạn,tôi lại thấy anh
đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu tiên nữ, mắt lộ vẻ gì đó van lơn tha
thiết, chen nét trìu mến...Tôi kéo anh ra khỏi mộng mị bức tranh, hơi thắc mắc
tại sao anh có vẻ "lụy" trước một bức tranh như thế, vì nó cũng chỉ
đẹp như nhiều tranh phong cảnh khác. Đêm đó, sau mấy tuần rượu giữa hai người,
cởi mở thân tình hơn, tôi được nghe anh kể chuyện tình của anh, ngỡ như người
trong mơ đang tưởng tượng, cứ mông lung kỳ ảo không hiểu thực hư, ngay cả tôi
cũng lâng lâng say nên ngồi nghe trong sự lơ mơ hình như đang lạc vào câu
chuyện lạ lùng xa xưa lắm...
... Bốn năm
trước tôi đến Huế dự Festival, là một nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, nên Huế
không xa lạ lắm, dù còn nhiều bí ẩn vẫn cần khám phá. Trước ngày khai mạc, tôi
lang thang ở khu Thành Nội, xách theo máy ảnh định chụp kĩ mấy bức chạm nổi
trên chín cái Đỉnh đồng ở nhà Thế Miếu, có rất nhiều nhà nghiên cứu nói về nó,
nhưng tôi muốn tìm thêm những thông điệp, tôi tin là vẫn còn ẩn giấu, người xưa
thâm thúy lắm, mà nghệ nhân làm ra các tuyệt tác nghệ thuật lại là bậc thầy của
những ẩn dụ thời gian, nối quá khứ, hiện tại với tương lai. Đang loay hoay ngồi
chỉnh ống kính vì cần phải cận cảnh, rõ ràng, sắc nét...một làn gió thỏang qua
đưa mùi hương rất lạ,mũi tôi khá nhạy cảm với mùi, chợt thấy ống kính bị giật
nhẹ, tối sầm lại, đồng thời tôi nghe tiếng kêu: "Ui chao...". Ngẩng
lên, không thể tin vào mắt mình, một "nàng" Huế chính gốc, áo dài tím
nhạt, đẹp không tả được, mắt nhìn vào tôi như muốn nhấn chìm tất cả, cứ vời vợi
long lanh, tóc mượt dài như mây, da trắng mịn màu men sứ, dáng mềm như liễu...Đẹp
đến muốn nín thở, tôi ngây người ra nhìn quên cả đứng lên, quên cả phép lịch sự
tối thiểu... "Ui chao. Anh ni lạ rứa hè!". Tôi cứ như gã khờ thốt ra một
câu ngờ nghệch: "Đẹp quá...". "Anh ni lạ rứa...Gỡ áo em ra cho
em đi..."; ôi trời ạ, tà áo sau của nàng quấn lấy ống kính của tôi vẫn chưa
gỡ ra. "Xin lỗi...". Tưởng nàng sau đó đi luôn, nhưng hình như nàng
chùng chình, bất chợt nàng mỉm cười "Anh ni lạ rứa"... còn tôi cũng
bất ngờ lúng túng, muốn nói một câu gì để giữ nàng lại làm quen, nhưng lại muốn
nàng đi thật nhanh, vì hình như tim tôi hơi bất thường, một sự rung động khó
diễn thành lời, giữa tôi và nàng có một giao cảm huyền bí nào đó.
Vâng! Tôi là một
thằng đàn ông hơi khó tính, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa có một mảnh tình làm
phép, trong mắt tôi phái yếu là một thế giới xa lạ, bí hiểm, rắc rối, mà tôi
thì chưa muốn bị ràng buộc, tôi đam mê công việc nghiên cứu, lâu dần tôi bị coi
là kẻ lập dị, không đàn bà con gái nào để ý, có vài người còn bóng gió cho là
tôi "đồng tính". Tôi mặc kệ thiên hạ, không quan tâm.
Nhưng rồi nàng,
bất ngờ như lúc xuất hiện, lướt nhanh qua tôi, đi như một làn gió về phía cửa
lớn hướng ra Thành Nội. Còn tôi, từ lúc đó người cứ bần thần không tập trung
được việc gì. Tôi bỏ dở ý định chụp Cửu đỉnh, ra về, vơ vẩn đi dọc sông Hương,
trong đầu ám ảnh về nàng, bất chợt thấy mình cô đơn quá, nhất là ở xứ Huế thơ
mộng này. Liệu có còn gặp lại nàng...
Lễ hội Festival
khai mạc, cùng với rất nhiều chương trình khơi dậy một Huế xưa cuốn hút tôi.
Tôi vẫn không quên gương mặt tuyệt đẹp của nàng, đi bất cứ đâu ở Huế, tôi luôn
chú ý tìm nàng trong số những đám đông thiếu nữ, song không ai mang gương mặt
siêu thóat ấy...Chợt thấy lòng mình hơi chùng lại, tim se sắt một nỗi buồn khó hiểu.
Đến đêm thứ ba của lễ hội, tôi đi dự dạ tiệc cung đình có biễu diễn nhã nhạc
trong Thành Nội , đúng lúc tôi chuẩn bị ngồi xuống hàng ghế dành cho khách mời,
mũi tôi thóang bắt gặp mùi hương lạ theo làn gió thỏang qua, một cái rùng mình.
Trước mặt tôi là nàng, dưới ánh đèn rực rỡ còn đẹp hơn cái buổi tôi gặp ở nhà Thế
Miếu, vẫn màu áo dài tím nhạt nhẹ như sương chiều, vẫn một câu nói "Anh ni
lạ rứa"... Nàng ngồi xuống ngay cạnh tôi... Đêm đó thật tình tôi không còn
nhớ những gì đang diễn ra trên sân khấu, ngay cả bữa dạ tiệc tôi cũng không biết
mình đã ăn những thức gì, chỉ biết một điều duy nhất bên tôi là nàng, một nàng
Huế đẹp như thần tiên trong tranh. Một đêm Huế thật đặc biệt trong cuộc đời. Sau
khi rời khỏi Thành Nội, tôi và nàng đi dạo dọc theo hồ sen Tịnh Tâm... Nàng có
tên Hương Phong, cái tên nghe hay hay lạ lạ và hiếm thấy ai có ở đất Huế này.
Lần đầu tiên tôi đi bên một cô gái, cảm giác hư thực như đang ngấm một thứ men
rượu ngọt cứ lâng lâng dễ chịu. Dù mới gặp nhau nhưng cả tôi và nàng như thể
quen nhau lâu lắm, nàng nói cho tôi biết nhiều chuyện về Huế. Những câu chuyện
của nàng rất đặc biệt, tôi có cảm giác nàng rất am hiểu về kinh thành Huế xưa,
cả lịch sử, triều đại đến những lĩnh vực văn hóa cung đình. Hình như tôi đang
nắm trong tay báu vật của Huế-nàng Hương Phong. Cảm giác ấm áp lạ thường, tôi
muốn đêm dài mãi, để được đi mãi bên nàng. Tôi không còn hiểu mình khi có một ý
nghĩ:nàng sẽ mãi là của tôi. Ừ! Mà sao nàng lại tin tôi, đi với người đàn ông
lạ mà không tỏ ra e ngại gì. Hay chính Ông Trời đã tặng nàng cho tôi, hay chính
kiếp trước tôi và nàng là hai nửa của nhau. Nhưng rồi tôi cũng phải chia tay
nàng không thể đi hết đêm được. Tôi ngỏ ý đưa nàng về nhà, nàng lắc đầu quầy
quậy: "Nỏ được mô. Nhà em xa ngái, ngòai Thành. Em đi xem hội, ở nhà dì.
