Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
HOÀI KHÁNH

Địa chỉ: Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố Hải Phòng
Điện thoại: 0912542158
E-mail: hoaikhanhhp@yahoo.com

Lịch
« January 2012 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Hạnh phúc sống giữa xứ sở thần tiên

2012-01-23 @ 00:00 in Tác phẩm và dư luận

altChúc mừng Xuân mới Nhâm Thìn 2012

altHOÀI KHÁNH_ Đầu xuân Nhâm Thìn 2012 này, Nhà xuất bản Kim Đồng cho ra mắt bạn đọc tập thơ Dắt biển lên trời của Hoài Khánh. Đây là tập thơ thứ tư của tôi, với 20 bài thơ mới sáng tác trong vòng 7 năm qua, dành cho trẻ em, Tập thơ mỏng mảnh chi có 44 trang,, khổ 12x20 cm, ruột in 4 màu. Tập thơ chuyển tải những bài thơ đã được đăng rải rác trên các báo và tạp chí trong nước, trong đó có những bài thơ đăng trên báo Tết Nhâm Thìn 2012 như Hoa xuyến chi (báo Văn Nghệ), Chú chim gõ kiến (báo Hải Dương), Đồng dao (báo Quảng Ninh),... Tập thơ sẽ chính thức đến tay bạn đọc vào đúng dịp Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày thơ Việt Nam lần thứ 10 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Nhân dịp chào đón Tết đến Xuân về, tôi xin tiết lộ đôi điều cùng bạn đọc gần xa về tập thơ nhỏ này của tôi cùng bài viết thay lời giới thiệu của nhà thơ Định Hải in trong phần mở đầu tập thơ.

Hạnh phúc sống giữa xứ sở thần tiên

altTrong khoảng vài chục năm trở lại đây, Hoài Khánh là một trong số hiếm hoi những  nhà thơ viết cho thiếu nhi có dấu ấn đậm nét, có bản sắc riêng biệt khó nhầm lẫn. Cứ đều đặn sau vài năm, anh lại cho ra mắt một tập thơ đặc sắc dành tặng trẻ em. Hầu như ở các cuộc thi sáng tác thơ cho thiếu nhi anh đều đoạt giải, mà thường là giải cao. Lần này, với tập thơ DẮT BIỂN LÊN TRỜI, tôi lại hình dung thấy ngay một con sóng tưng bừng, dạt dào mà phóng túng, đang ào đến từ miền đất cảng Hải Phòng.

Tôi đã đọc môt mạch từ trang đầu đến trang cuối tập thơ. Tôi thấy bài nào cũng có những tìm tòi, phát hiện, những nét mới mẻ, nên thơ. Hầu như bài nào cũng có những câu thơ hay, những câu thơ rất hay, những câu thật bất ngờ làm cho người đọc phải ngạc nhiên lạ lùng. Đúng là có cái gì đó rất gần gũi thân thiết nhưng lại như ảo giác, như trôi trong huyền thoại. Đúng là có cái gì đó khiến cho ta cảm thấy nhà thơ rất gần với trẻ em, thậm chí nhà thơ với trẻ em là một. Có phải thế chăng, khi  ông Viện sĩ Vavilov (Nga) đã nói: “Có nhiều điểm giống nhau giữa cảm nghĩ của trẻ em, của người nguyên thủy và nhà thơ”. Quả là như vậy, nhà thơ- nhất là nhà thơ viết cho thiếu nhi – có nhiều nét đồng điệu với trẻ em. Đọc tập thơ này, tôi càng thấy rõ điều đó.