Dì khó dữ. Anh để em tự về... Mai em đến anh". Rồi nàng quay đi rất nhanh
về phía trong xóm sau hồ Tịnh Tâm, không kịp cho tôi phản ứng gì, thóang đã
thấy mất hút bóng nàng, chỉ còn phảng phất mùi hương trong gió...Hương Phong.
Đêm đó tôi mất ngủ- mất ngủ vì một nàng con gái đầu tiên ám ảnh tôi trong đời.
Ngày hôm sau,
tôi dự định đi sang bên Kim Long để tránh cái nắng gay gắt giữa hạ và để cảm
cái chất thơ của hoa lá cây kiểng ở mấy khu nhà vườn nổi tiếng đất thần kinh
bên ấy. Lời hẹn của nàng. Ừ. Sao tôi vô tâm quá, không cho nàng biết tôi ở đâu
thì làm sao nàng đến được. Không lẽ tôi lại lạc mất nàng lần nữa. Nhưng tôi
linh cảm mối giao cảm kỳ lạ, nhất định nàng sẽ tìm được tôi. Tôi xuống dưới
sảnh chờ. Nàng Hương Phong của tôi đang nhìn tôi cười, dấu ấn, đóng vào tim tôi
vị ngọt ngào. Tôi và nàng có những giây phút lãng mạn đầy thơ mộng bên nhau
trong bóng mát rợp và hương thơm của cây trái hoa lá. Và cũng thêm một lần tôi
khâm phục sự hiểu biết của nàng về các lọai cây trái, nàng kể tên từng lọai,
nguồn gốc, tính cách đặc điểm, thời điểm đơm hoa kết trái, như chính nàng là
người chăm sóc cây. Hương Phong, nàng của tôi chừng hai mươi tuổi, mà có một
kiến thức không dễ gì ai sánh được.
Quá trưa, tôi và
nàng trở về Thành Nội, tôi đưa nàng đi ăn bên Gia Hội, nhưng vừa gần tới chợ
Đông Ba, nàng nói đi theo nàng đến nơi này. Lòng vòng qua vài con đường nhỏ bên
trong Thành, nàng đưa tôi đến một tiệm ăn. Rất đặc biệt, lối vào rải sỏi tròn
trắng, hai bên trồng tòan hoa đủ màu sắc tỏa hương thơm ngát, tiệm ăn là một
tòa nhà xinh xắn bằng gỗ lợp ngói lưu ly, bước vào trong không khí mát rượi
không hề thấy cái nóng ngòai kia, nhưng tuyệt nhiên không thấy một cái quạt hay
máy lạnh nào. Cách sắp đặt cũng thật đặc biệt, bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trông rất
cổ kính. Những tiếp viên đẹp đến không ngờ, như tranh Tố nữ bước ra, ăn mặc
xiêm áo ba tầng bảy lớp, tóc búi cài trâm giắt lược, tay chân đeo vòng nhạc mỗi
cử động nghe leng keng rất vui. Tôi thầm nghĩ, Huế làm Festival, muốn phục dựng
khung cảnh xưa để thu bút khách. Nhưng ý nghĩ của tôi bị lung lay khi các thức
ăn được dọn ra, tôi là nhà nghiên cứu văn hóa, nên có chút hiểu biết về cổ vật,
tôi không thể tin vào mắt mình, tất cả đồ sứ gia dụng, cốc, chén, bát, đĩa là
đồ cổ chính hiệu mang tên đồ sứ men lam đặc trưng của thế kỉ mười sáu, mười
bảy, cả đôi đũa ngà được chạm trổ tinh xảo như tác phẩm nghệ thuật cũng phải có
tuổi vài trăm năm. Tiếp thị đến mức này có quá đáng không hay đây là
"giả" tinh vi, khéo léo. Nhưng không, tôi cầm lên xem kỹ. Nó hòan hảo
và hòan tòan thật. Còn thức ăn, tôi chưa bao giờ được ăn những món lạ và tuyệt
ngon đến thế, dù tôi không phải người sành ăn nhưng rõ ràng đây là những món
chưa từng thấy trong các thực đơn nhà hàng nào. Nàng ngồi bên tôi, gần như
không ăn gì, chỉ gắp cho tôi thức này đến thức khác và tủm tỉm cười mỗi khi tôi
buột lời khen. Tách trà sau bữa ăn là một thứ danh trà có lẽ lần đầu tôi được
uống. Nước xanh vị ngọt và hương thơm như của muôn lòai hoa hòa quyện, uống đến
đâu người thấy sảng khóai, thanh thóat lạ lùng. Chưa hết dư vị của tách trà, đã
thấy một cô tiếp viên xiêm áo lả lướt bước tới cười tươi:"Rất lâu rồi bọn
em mới được chị tới thăm, hôm nay chị có khách quí, có chi thất lễ và chưa ưng
ý, chị bỏ qua". Cô quay sang tôi nháy mắt: "Khách quí...Cảm ơn đã
chiếu cố". Tôi chưa kịp phản ứng gì, thì nàng đã kéo tôi đứng dậy:
"Đi anh". "Nhưng còn thanh tóan?". "Đừng bận
tâm". Thấy tôi còn băn khoăn, nàng cười: "Anh ni lạ rứa". Chỉ
thế thôi mà tôi thấy yên lòng. Nhất định tôi sẽ giới thiệu cho mọi người biết
về tiệm ăn này.
Nàng hỏi tôi:
"Ngày mai anh đi đâu?". Tôi nói nàng muốn đi ngắm mây Bạch Mã, nàng
hớn hở: "Ôi...Nhà em ở đó...Em đưa anh đi" và nàng líu lo một khúc
hát rất lạ, giai điệu cũng lạ lắm, tôi chỉ biết là rất hay. Mà cũng kỳ, ở nàng
có gì đó không giống các cô gái thời nay. Nàng không thích đến những nơi như
quán café nhạc, nàng có vẻ xa lạ với những vật dụng thời thượng như điện thọai
di động, nàng thờ ơ với những cửa hàng thời trang và rất thích thú khi xem bộ trang
phục cung đình trong triển lãm. Trang phục đi với tôi là áo dài một màu tím nhạt
như sương. Với những thông tin như nhạc trẻ, hay các trào lưu văn hóa du nhập
vào Việt Nam, nàng gần như không hiểu biết gì, nhưng nói tới văn hóa xưa, lịch sử,
kể cả âm nhạc cung đình nàng say sưa nói với vốn kiến thức mà ngay cả tôi cũng thua
kém và thấy mình còn thiếu hiểu biết hơn nàng.
Sáng ngày đi
Bạch Mã, tôi mượn chiếc xe gắn máy và phóng thẳng một lèo đến chân núi khi trời
còn mờ sương. Nàng nói, nhà ở núi Bạch Mã, tôi định đi lòng vòng hỏi thăm, chưa
đi được vài thước, tôi đã thóang ngửi thấy mùi hương thơm, mùi của nàng, rất
riêng không giống mùi nước hoa. Và nàng, không biết đi từ hướng nào, đã thấy
đến cạnh tôi, gọn gàng trong bộ đồ đi núi của người dân tộc, nhìn đẹp và lạ với
những hoa văn thêu khá cầu kỳ như bức tranh. Nàng đeo một cái túi nhỏ cùng màu
áo cũng đẹp và lạ không kém. Nàng leo lên xe, ôm lấy tôi và giục: "Đi
anh...". Tôi nhìn lên chiếc barie chắn ngang đường lên núi, người gác có
lẽ chưa thức, vì có ai lên núi sớm như tôi. Tôi lại nghe giục phía sau "Đi
anh". Cái barie đã kéo lên cao, tôi rồ máy xe chạy qua, không kịp thắc mắc
hình như không có ai ở đó. Đường lên đỉnh Bạch Mã ngoằn nghoèo, dốc, hơi khó
đi, xe tôi gài số hai, bò lê ậm ạch, nhưng được một lát tôi có cảm giác xe đang
chạy trên đường bằng, dù đường vẫn ngoằn nghoèo, hết dốc này đến dốc khác...
Mặt trời đã lên, cảnh vật hai bên đường núi đẹp quá. Vừa chạy vừa ngắm, chẳng
để ý gì đến đường đi xe chạy như thế nào. Những con thác nhỏ từ trên núi đổ
xuống giống như những dải mây trắng, bắn vô vàn hạt nước li ti, lóng lánh phản
chiếu ánh nắng như một tấm màn voan dát kim cương. Con thác trượt trên các
phiến đá ngắt từng đọan như cụm mây trườn xuống, những vạt rừng đỏ rực hoa đỗ
quyên, cùng hàng đàn bướm đủ màu bay lượn như vườn hoa di động.
Chúng tôi dừng
xe ngay nơi một con thác cao đổ xuống năm cái hồ, lạ một điều khi dòng nước vừa
chạm mặt hồ, hình như dòng thác đứng lại, mặt hồ phẳng lặng hiền hòa, nước
trong vắt, nhìn thấy hàng ngàn con cá đủ màu bơi lội tung tăng. Cây cối nơi này
rất cao thẳng, tán lá rộng , rợp mát. Đúng là tiên cảnh. Tất cả những nơi này
đều là điểm tham quan du lịch của Bạch Mã, không ai lên đây không đến chiêm
ngưỡng. Nhưng sao tôi có cảm giác khang khác, cảnh vật có vẻ lung linh kỳ ảo
hơn những gì tôi đã nghe qua hay xem qua từ sách báo, phim ảnh. Nơi này đẹp
nguyên sơ mang chút hoang dại như chưa hề có bước chân người qua lại.
Một cảnh tượng
thần tiên. Nàng Hương Phong của tôi, đẹp như tiên nữ đang nhảy múa trên bãi cỏ
xanh mượt, giữa hàng vạn cánh bướm dập dờn lộng lẫy sắc màu, xung quanh là bầy
chim trĩ xòe cái đuôi có những chấm sao lóng lánh, rồi mấy chú nai, hoẵng nhịp
nhịp gõ chân, trên cao cơ man nào là chim vừa bay vừa đậu đặc trên mấy cây cổ
thụ véo von hót những giai điệu bất tận âm vang cả rừng núi. Đúng là một đại
cảnh rừng hoang tuyệt đẹp. Tôi gần như nín thở, chỉ sợ động đậy là mọi cái tan
biến. Không có gì để nói lên cảm xúc lúc này bởi sự kỳ vỹ của vẻ đẹp Bạch Mã,
thiên nhiên con người hòa vào nhau. Và cũng không thể ngờ, nàng không cho tôi
đứng yên để ngắm, nàng kéo tôi vào vũ điệu thiên nhiên hoang dã đó. Cảm xúc
được thăng hoa tới tận cùng. Tôi- nàng- Bạch Mã khắc dấu trong tôi không phai
được. Và nàng, thêm vào hương vị rừng bằng một bữa ăn mà tôi không thể biết đã
được chuẩn bị như thế nào, nhưng điều làm tôi kinh ngạc là tất cả những đồ để
đựng thức ăn đều bằng loại đá ngọc với nét chạm nổi và hình dáng cực kỳ tinh
xảo và lạ, tôi chưa hề thấy ở bất cứ đâu, hơn thế nó hoàn toàn rất cổ, không
phải tuổi mấy trăm năm mà phải là mấy ngàn năm trở lên. Đặc biệt nhất là bình
rượu bằng ngọc xanh biếc trong suốt, màu rượu cũng xanh như thế, uống vào,
hương thơm như theo từng mạch máu lan tỏa khắp người, cảm giác dễ chịu thư thái
thoát tục. Nàng đã đem lại cho tôi những giây phút ngọt ngào kỳ lạ nhưng cũng
đầy thơ mộng.
Từ Bạch Mã trở
về, tim tôi thật sự không còn bình yên nữa. Tôi đã hành con người khác. Hình
ảnh nàng choán hết trong tôi, ngự trị trong tôi. Tôi đã yêu... Một tình yêu
"sét đánh", không lí giải được. Nàng và cái tên Hương Phong cùng mùi
hương thơm rất lạ rất riêng của nàng ám ảnh tôi không chỉ vì cái buổi đầu tiên
ở nhà Thế Miếu mà như từ tiềm thức. Nàng vẫn còn nhiều bí ẩn, luôn mang cho tôi
từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hình như ở nàng ẩn dấu cả bí mật kinh
thành Huế. Những nơi nàng đưa tôi đến đều hết sức lạ lùng, không hề có dấu vết
đổ nát, phôi phai của thời gian, nhưng rõ ràng là ở một thời xa xưa hàng mấy
thế kỉ. Nhưng tôi không hề để ý điều đó. Được gần bên nàng cảm giác thật dễ
chịu, như tôi và nàng gắn kết với nhau. Trong tôi không hề nghĩ sẽ phải xa
nàng...
Festival kết
thúc, tôi phải trở về nhà với công việc nghiên cứu đang đợi tôi. Ngày cuối ở
Huế với tôi thật ngắn, tôi không muốn xa nàng và nàng cũng cảm thấy thời khắc
chia tay, gương mặt xinh đẹp của nàng gợn nét buồn làm tim tôi cứ nhói lên. Tôi
tự an ủi mình. Đây chỉ là cuộc chia tay tạm thời, thời này khoảng cách địa lí
đâu có là trở ngại. Đêm cuối, khi ôm xiết nàng trong vòng tay, hôn lên môi mắt
nàng, tôi vẫn nghĩ tôi sẽ gặp lại nàng sớm nhất khi có thể. Tôi không nghĩ đó
là lần cuối tôi được bên nàng.