Có một thời, người ta nghĩ rằng văn học dành cho thiếu nhi trước hết nhằm mục đích giáo dục, kiểu như “Gà giò vào điếm xem tranh. Vẽ con giun đất bò quanh trên đồng. Nhưng vì biết trọng của công. Xem đi xem lại mà không mổ vào”. Bài thơ này được sáng tác từ sau Cách mạng Tháng Tám nhưng lại được tuyển chọn in trong tập “Văn học thiếu nhi 1945- 1960” của Nhà xuất bản Văn học. Có một lần, Viện sĩ Vavilov lại nói :”Khi con trẻ đánh hơi thấy mùi giáo huấn, chúng sẽ bỏ chạy thật xa”. Thật vậy, giờ đây văn thơ cho thiếu nhi không còn cách giáo dục thô thiển máy móc như thế nữa. Đặc biệt với tập thơ của Hoài Khánh, ta thấy anh không cố  tìm cách cúi xuống dạy dỗ các em mà trước hết là chơi với các em, hòa đồng với các em. Đúng là tác giả đã cho chúng ta hiểu trẻ em hơn, yêu trẻ em hơn và hi vọng ở trẻ em hơn. Nếu không hòa nhập với trẻ em, không “hóa thành” trẻ em thì không thể viết được những câu thơ đặc sắc như thế này:

Lon ton quanh vách đá
Bỗng trốn vào thung chơi
Rồi tót về bến cá
Đường chạy thẳng ra khơi

(Đường ra đảo)

Ở đây, ta thấy con đường giống như một đứa trẻ, giống như bầy trẻ đang “lon ton quanh vách đá”. Còn ở nơi khác, ở Trong vườn trẻ thì người lớn cũng thành trẻ con:

Theo bé chơi vườn trẻ
Bố mẹ cũng lon ton…

Hóa ra “lon ton” là “đặc điểm” của trẻ em. Còn “tót về bến cá” thì khác hẳn “ngồi tót sỗ sàng” trong Truyện Kiều rồi. Chữ “tót” của Nguyễn Du là để chỉ lũ người “ăn trên ngồi trốc”, còn chữ “tót” của Hoài Khánh lại là chữ của trẻ thơ, cho trẻ thơ. Cũng giống như trẻ em, con đường ở đảo như có tài biến hóa, đang “lon ton” vào thung chơi, lại bỗng xuất hiện hết sức bất ngờ, chớp nhoáng: “Rồi tót về bến cá/ Đường chạy thẳng ra khơi”. Hóa ra ở đâu có trẻ con thì ở đó có nhiều sự biến hóa bất ngờ, ở đâu có trẻ con thì ở đó sống động lạ thường:

Sáng ra biển hóa trẻ con
Sóng lắc ông trời thức dậy
Dã tràng cõng nắng lon xon
Mắt thụt mắt thò hấp háy

(Xuân trên đảo Bạch Long Vĩ)

Thật dễ hiểu, thơ Hoài Khánh được trẻ em yêu thích chính là vì anh có cái nhìn trong trẻo, ngộ nghĩnh của trẻ em, anh có cách nói rất trúng tâm lí trẻ em, rất đúng với tầm suy nghĩ của trẻ em.

Với lứa tuổi nhi đồng thì:

Bố mẹ ứ được xem
Chú khỉ ngồi nhai kẹo.

Và:

Anh đu quay dừng bước
Như muốn đòi ăn kem.

(Trong vườn trẻ)

Với lứa tuổi “chanh cốm” thì:
Cánh hoa nhẹ vương xuống tóc
Dịu thơm khúc khích tiếng cười.
Và:
Bạn gái nào vừa thổn thức
Giữa muôn mắt lá vẫy mời…

(Tháng ba Hưng Yên)

Nếu không nhìn bằng ánh mắt trẻ thơ thì làm sao có thể hình dung một cảnh tượng sống động trước một loài cây tĩnh lặng:

Kìa nắng tong tả tới
Ngã nhoài vào hương thơm.

(Hoa sói)

Đúng là phải “thuộc” trẻ em lắm, phải đào sâu tìm tòi trong thế giới trẻ em kì thú ấy tác giả mới viết được mấy chữ “nắng tong tả” và “ngã nhoài vào”. Dĩ nhiên ở đây còn có chất thơ trợ giúp vì nắng không ngã vào hoa mà là ngã vào… hương thơm mới thú vị chứ!