Sáng hôm sau, cứ
ngỡ nàng sẽ đến gặp để tiễn tôi đi, tôi đã đợi nàng ở trên cầu Tràng Tiền, đứng
nơi tôi và nàng hay dừng chân ngắm sông Hương. Đợi rất lâu... sắp tới giờ phải
về khách sạn trả phòng ra ga. Không thấy nàng. Bấy giờ tôi mới chợt nhớ là tôi
chưa hề biết địa chỉ của nàng. Thật lú lẫn. Làm sao đây? Tôi bối rối và tự
trách mình. Một làn gió thổi qua. Mùi hương của nàng... Tôi dáo dác nhìn. Từ
phía xa có một chú bé bán báo dạo đang đi về phía tôi... "Thưa cậu... có
một cô nhờ con đưa vật ni". Tôi chưa kịp nói hỏi gì, đã thấy chú bé vụt đi
rất nhanh. Trên tay tôi là một chiếc hộp gỗ chạm tinh tế có vẻ rất xưa, tỏa mùi
trầm. Tôi mở ra. Một chú rùa nhỏ và một lá thư..."Anh yêu... Đành phụ tình
anh... Giữa hai ta là khoảng cách không thể vượt qua. Hãy quên em và cầu chúc
anh hạnh phúc. Gởi anh chú rùa Bạch Mã, bạn em nay là bạn anh...- Hương
Phong". Tim tôi muốn ngừng đập, cổ muốn nghẹn lại... Không thể... Tại
sao... Đêm qua... Nàng có nói gì, tỏ ý gì đâu... Hương Phong... Một làn gió
thoảng mùi hương của nàng. Tôi run lên. Bất chợt lá thư trên tay tôi vuột bay
xuống dòng sông. Tôi muốn hét to lên gọi nàng nhưng người cứ như mất trọng
lượng. Tôi trở về với trái tim bị thương mà không hiểu vì lẽ gì.
Tôi đã trở lại
Huế nhiều lần. Tôi không thể quên nàng và những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi.
Tôi đi tìm nàng. Hai năm trước, cũng mùa Festival, tôi lại đến Huế, nàng nói
thích đi xem Hội, biết đâu tôi sẽ gặp nàng. Tôi ghé lại những nơi nàng đã đưa
tôi đến. Cảnh vật hoàn toàn khác, chỉ là những hoang phế đổ nát, không lẽ mới
vài năm mà đã bị tàn phá như vậy. Hay là tôi đã nhớ sai địa điểm. Ngay cả cái
tiệm ăn cung đình kiểu cổ nàng đưa tôi đến ăn buổi trưa, tôi cũng không thấy,
nơi đó là một khu vườn trống bỏ hoang. Tôi hỏi nhiều người, ai cũng lắc đầu
"không biết", và họ còn nói ở đây chưa bao giờ có tiệm ăn, ở Huế cũng
không có tiệm ăn nào như thế... Mùa hội năm nay tôi lại đến Huế, hy vọng tìm
được nàng. Cách đây mấy ngày, tôi đến khu nhà vườn Huyền Không, vẩn vơ trong
vườn, nhớ lại kỉ niệm xưa với nàng, trái tim cứ muốn thổn thức, nhoi nhói,
không biết nàng ở đâu, ra sao...Gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ, chợt muốn hỏi
chuyện, những bí ẩn không tên, làm cho tôi không yên, cứ thắc mắc hoài. Tôi hỏi
chuyện tiệm ăn, cụ nói thong thả: "Có đấy, nhưng là bốn trăm năm trước.
Thời vua Minh Mạng, gặp hạn hán đói kém mất mùa, nghe lời khuyên, vua giải
phóng cho vài trăm cung phi về với dân gian, để lập đàn tế Trời cầu mưa. Các cung
phi mang danh "vợ Vua", ra ngoài khó sống quá, tập hợp lại mở một
quán ăn chuyên nấu đồ ngự thiện để cho các quan trong thành đãi khách và các
nhà quyền quý vương tôn hoàng tộc đến ăn... Trong sách sử có ghi chép về việc
này". Một cảm giác mơ hồ trong tôi, lạnh cả sống lưng, tôi run run hỏi:
"Ông có nghe một cái tên Hương Phong?". Và tôi thật sự toát mồ hôi
lạnh khi nghe ông cụ nói: "Hương Phong là nàng tiên Gió của núi Bạch Mã.
Một huyền thoại của cư dân vùng đó. Có điện thờ ở dưới chân núi...". Tôi
không biết mình đang tỉnh hay mơ. Tôi quyết định đi Bạch Mã để tìm hiểu.
...Chú biết
không? Bức tranh thêu ở dưới sảnh khách sạn chính là cái cảnh Hương Phong nhảy
múa với bầy chim muông hoa bướm ở Bạch Mã, tôi vừa kể chú nghe... Tôi cũng dò
hỏi người quản lí khách sạn này về bức tranh, họ nói, đúng là ở núi Bạch Mã cư
dân thờ nàng tiên Gió. Đây là bức tranh thêu họa lại bức tranh thờ ở miếu dưới
núi, do một nghệ nhân thêu tặng. Nàng tiên Gió là vị thần hộ mệnh cho vùng này.
Tôi không tin. Nàng Hương Phong của tôi không thể là nàng tiên Gió... Tôi đã có
biết bao nhiêu kỉ niệm, bao giây phút ngọt ngào êm dịu bên nàng... Nàng là thật
không phải là gió... Nhất định tôi sẽ gặp được nàng...
... Tôi nghĩ anh
đã say, tôi cũng say, nên không biết nói với anh thế nào. Câu chuyện của anh mơ
màng, kỳ ảo, hơi hoang đường như trong giấc mơ. Có lẽ anh là một người đa tình
và lãng mạn. Tôi dìu anh lên giường. Ngày mai chúng tôi sẽ có cuộc khám phá
Bạch Mã.
Nhưng rồi, tất
cả suy nghĩ của tôi bị đảo lộn. Sáng hôm sau, khi tôi xuống sảnh đưa khách đi
tham quan Bạch Mã, hơi tò mò, tôi dừng lại ngắm kỹ bức tranh... Dường như tôi
bị hoa mắt. Nhưng không, tôi chớp mắt mấy cái, rõ ràng nàng tiên nữ trong bức
tranh bước ra đứng trước mặt tôi, mỉm cười và nháy mắt. Một làn gió thổi qua,
trong sảnh rất kín không có cửa sổ hay lỗ hổng nào, và mùi hương thơm thật
lạ... Tôi gai hết cả người. Không lẽ câu chuyện anh kể có thật. Có một nàng
Hương Phong, một nàng tiên Gió. Thời đại này còn có những câu chuyện kỳ lạ như
thế sao?
Và tôi kể lại như
một câu chuyện cổ tích của núi Bạch Mã.
Ngày 9-6-2010,
Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc lần
thứ III, tại hội trường Khách sạn Hải Yến, khu 1 - Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
116 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 26 tỉnh, thành phố phía Bắc đã về dự Đại
hội. Các đồng chí Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban
Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng, Hoàng Văn Kể - Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy
ban nhân dân thành phố Hải Phòng, cùng lãnh đạo, đại diện một số ban ngành ở
thành phố Hải Phòng đã tới dự Đại hội.
Phát biểu khai
mạc Đại hội, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - cho biết: đ
Đây là Đại hội đầu tiên trong 10 Đại hội cơ sở tiến tới Đại hội toàn thể Hội
Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII sẽ diễn ra tại Hà Nội vào tháng 8 năm nay.