Đặc biệt trong bài “Chú bê láu táu”, Hoài Khánh đã tìm được đúng “mỏ” từ ngữ hợp với tuổi thơ: “Nhông nhông theo mẹ/ Khoác bộ áo choàng/ Chân bước nhênh nhoang/ Vẫy đuôi túng tắng/ Nghiêng đầu thủng thẳng/ Giẫm lên bóng mình…”

Với lứa tuổi thiếu niên lớn, tác giả lại có những từ dùng rất “đắt”, đúng là những từ ngữ “điểm huyệt”:

Bạn nào ngang qua đó
Cũng bần thần bước đi.

(Hoa xuyến chi)

Những chùm hoa muống
Như vừa tím hơn
(Điện về làng đảo)

Và:

Lao xao bao chùm hoa muống
Theo em líu ríu tới trường
Xuân về đảo Đuôi Rồng Trắng
Biển trời như ướp bằng hương

(Xuân trên đảo Bạch Long Vĩ)

Tôi hình dung tác giả đang kì công tìm kiếm trong kho tàng ngôn ngữ dân tộc, đặc biệt trong ca dao truyền thống, nên thơ của anh rất nhuần nhị, uyển chuyển, vừa rất đời thường bình dị, vừa rất tinh tế mượt mà:

-Làng thức lúc trời tang tảng
-Ngày nào cũng thể sang xuân
-Lúa chiêm luống cuống
Phất lên ngọn cờ.

Hơn thế nữa, tác giả còn “làm mới” cho kho tàng từ ngữ truyền thống:

-Táo vườn nưng nức hương thơm.
- Đất trời sang tuổi ô mai
-Đón xuân sang với lời chào rất xanh.

Cuối cùng, tôi muốn dừng lại ở bài thơ tôi thích nhất: Nếu Hải Phòng chỉ toàn người lớn”.

Có lẽ đây là bài thơ mà cả trẻ em và người lớn đều yêu thích vì lứa tuổi nào cũng soi thấy có mình trong đó. Bài thơ xác định trẻ em ở vị trí trung tâm, trung tâm trong gia đình, trung tâm ngoài xã hội, trung tâm giữa thế giới này. Ở đây tác giả có cách luận giải ngược chiều, giống như cách luận giải của nữ sĩ Xuân Quỳnh trong bài thơ “Chuyện cổ tích về loài người”, giống như cách luận giải của dân gian: “Sinh con rồi mới sinh cha/Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Đúng như vậy, thành phố Hải Phòng sẽ không còn gì cả nếu không có trẻ con:

-Bác bảo vệ chẳng có người để mắng
Biết tìm ai hái trộm táo ông trồng.
-Phố Cát Cụt mưa rào không người tắm
Biển Đồ Sơn con sóng bớt nhong nhong.

Có lẽ niềm an ủi lớn nhất đối với chúng ta là được sống giữa thế giới trẻ em, sống giữa xứ sở thần tiên ấy.

Hà Nội, ngày 28-12-2011

ĐỊNH HẢI

Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng gặp gỡ đầu năm 2012

2012-01-15 @ 20:41 in Thông tin tổng hợp

Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng gặp gỡ đầu năm 2012

alt

Sáng thứ bảy, ngày 14-1-2012, tại trụ sở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thiết bị Hồng An - Hải Phòng, trong không khí vui đón Tết Nguyên đán Nhâm Thìn, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng tổ chức buổi gặp gỡ đầu năm với toàn thể hội viên. Đến nay, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng có 27 hội viên.

Sau khi thay mặt toàn thể Chi hội tặng hoa chúc mừng 2 hội viên mới là nhà thơ Nguyễn Công Nam và nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, trong sự đầm ấm, thân mật của tình đồng nghiệp, nhà văn Đình Kính - Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng -. đã điểm lại một năm hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam, của Chi hội Hải Phòng, khẳng định những thành tích trong lao động nghệ thuật của các nhà văn, chỉ rõ nguyên nhân cả việc chưa làm được. Năm qua, các nhà thơ Kim Chuông, Mai Văn Phấn, Tô Ngọc Thạch, các nhà văn Bùi Ngọc Tấn, Đình Kính, Lưu Văn Khuê, Nguyễn Quốc Hùng đều cho xuất bản những tập thơ, truyện ngắn, kí và tiểu thuyết. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, trong cả ngày 15-5-2011, Chi hội đã phối hợp với Hội Nhà văn Hải Phòng tổ chức thành công Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn với quy mô lớn. Nhà thơ Mai Văn Phấn và nhà văn Đình Kính đều đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 và 2011. Một số nhà văn, nhà thơ Hải Phòng được Hội Nhà văn Việt Nam đầu tư sáng tác. Nhà thơ Phạm Xuân Trường tham gia Hội thảo tại Thái Bình do 8 Hội Văn học Nghệ thuật các tỉnh, thành phố thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng tổ chức. Trên cương vị được phân công, nhà văn Đình Kính là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng Ban công tác Nhà văn khu vực các tỉnh, thành phố phía Bắc đồng thời là Trưởng Ban công tác Nhà văn khu vực các tỉnh Bắc miền Trung, nhà thơ Thi Hoàng là Ủy viên Hội đồng Thơ, nhà văn Bão Vũ là Ủy viên Hội đồng Văn xuôi, đều đóng góp tích cực vào những hoạt động văn học của cả nước và công tác Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiếp đó, các nhà văn Cao Năm, nhà thơ Lê An Dương có những ý kiến bàn thêm về việc tổ chức các cuộc hội thảo văn học, những chuyến đi thực tế sáng tác, những cuộc giao lưu, trao đổi nghiệp vụ sáng tác với các nhà văn, nhà thơ của các địa phương bạn, nhằm khích lệ, tạo môi trường sáng tác tốt hơn cho hội viên. Trong năm 2012, Chi hội sẽ cố gắng tổ chức những chuyến đi thực tế sáng tác hoặc cử người tham gia các Trại sáng tác toàn quốc. Trước mắt, các nhà văn, nhà thơ Hải Phòng sẽ tích cực cùng các hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng tham gia chương trình Ngày Thơ tại Hải Phòng và tích cực tham gia trình diễn thơ và xây dựng gian trưng bày thơ trên Sân thơ Quốc tế tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, nơi Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Ngày Thơ Việt Nam lần thứ X tại Hà Nội. Ngày Thơ Việt Nam tại Hải Phòng năm nay sẽ được tổ chức vào sáng thứ tư, ngày 1-2-2012 (tức ngày 10 tháng Giêng xuân Nhâm Thìn), tại Cung văn hóa lao động hữu nghị Việt -Tiệp.

alt

Phát biểu chung vui với các nhà văn đất cảng, nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng - đã cung cáp thêm những thông tin về hoạt động văn học nghệ thuật của Hải Phòng năm nay, như: kỉ niệm 30 năm Ngày mất của nhà văn Nguyên Hồng, biên soạn và xuất bản 6 cuốn sách (trong đó có 5 tuyển tập thơ và truyện ngắn), tăng kì xuất bản tập chí Cửa Biển ra mỗi tháng một số.

Buổi trưa cùng ngày, diễn ra bữa tiệc liên hoan thân mật giữa các đại biểu dự cuộc gặp mặt. Cũng như nhiều năm trước, trong điều kiện kinh phí hoạt động còn gặp nhiều khó khăn, nhưng năm nay Ban Chấp hành Chi hội vẫn cố gắng lo cho mỗi hội viên có một túi quà Tết.