Phát biểu chào
mừng Đại hội, đồng chí Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy,
Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng - đã giới thiệu những thành tựu phát
triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng và coi đó có tính chất kích thích và là
tiềm năng sáng tạo của các nhà văn, mong muốn các nhà văn tiếp tục cho ra đời
những tác phẩm văn học có giá trị, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho
nhân dân, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước.
Sáu đó, thay mặt
Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội -
trình bày dự thảo Báo cáo tổng kết mang tiêu đề Vì sự cường thịnh của đất
nước, vì phẩm giá con người. Báo cáo khẳng định 5 nét mới trong đời
sống văn học Việt Nam thời gian qua: Một là, tiếp tục viết về đề tài chiến
tranh cách mạng nhưng mạnh hơn là sáng tạo trong cuộc đấu tranh để công nghiệp
hoá đất nước, các nhà văn có mặt ở những mũi nhọn của đời sống, chủ đề lớn của
văn học ta hôm nay là đạo đức xã hội. Hai là, các nhà văn quan tâm hơn đến yêu
cầu kết tinh văn học, dồn sức cho những tác phẩm lớn mang ý nghĩa tổng kết một
đời văn. Ba là, ý thức bảo vệ truyền thống, chống lại cuộc xâm lăng văn hoá từ
bên ngoài. Bốn là, xu hướng hiện đại hoá văn học, kết hợp với nâng cao một bước
sự chuyên nghiệp hoá nghề văn. Năm là, xuất hiện nhiều tài năng trẻ, thể hiện
rõ hơi thở, giọng điệu của đời sống hôm nay. Báo cáo cũng nêu bật kế hoạch và
lộ trình nâng cao chất lượng lí luận phê bình, như là một nỗ lực khắc phục cái
yếu kém tồn đọng nhiều thập kỉ vừa qua; Ban Chấp hành đã tổ chức nhiều cuộc hội
thảo, có lẽ là nhiều kỉ lục so với các nhiệm kỳ từ ngày có Hội; mở nhiều lớp
tập huấn và mở Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du; các hội thảo về Hoài
Thanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Võ Quảng, Nam Trân...đã để lại tiếng vang
trong đời sống văn học. Nhiệm kỳ vừa qua, đã đưa được Ngày thơ Việt Nam vào đời
sống lễ hội, năm sau nhiều sáng kiến hơn năm trước và đặc biệt hơn là lần đầu
tổ chức Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam nhưng đã để lại trong lòng
bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu đậm. Chủ tịch Hữu Thỉnh nhấn mạnh:
"Chúng ta đang tiến sâu vào thế kỉ XXI (...) Đó là thế kỉ giải phóng các
tiềm năng của con người, đó cũng là thế kỉ cần nạp năng lượng văn hoá tối đa
cho con người, giúp con người thực sự trở thành Con Người, với tư cách vừa là
chủ thể riêng rẽ vừa là thành viên trong một cộng đồng trách nhiệm. Trong cuộc
chuyển đổi vĩ đại của dân tộc, các nhà văn chúng ta nhận lấy sứ mệnh nạp năng
lượng tinh thần cho xã hội, dồn hết tâm huyết và tài năng vì sự cường thịnh của
đất nước, vì phẩm giá của con người."
Tiếp đó, nhà văn
Đức Hậu - Trưởng Ban công tác các nhà văn phía Bắc - đẫ báo cáo kết quả công
tác của Ban trong 5 năm qua.
Nhà văn Nguyễn
Trí Huân - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - trình bày dự thảo Báo cáo về sửa
đổi Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam, để các đại biểu dự Đại hội này thảo luận và
góp ý.
Đại hội tiến
hành bỏ phiếu kín giới thiệu 21 nhà văn và thống nhất tín nhiệm chọn 3 nhà văn
có số phiếu cao nhất là Đình Kính, Nguyễn Thuý Quỳnh, Bình Nguyên để tham gia
danh sách ứng cử Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.
Hội trường bị mất điện lưới nên khá nóng bức, một số nhà văn ngồi phía cuối hội trường "tranh thủ" ra ngoài uống nước, hút thuốc lá và tán gẫu cho mát Phóng viên Lê Minh Thắng của báo An ninh Hải Phòng đã kịp chụp được mấy kiểu ảnh sau đây:
Buổi chiều, Đại
hội nghe tham luận và phát biểu ý kiến của các nhà văn. Nhà thơ Võ Sa Hà đọc
bản tham luận là những trăn trở về đội ngũ các nhà văn thiểu số. Có thể do
không có các đánh giá đúng mức giá trị của các nhà văn người Kinh viết về miền
núi, việc thiếu vắng những nhà phê bình chuyên cho các nhà văn miền núi dẫn đến
thực trạng các nhà văn miền núi ùa về Hà Nội, để một khoảng trống trong đội ngũ
đang ngày càng thiếu vắng những tên tuổi lớn. Nhà văn Trần Quốc Tiến đọc bản
tham luận về cái ngưỡng văn học còn không, vì sao tình trạng văn rởm thơ rác cứ
được in tràn lan? Trách nhiệm của các nhà xuất bản, các nhà chức trách ở đâu?
Vì sao cứ các nhà văn phạm "huý" thì bị đánh lằn lươn còn việc làm
cho chất lượng văn học giảm đi, lẫn lộn vàng thau thì cứ được "tự do hoành
hành? Nhà thơ Đỗ Thị Tấc phát biểu: "Tôi đồng ý và đánh giá cao Báo cáo do
Chủ tịch Hội đọc, trí tuệ và đầy đủ. Tôi thấy 5 năm qua, các hội đồng, các ban
đã làm được quá nhiều việc; tôi được mời về đọc thơ Ngày thơ Việt Nam lần thứ
8, xe hỏng không về kịp; về đến nơi thấy mọi người xơ xác, họ đã đóng góp hết
sức mình cho thơ, sao nỡ phàn nàn về họ, nhân văn đâu? Về dự thảo sửa đổi Điều
lệ Hội, tôi không đồng ý có khoản hội viên danh dự. Tôi làm Chủ tịch Hội địa
phương, tôi đã lãnh đủ cái gọi là hội viên danh dự. Nhà thơ Dư Thị Hoàn phát
biểu: "Một nét mới và tích cực mà Báo cáo còn bỏ sót. Hội ta năm nay đã có
tinh thần hoà hợp hơn, dành các số báo Văn nghệ và tạp chí Thơ in
các truyện và thơ của các nhà văn miền Nam trước 1975; sao chúng ta hoà hợp với
các nhà văn Mỹ được mà các nhà văn miền Nam cũ lại không?". Nhà văn Đặng
Văn Sinh đọc một bài văn của học trò, được cô giáo cho 9 điểm mà ngôn ngữ suy
thoái, hổ lốn, báo động một tình trạng bi đát về văn học học đường,... Nhà thơ
Mai Phương đọc bài tham luận về sự đọc thơ: "Nhà thơ phải sống giữa cộng
đồng và những người sẽ đọc anh ta; tôi từng bán sách văn học cho các nhà lãnh
đạo, nhưng hoá đơn lại ghi là sách kỹ thuật, sách an toàn lao động. Ôi trời ơi,
văn học là công cụ nuôi dưỡng tâm hồn người mà sao người ta không dành cho nó
sự cư xử có tình có lí?". Nhà thơ Kim Chuông đọc tham luận về việc Đại hội
toàn thể Hội: Theo ông, đó là một việc tốt, là nỗ lực rất cảm động của Ban Chấp
hành khoá VII. Nhà văn thì ai có thể đại diện cho ai, nhưng nếu đại hội đại
biểu, nhà văn sẽ phải làm cái việc vạn bất đắc dĩ là gạch tên nhau. Ông cũng
chê trình độ biên tập viên các báo của Hội kém quá, chỉ quen với một nhúm tác
giả rồi đăng bài cho họ, còn bài của các nhà văn hội viên thì không. Ông cũng
chê Website của Hội chậm cập nhật thông tin. Nhà thơ Nguyễn Anh Thuấn phát
biểu: "Về Ban Chấp hành khoá tới, tôi thấy Chủ tịch Hội nhiệt tâm mong
muốn bầu được đủ cơ số và thấy đúng là cần như vậy thật; tôi đặc biệt thích câu
"Khoá VII là khoá an cư, Khoá VIII là khoá lạc nghiệp" trong báo cáo
của Chủ tịch Hội".