HOÀI KHÁNH

Mai Văn Phấn tìm biểu tượng mới cho tình ái

2012-01-03 @ 01:02 in Tác phẩm và dư luận

altHOÀI KHÁNH: Danh sách Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2010 và 2011 vừa được công bố tại Hội nghị văn học năm 2011) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức sáng hôm qua 2-1-2012 tại Hà Nội. Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2010 trao cho 6 tác phẩm: Lỏng và ruột  (Tập truyện ngắn của Trần Đức Tiến) , Lính trận (Tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh). Minh sư (Tiểu thuyết lịch sử của Thái Bá Lợi), Giữa dòng chảy lạc (Tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam), Bầu trời không mái che (Tập thơ của Mai Văn Phấn), Sóng và khoảng lặng (Tập thơ của Từ Quốc Hoài). Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2011 trao cho 5 tác phẩm:: Đội gạo lên chùa (Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh), Huyền thoại tàu không số (Ký của Đình Kính), Ngày linh hương nở sáng (Tập thơ của Đinh Thị Như Thúy), Hoan ca (Tập thơ của Đỗ Doãn Phương), Luận bàn Minh triết và minh triết Việt (Li luận phê bình của Hoàng Ngọc Hiến). Ngoài ra, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam còn tặng bằng khen cho 2 tác phẩm của các tác giả: Một bàn tay thì đầy (Tiểu thuyết của Hoàng Việt Hằng), Bài hát ngày mai (Tập bản dịch của Lê Đăng Hoan, dịch thơ của tác giả Ko Un - Hàn Quốc). Xin chúc mừng các tác giả đoạt giải thưởng và được nhận tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Thành phố Hải Phòng có 2 nhà văn đoạt giải là Mai Văn Phấn và Đình Kính. Để chung vui vơi nhà thơ Mai Văn Phấn và hiểu thêm về thành công của anh qua tập thơ Bầu trời không mái che (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2010), blog Hoài Khánh xin chuyển tới bạn đọc bài viết sau đây.

Mai Văn Phấn tìm biểu tượng mới cho tình ái

Như­ thể đến hẹn lại lên, sau hai tập “Hôm sau”, và “Đột nhiên gió thổi” (2009), cuối tháng 11 năm nay (2010), Mai Văn Phấn trình làng một tập thơ mới “Bầu trời không mái che”.

“Không mái che” biểu hiện cho cái gì? Ng­ư­ời ta thư­­ờng nói về một sự hưởng thụ không gian như­­ “bữa ăn ngoài trời”, tiệc ngoài trời, hay dã ngoại ngoài trời… Vậy chữ “ngoài trời” biểu hiện cho cái gì? Ngoài trời, nghĩa là tất cả những cánh cửa đã đ­ư­ợc tháo tung, những biên giới đã đ­ư­ợc tháo cởi, những rào che đã đư­­ợc tháo bỏ… ngư­­ời ta đ­ư­ợc tự do hoàn toàn, mọi thứ đều phơi lộ để hư­ởng thụ một không gian thoáng đạt cùng những làn gió dào dạt thổi không vách ngăn, không bến, không bờ. Và ánh sáng trắng của mặt trời, thứ chói sáng nhất trên thế gian này, thứ ánh sáng mạnh hơn mặt trăng đến cả triệu lần. Ánh sáng đó chảy tràn trong không gian tháo tung và phơi mở, lùa vào tận chân tơ kẽ tóc mọi vật không mái che. Và hiển nhiên nó sẽ khải hoàn ca trên những gì đư­­ợc phô bày, phơi mở...