Tổng kết Đahi
hội, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: "Ước gì Đại hội toàn quốc sẽ diễn ra ở Hà Nội
được tốt đẹp như Đại hội này." Có mấy vấn đề cần nhấn mạnh là, cần có sự
đảm bảo về nhân cách văn hoá trong tiêu chuẩn xét kết nạp hội. Về hội viên danh
dự, như ý kiến của chị Đỗ Thị Tấc, nó là hệ quả của sự phát triển, và quả thật
nó là vấn đề tế nhị. Ý kiến của chị Dư Thị Hoàn rất đáng suy nghĩ, chúng ta đã
chậm hơn tư duy kinh tế (không phân biệt chính kiến, đều có quyền đầu tư.) Tư
duy văn học cũng cần hút vào lòng dân tộc những giá trị khác, hoà hợp dân tộc.
ý kiến của anh Đặng Văn Sinh về sự loạn chuẩn đúng là cấp bách. 1 mét bây giờ
có nguy cơ chỉ còn 60 - 70 cm Mấy khoá vừa qua, kinh nghiệm cho thấy các ban,
hội đồng cần rút gọn; xây dựng Ban sáng tác trở thành hùng mạnh; sắp tới các
ban văn trẻ, phụ nữ, quốc phòng...đều nằm cả ở Ban này. Đại hội sắp tới sẽ là
Đại hội toàn thể, chúng ta không còn bị nơm nớp lo không được bầu đi dự Đại hội
toàn quốc. Nhưng cái đáng suy nghĩ vẫn là vấn đề nhân sự. Ban Chấp hành khoá
VII là đổi mới 70%, chỉ còn mỗi tôi và anh Huân từ Khoá VI còn lại. Lần này
chúng ta cần có một lộ trình quy hoạch, phần lớn phải là từ 40 đến 60, trên 60
và dưới 40 ít hơn. Ngoài cơ cấu vùng miền và các cấp độ tuổi, xin lưu ý ngành
lí luận phê bình. Hi vọng rằng, Đại hội VIII sẽ là biểu hiện rõ rệt rằng nhà
văn là tinh hoa của văn hoá dân tộc, là niềm tin cậy của hình ảnh đội ngũ xây
dựng đạo đức cộng đồng.
Hiện có nhiều
người làm thơ, nhưng số tác giả tâm huyết sáng tác thơ cho trẻ em lại quá ít.
Những nhà thơ đã dành một phần bút lực viết cho các em thật đáng trân trọng.
Nhà thơ Trần Quốc Minh nằm trong số quý hiếm ấy. Cây đèn biển (NXB
Hải Phòng - 2010) là tập thơ in riêng đầu tiên của Trần Quốc Minh viết cho
thiếu nhi. Đây là một món quà thơ mà tác giả gửi tặng trẻ em nhân dịp mừng Ngày
quốc tế thiếu nhi 1-6 năm nay.
Bạn đọc nhỏ tuổi
biết đến nhà thơ Trần Quốc Minh qua bài thơ Mẹ in trong sách giáo
khoa Tiếng Việt lớp 2, tập 1. Bài thơ lục bát này có giọng điệu thân thuộc với
bất cứ đứa trẻ nào, nhẹ nhàng và đằm thắm như lời ru của mẹ và người mẹ cũng có
thể hát lên với bất cứ làn điệu dân ca nào của nước ta. Tiếng ve cũng lặng vì trời
nắng oi, chỉ còn lời ru và bàn tay của mẹ đưa gió về cho bé ngủ say nồng trên
cánh võng. Lời ru mát như ngọn gió thu. Những ngôi sao lấp lánh thâu đêm cũng
chưa bằng mẹ thức chăm con. Thiên nhiên cũng thua sự bền bỉ, nhẫn nại, đức hi sinh
của những người mẹ chăm nuôi con cái. Kết thúc bài thơ, tác giả khẳng định: Mẹ
là ngọn gió của con suốt đời!.
Thơ Trần Quốc
Minh hướng các em quan sát thế giới xung quanh từ những việc nhỏ, thậm chí rất
nhỏ. Đó là Cây đèn biển được Mặt trời nhường lửa để thắp
sáng đêm đêm chỉ lối cho những con tàu ra vào cảng. Đó là những áng Mâybay
như dáng ngựa lồng về quê (Mây). Trong mỗi bài thơ đều ẩn
chứa một bài học bổ ích về lối sông, nhân cách, về tình bạn tuổi thơ, về gia
đình, nhà trường và ngoài xã hội. Bài thơ Đàn kiến vẽ lên khung cảnh
một đàn kiến chạy lúc trời sắp mưa, nhưng trong sự bận rộn ấy, chúng vẫn biết chào
hỏi nhau. Bài học giáo dục của bài thơ ẩn vào câu chữ, chính các em sẽ phát hiện
ra điều ấy. Chiếc Xe phun nước hiện lên trong thơ thật ngộ nghĩnh,
tạo ra Cầu vồng thắng toát / Làm dịu nắng trưa. Trần Quốc Minh kể cho
trẻ về con Tàu cuốc, một phương tiện thủy chuyên làm việc khơi
thông các luồng lạch sông biển ở Hải Phòng. Con tầu cũng tha thẩn như một em
nhỏ chơi một mình ngoài sân vậy. Cả ngày nghịch đất mà thân tàu không bẩn, lại
còn có ích nữa. Từ bài Góc học tập, nhà thơ như nhắn nhủ các em
học sinh điều sâu xa hơn - đó là công lao dưỡng dục của cha mẹ Như đất nuôi
mầm cây / Bao nhiêu là mưa nắng.
Văn học cho
thiếu nhi nhiều năm qua chú trọng đến chức năng giáo dục nhưng cũng nâng cao
năng lực thẩm mĩ cho con trẻ. Tập thơ Cây đèn biển của Trần Quốc
Minh phần nào làm tốt những chức năng ấy. Sáng tác những câu thơ hồn nhiên,
giàu tính giáo dục, dành cho trẻ em hôm nay, tác giả như được sống lại tuổi thơ
của mình. Tập thơ chỉ có 30 bài được tác giả viết trong vòng 40 năm. Con số ấy
cho thấy việc viết cho các em thật chẳng dễ chút nào. Những bài thơ được bạn
đọc nhỏ tuổi đón nhận không nhiều, những bài có thể còn đọng lại trong trí nhớ
của các em càng ít hơn. Hi vọng tập thơ này sẽ mang đến những ấn tượng đẹp cho
trẻ em, bởi đó là tập thơ của một tấm lòng yêu trẻ.
Ngày 18-5-2010, cũng như mọi lần, từ thành phố Hải Phòng, 3 nhà thơ Tô Ngọc Thạch, Kim Chuông, Hoài Khánh lại chung một hành trình gần trăm cây số đến thăm tỉnh Hưng Yên xinh đẹp. Mới 8 giờ sáng, chúng tôi đã dừng chân trước cổng Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên. Đã biết ngôi trường bên tỉnh lộ 39 này từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi vào tận khu giảng đường. Những khu nhà tầng còn mang dáng dấp kiến trúc của thời bao cấp. Sân trường nhộn nhịp sinh viên đi lại. Từng tốp mữ sinh mang những cặp mắt nai như vẫy người. Khu trường đặc quánh tiếng ve ran. Khung cảnh ấy gợi lại trong lòng chúng tôi những cảm xúc về một thời sinh viên nghèo túng nhưng đầy mơ mộng. Ngôi trường này còn thiếu thốn nhiều về cơ sở vật chất, nhưng tình người thì nồng hậu, chân chất. Sáng nay, nhà trường được đầu tư thêm một phòng thí nghiệm về thiết bị máy nén khí do Công ty Fusheng Việt Nam tài trợ với 50.000 USD. Lễ bàn giao diễn ra trang trọng, với sự có mặt của nhiều vị đại diện cho Văn phòng Kinh tế Đài Bắc - Đài Loan, Hiệp hội thương mại Đài Loan tại Hà Nội cùng nhiều vị khách mời ở Hà Nội, Hải Phòng và Hưng Yên.
Buổi trưa, ngay sau bữa tiệc chiêu đãi các đại biểu tại nhà hàng Như Ý tại thị trấn huyện lị Khoái Châu, chúng tôi quyết định đến thẳng thành phố Hưng Yên. Nhưng từ Khoái Châu đến tỉnh lị đi theo lối nào? Chúng tôi đang băn khoăn giữa nơi ngã tư phố thị, thì may mắn "thần hộ mệnh" xuất hiện. Một cô gái tuổi ngoài đôi mươi đến xin đi nhờ xe và sẽ dẫn đường cho chudng tôi. Gương mặt cô thiếu nữ Hưng Yên làm dịu cả nắng hè ban trưa bỏng rát. Cánh nhà thơ vốn tin người, mới cách đây 2 năm, trong một lần lên thăm Xứ Lạng, ngay trong đêm tối, cả 3 nhà thơ được một cô gái Lạng Sơn dẫn lên tận chóp đỉnh núi Tô Thị để ngắm ánh đèn thành phố như sao sa. Lần này là cô gái Hưng Yên dẫn đường giữa ban ngày ban mặt, thế là chúng tôi đồng ý cho cô đi nhờ xe. Cô tên là Thúy, nhà ở thị trấn Phố Nối, là sinh viên năm cuối khoa Kế toán của Trường đại học Dân lập Chu Văn An - ngôi trường thơ mộng bên hồ Bán Nguyệt ở thành phố Hưng Yên. Thúy tranh thủ thời gian thực tập đi làm kế toán thuê cho một đại lý dầu Caltex ở huyện Khoái Châu. Nét tươi trẻ của Thúy làm chúng tôi thêm vui. Theo hướng dẫn của cô, xe chúng tôi chạy trên một con đường liên huyện nhỏ hẹp và cũ kĩ. Những làng xóm có phần tiêu điều lùi lại sau xe. Rồi con sông quê hiện ra, nước kém và đục ngàu. Tôi nhận ra con sông Cầu Ngàng hồi 9 tuổi đã từng lặn ngụp khi về quê sơ tán năm 1972. Quê tôi nay đã thành thị trấn Lương Bằng của huyện Kim Động. Phố huyện có nhiều nhà cao tầng, nhưng đời sống của người dân nơi đây còn mang tính chất dân dã. Lại theo tỉnh lộ 39 về phía nam, chúng tôi đến thẳng khu trung tâm chính trị - văn hóa của thành phố Hưng Yên. Chúng tôi cảm ơn cô nữ sinh dẫn đường bằng một tập thơ mới của nhà thơ Vũ Thành Chung.
Trụ sở Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Hưng Yên nằm trong khu nhà cao tầng của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh. Toàn bộ khu vực này được xây dựng theo quy hoạch thành phố nên khá thoáng rộng. Ngay đầu giờ làm việc buổi chiều, Tiến sĩ Hoàng Mạnh Thắng - Phó Chủ tịch Hội, Tổng biên tập Tạp chí Phố Hiến, và sau đó ít phút là nhà thơ Nguyễn Thị Hương - Phó Chủ tịch thường trực Hội - đón tiếp chúng tôi thật chân tình. Nữ sĩ Hưng Yên mang chai rượu Trương Xá - rượu quê đặc sản của Hưng Yên - ra chúc mừng 3 nhà thơ đất Cảng đã lâu không gặp (ảnh trên: Nguyễn Thị Hương và Hoài Khánh). Cuộc hội ngộ thật bất ngờ, nhưng khá thú vị. Nhà thơ Kim Chuông nhắc lại những kỷ niệm xưa với Hưng Yên và bày tỏ niềm vui sau bao năm mới có dịp trở lại vùng đất này.(ảnh dưới, từ trái sang phải: Tiến sĩ Hoàng Mạnh Thắng và các nhà thơ Kim Chuông, Nguyễn Thị Hương, Tô Ngọc Thạch, Hoài Khánh, Lê Hồng Thiện).
Sau đó chúng tôi ra Văn Miếu - Xích Đằng, Nơi đây còn gọi là Văn Miếu Hưng Yên. Đó là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến. Năm 1831, khi tỉnh Hưng Yên được thành lập, thì Văn Miếu Xích Đằng thuộc hàng tỉnh. Văn Miếu được được xây dựng vào năm 1832 và được trùng tu, tôn tạo lớn vào năm Kỉ Hợi 1839 trên nền của chùa làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động xưa, nay là phường Lam Sơn, thạm phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 tháp đá là Phương Trượng tháp và Tịnh Mãn tháp. Văn Miếu hiện nay có 9 tấm bia đá, trong đó 8 bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), 1 bia được lập năm Bảo Đại thứ 18 (1943) ghi danh các nhà khoa bảng Hưng Yên. Có 138 vị đỗ đại khoa được ghi khắc vào bia từ thời Trần đến năm 1919 - khoa thi cuối cùng khoa cử nho học, trong đó có 21 vị nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình (phủ Tiên Hưng trước kia thuộc Hưng Yên). Học vị cao nhất là Trạng nguyên Tống Trân, người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ, đời Trần, Trạng nguyên Nguyễn Kỳ người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu, triều Mạc. Chức vụ cao nhất là Lê Như Hổ, quận công triều Mạc. Hiện tại Văn Miếu đang thờ Khổng Tử, người được suy tôn là "Vạn thế sự biểu", và các chư hiền của Nho gia. Cùng thờ với Khổng Tử là Chu Văn An, người thầy giáo, người hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc Tử Giám. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Văn Miếu Xích Đằng là cơ sở hoạt động bí mật của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ, Tỉnh ủy Hưng Yên. Năm 1992, Văn Miếu Hưng Yên được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử.