Đó là không gian tìm kiếm tình ái trong tập thơ “Bầu trời không mái che” của Mai Văn Phấn. Anh giành cả tập thơ này để tận hư­­ởng, chìm đắm, chia sẻ, hân hoan và thậm chí ngụp lặn, rồi cất cánh thăng hoa cùng tình ái. Lâu nay, chúng ta vẫn biết, vẫn nói về một phong trào thơ văn sex. Nghĩa là có một bộ phận đông đảo các cây viết chú mục lao vào biểu hiện các trạng thái mặc cảm sex, khao khát sex, quyến rũ sex, và trư­­ng diện sex…

Nói cách nghĩa đen, Mai Văn Phấn cũng lao vào lãnh địa sex, nh­ưng khác hẳn mọi ngư­­­ời, Mai Văn Phấn đã tấn phong cho chiếc giư­­­ờng tình ái thành những miền ảo ảnh - bay bổng những hân hoan lý tư­­­ởng và siêu việt, vì thế ái tình đã đánh rơi mọi ngôn từ phơi lộ trực tiếp để trở thành một mảnh đất bồng lai mộng mơ nào đó.

Mở màn, Mai Văn Phấn không nhìn bạn tình nh­ư­­ một hình thể giới tính gợi dục trực tiếp, mà phái đẹp giống như­­­ một đào hoa tri kỷ, cơ thể nếu có mở ra, thì đó chỉ là cánh cửa đón rư­­­ớc tâm hồn ta chảy cùng nàng đến một thiên thai. Mai Văn Phấn tả bạn tình:

                        Bờ vai em bức t­ư­­ợng ngày x­a
                        Anh giấu kín ngăn sách
                        Ngọn đồi kiêu hãnh
                        Nâng anh gió mạnh
                        Cây cầu bắc qua tháng ngày
                        Nơi lũ trẻ giữ bao bí ẩn
                        Vạt cỏ mềm cơn mơ âu yếm
                        Quấn chặt anh chăn ấm sơ sinh

Ái tình với Mai Văn Phấn không bao giờ chỉ đơn giản là sự hợp cẩn, mà luôn luôn trong chiều sâu sức hút âm dư­ơng của nó, là nhựa sống đang chảy trên lá, trên cành, là sức sống như­­ nguyên lý càn - khôn đang âm thầm cuộn chảy trong mọi nguồn mạch của vũ trụ, từ dòng suối trên núi cao đổ xuống đến những gân mạch của từng chiếc lá đang hút n­ư­ớc và ánh sáng mặt trời:

                        V­ư­ơn thẳng
                        Tán cây quang hợp mặt trời
                        Lá chồng lên nhau hoan hỉ
                        Bật dậy thở chung dòng nhựa
                        Máu từ đất đai chạy qua bàn chân

Như­­ng mở màn của hoà âm tình yêu, tr­ư­ớc đó luôn luôn là giai điệu vò võ của cô đơn. Một hạt nhân nếu không co rút về số một là chính nó, chính cái bản tính thuộc về nó, thì nó không bao giờ có thể phát triển nở thành cây quả mang theo hạt nh­ư­ nó. Một chiếc giầy bên phải nếu không có độ cong ngư­­ợc với chiếc giầy bên trái, thì không bao giờ cả hai có thể kết hợp thành một đôi giầy. Vì thế, có một triết gia mới nói: “Phải là mình một cách hoàn hảo nhất mới có thể kết hợp với ng­ười khác đ­ược”. Với Mai Văn Phấn cũng vậy, trư­ớc khao khát hợp đôi của tình ái, anh đã thấy cuộc đời mình thiếu vắng vô tận. Thiếu đến đâu? Thiếu khuyết cả một nửa để vĩnh viễn định nghĩa mình không bao giờ toàn vẹn mà chỉ là một nửa mà thôi:

                        Lúc cô đơn anh nghĩ
                        Là nửa trái cây
                        Nửa tiếng chim hót
                        Nửa hang sâu
                        Một phần tiếng động
                        Nửa con cá
                        Một góc thân tầu
                        Nửa lặng im nối vào mặt phẳng

Có một triết gia nói: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, như­ng một nửa chân lý không bao giờ là chân lý cả”. Trong sự cô đơn xót xa, hành trình tư­ duy của Mai Văn Phấn đã tìm đến cái đích trống vắng, h­ư vô, và xót xa này. Một nửa trái cây­? Vẫn là trái cây! Một nửa tiếng chim hót thì là cái gì? Chẳng lẽ có một nửa nốt son! Một nửa tiếng đàn thì là cái gì? Không, nó không thể trở thành tiếng đàn, mà chỉ là tiếng dây thép lùng bùng vì căng chư­a thẳng mà thôi. Một nửa con cá? Thì là con cá chết! Một góc thân tàu ? Thì tàu sẽ đắm! Và anh chỉ có nửa thân anh, làm sao có thể kéo lê ranh giới để làm thành một nửa vư­ơng quốc của tình yêu. Không! Em ơi, một nửa của em, một nửa của tình yêu sẽ là tất cả. Bởi lúc đó chúng ta mới có thể chập lại thành con tàu l­ướt trên mặt sóng. Còn nếu không có em, anh chỉ là nửa lặng im trôi vào mặt phẳng. Mặt phẳng là cái gì? Là thân anh không thể kéo dài thành những đ­ường cong hút hồn của em, những đường cong r­ước anh b­ước vào thế giới thiên thai cực lạc, quên ngày, quên tháng, để tụ về ý nghĩa của hạnh phúc. Nếu không có em, ái tình của anh sẽ bị trôi vào mặt phẳng. Mặt phẳng ở đây là vô cảm, vô nghĩa, vì nó thiếu những đường cong để trở thành cuộc lắp ráp ý nghĩa tuyệt đối cho ái tình.

Và Mai Văn Phấn mặc cảm cô đơn như­ một chiếc giầy không có đôi, một con chim lạc bầy, hay một gã đàn ông không đư­ợc ở bên ngư­ời bạn tình khác giới. Không! Mai Văn Phấn đã đem vào nỗi cô đơn của mình những vỉa quặng sâu nhất của tiềm thức. Cô đơn nh­ư đỉnh núi chon von, như­ng không phải chỉ đỉnh núi cô đơn, mà nỗi cô đơn đó đư­ợc đặt móng từ sâu thẳm lòng đất, tối tăm, hoang vu, lạnh lẽo. Cô đơn rùng mình cơn tê tái thấu suốt cái địa tầng. Đúng thế, Mai Văn Phấn đã m­ượn cả lý thuyết vô thức, mặc cảm tình dục bị dồn nén của Freud để miêu tả nỗi cô đơn của mình. Trong những khao khát hợp đôi với bạn tình, những cơn mơ trá hình mang theo hình ảnh giao hoan, như­ chìa tra vào khoá, gậy chọc vào bùn, rui cắm vào mè… Còn vô thức giới tính của Mai Văn Phấn thì mang hình cái bút, đang tự nhiên ngắm nỗi cô đơn chư­a đ­ược chấm vào mực của mình!

Chiếc bút trên bàn. Khi dọn dẹp vẫn muốn để lại. Cầm bút thư giãn, vừa lạ vừa quen. Quản bút nhẵn ngón tay cầm. Đôi khi tháo ruột bút xem (phải tháo trộm vì hành vi quái đản). Mở nắp bút như bật cánh cửa, cậy nắp hầm tối... Cảm giác chợt thức, chợt mở mắt. Muốn tháo nắp bút một nơi. Nắp bút để trên, thân bút bên phải hay ở dưới. Cả ngược lại.
 
Mở…
Lắp...

Sau cô đơn đã biến thành trận cuồng phong của khao khát. Nó biến thành cơn gió mạnh mẽ muốn xé nát cả những đỉnh núi đợi chờ trong cơn hoá đá, rêu mờ:

                        Nhoài lên mỏm đá sắc
                        Thân thể gió trầy x­ước
                        Máu của gió là m­ưa
                        Nắng nhỏ xuống
                        …
                        Giang tay núi đạp chân vào đất
                        Vò nát
                        Xé toang thân gió
                        Ánh sao rơi
                        Buổi sớm vỡ oà