Phó Chủ tịch Hội Hoàng Mạnh Thắng còn vào đón thêm nhà thơ Lê Hồng Thiện nhà gần đó ra chơi. Thế là 4 nhà thơ đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam gặp nhau rất vui.(ảnh dưới, trái sang phải: Tô Ngọc Thạch, Kim Chuông, Hoài Khánh, Lê Hồng Thiện)
Một cô nhân viên Ban quan lí di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Hưng Yên nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi vào thăm và dâng hương trong Văn Miếu. Cô gái Hưng Yên này khá duyên dáng và có gương mặt ưa nhìn. Cô tên là Lương Thị Khánh Hiền. Hôm nay, nơi đây bị cúp điện, trời tương đối nóng, nên mọi người phải dùng quạt giấy. Nét cười rạng rỡ của Khánh Hiền như làm mát dịu cả nắng chiều. Chia tay các bạn văn nghệ sĩ Hưng Yên, chúng tôi cứ bịn rịn mãi. Những kiểu ảnh lưu niệm được chụp ngay trong sân chính Văn Miếu - nơi thường được tổ chức những cuộc dâng hương của các sĩ tử trước mùa thi, nơi tổ chức Ngày thơ Việt Nam tại Hưng Yên... Khánh Hiền chụp ảnh cho chúng tôi và tôi rất vui là người duy nhất chụp ảnh chung với Khánh Hiền. (ảnh trên: Khánh Hiền và Hoài Khánh). Đằm thắm lắm, Hưng Yên!
Hiệp hội chọn
khách sạn Hào Hoa của thành phố lịch sử nổi tiếng làm nơi tổ chức hội nghị hàng
năm. Không rõ đây là hội nghị mỗi năm chỉ họp một lần, hay là do có cán bộ cỡ
bự đến dự, mà khách sạn tốt nhất ở thành phố này được làm nhiệm vụ đón tiếp.
Những khẩu hiệu "Nhiệt liệt chúc mừng Hội nghị hàng năm của Hội...thành
công rực rỡ!" "Nhiệt liệt hoan nghênh các thủ trưởng và đại
biểu!", v.v...căng đỏ rực cả một đại lộ.
Từ mọi miền nam
bắc tổ quốc, các đại biểu đã đến.
Ông T. ở miền
Nam đến. nghỉ tại phòng số 1202.
Ông Z. ở phương
Bắc cũng đã đến, ngủ tại phòng số 1302
Cũng có nghĩa là
phòng ngủ của ông T. và ông Z. ở tầng trên và tầng dưới. Họ là một đôi bạn thần
giao cách cảm từ lâu, chẳng thế mà một kẻ nam, một người bắc, cảm ơn hội nghị
này đã làm cho họ xích lại gần nhau trong gang tấc.
Trước hội nghị,
họ đã liên hệ với nhau. Khi đến làm thủ tục đăng kí đại biểu, ông Z. nhìn thấy
tên và phòng của ông T., ông Z. bèn đặt hành lí, vội vàng chạy xuống tầng dưới,
muốn gặp ông T. một chút đã. Không may là ông T. đã đi ra ngoài chơi. Ông T. là
một người mê du lịch, ông ta muốn tranh thủ thời gian chưa họp đi du lịch trước
cho đã cơn nghiện.
Thế là, ông Z.
bèn kiên trì chờ đợi, bình quân cứ mười lăm phút lại chạy xuống tầng dưới một
lần, cho mãi đến lúc đèn màu bắt đầu bật sáng, ông T. mới trở về phòng. Vừa
trông thấy bạn, ông Z. bèn nắm chặt tay ông ta, hỏi:
- Ông là ông T.
phải không?
- Đúng thế! Ông
là...
- Tôi là Z., đây
mà!
- Ồ! Thì ra là
ông Z., một người mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu, ông mới đến ư?
- Xin nói thêm!
Tôi chỉ đến sau ông mười lăm phút, thế mà ông đã đi thăm khắp thành phố, còn
tôi cứ ở lì đây đợi ông đến một ngày!
- Thành thật xin
lôi! Thôi được, chúng ta là bạn, cuối cùng đã gặp mặt nhau rồi, ông vừa xuất
bản tác phẩm mới phải không? Chắc không định tặng tôi một cuốn để hân hạnh được
đọc chứ?
- Tôi đang muốn
được ông chỉ bảo đây!
Vừa nói vậy, ông
Z. bèn lấy trong cặp ra một cuốn sách bìa cứng sang trọng, hai tay nâng lên.
Ông T. nhận
sách, lướt nhìn, bèn nói lớn:
- Sách đẹp quá!
Sách đẹp quá! Tại sao không kí tên làm lưu niệm? Sách đáng tiền! Sách có quí
danh của ông càng thêm đáng tiền!
Ông Z. bèn rút
bút, nắn nót từng nét viết tên của mình, một lần nữa, hai tay nâng sách trao
cho ông T.:
- Mong ông chỉ
bảo nhiều! Mong ông chỉ bảo nhiều!
Ông T. nhận
sách, ngắm nhìn một lát, đặt xuống bàn, sau đó lục trong túi ra một cuốn sách
của mình tặng cho ông Z. nói:
- So với tác
phẩm lớn của ông anh, thằng em xấu hổ quá không biết giấu mặt vào đâu đây? Song
có lại mà không có đi, thì đâu còn là quân tử nữa! Đọc xong đừng cười nhé!
Ông Z. nhận
sách, cảm thấy sách in kém thật, song miệng lại nói :
- Trong nước có
ai là không biết tên tuổi của ông T. chứ! Đừng nói một cuốn sách nổi tiếng, mà
các bài báo nổi tiếng đăng trên báo chí trước đây đều có giá trị không biên
giới, mau kí tên của anh vào đi, tôi cần cả sách quí và quí danh mà!
Ông T. bèn rồng
bay phượng múa kí tên của mình vào sách. Ông Z. vội vàng đón lấy, còn hôn nhẹ
lên sách một cách rất sành điệu, nói;
- Đến hội nghị này,
tôi đã được một thứ quí báu nhất rồi! Thật không uổng công cho chuyến đi này!
Mấy ngày hội
nghị sau đấy, ông T. và ông Z. luôn luôn là hai trọng điểm để các đại biểu bám
theo. Luận văn của hai ông, tác phẩm của hai ông đều làm cho các đại biểu dự
hội nghị sái cổ lác mắt.
Người xưa nói:
Không có yến tiệc nào mà không tàn.
Hội nghị mấy
ngày thấm thoắt đã kết thúc. Khi chia tay, ông T. và ông Z. nắm tay nhau rất
chặt, cùng nói một câu: "Khi nào được gặp lại ông đây?"
Điều làm cho
người ta khó hiểu nhất là, khi tất cả đại biểu dời khỏi khách sạn, nhân viên đi
dọn dẹp phòng, đã bất ngờ phát hiện thấy dưới ga trải giường hai cuốn sách mới
có kí tên to tướng của ông T. ông Z.