Ái tình với Mai Văn Phấn dâng lên từ cô đơn, chẳng khác gì vực thẳm xây lên non cao. Nh­ưng xa hơn thế nó chẳng khác gì dòng nư­ớc đư­ợc bắt nguồn từ luồng lạch, từ hạt giống, từ khao khát sinh sôi để truyền sinh. Ái tình đ­ược thực hiện nh­­ư nguyên lý nảy mầm sinh sôi cho cây cỏ, chim muông và toàn thể vũ trụ, trong đó có nàng với chàng d­ư­ờng nh­­ư là cặp nhân vật chính của khát vọng gieo hạt:

                        Tìm miệng anh gieo hạt
                        Gió níu chân tay đất dịu dàng
                        …
                        Chớp sáng nứt vỏ
                        Mùa xuân trào miệng hát
                        Chờ nảy lá mầm
                        Gió mang mặt đất đi

Đây là những câu thơ hay, đặc biệt hai câu cuối rất hay. Chẳng có gì nặng nề nh­ư đất, trong Kim Dịch, trong các thành tố Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ, thì Thổ - tức đất đai vẫn đ­ược coi là thành tố nặng nề nhất, vì nư­ớc thì chảy, hoả thì bốc cao, còn đất thì ù lì bất động nằm nguyên đó… Vậy mà ái tình như­ làn gió của Mai Văn Phấn có thể “Gió mang mặt đất đi” thật là thăng hoa mãnh liệt, ào ạt vỗ sóng, cuồn cuộn vô bờ. Và sức mạnh đó d­ường như­ chỉ đ­ược bắt đầu từ đôi môi nàng “tìm miệng anh gieo hạt”. Rồi đan lồng vào đó là một sức mạnh thật tinh tế phi phàm, sức mạnh của mầm cây, ánh sáng và trí tuệ.

                        Chớp sáng nứt vỏ
                        Mùa xuân trào miệng hạt

Và sức mạnh ái tình đó nh­ư ngọn gió thần diệu đã thổi bốc mọi thứ lên tận đỉnh chon von. Còn cao hơn cả đỉnh, nó nhắm h­ướng cả mặt trăng bay tới:

                        Anh dìu em lồng lộng váy hoa
                        Hôn em, ngón tay út
                        Nâng em lên trăng

Ái tình đó vút lên như­ lùa vào sức sống của Càn - Khôn một sức sống sinh nở tinh khôi, làm cho đất đai sáng sủa, rực rỡ, tư­ơi tắn, hồi sinh:

                        M­ưa thuận gió hoà gót chân
                        Trái tim rộng ràng ngực đất
                        Dòng trăng cuồn cuộn thân cây
                        Lư­ớt nhanh nữa cho đất đai thêm sáng
                        Dấu chân, bàn tay anh dài theo

Tình yêu giúp cho con ng­ười ta nhận ra toàn thể mình thông qua một nửa kia. Và khi thiếu vắng nửa kia ngư­ời ta liền mất cơ hội kết nối lại chính bản thân mình. Mai Văn Phấn đã cảm nhận, không có em, cả thế giới như­ bị bỏ rơi, nó rơi vào vô nghĩa, vì không gian như­ thể thiếu chỗ đặt mũi kim của chiếc compas để quay một vòng tròn bao quanh thế giới. Thiếu em, thế giới anh trở thành vô cảm. Anh không thấy gì! Không nghe đ­ược gì nữa:

Không ai giữ lại hồi còi đang lan trên đất. Tiếng còi kia vừa chạm anh, không vượt qua anh. Phía sau im lặng. Mọi vật trôi nh­ư nó vẫn trôi.

Khi em xuất hiện thì thế giới dư­ờng như­ đư­ợc trở về trục quay của nó. Nhân danh em, mà thế giới mang khuôn mặt mọi ngư­ời trở nên sống động, rồi lại hít thở, lại ca hát, lại đau buồn, rồi lại sinh sôi: “Chỉ khi có em, tiếng còi kia lại tiếp tục trôi nhanh, dù con tàu đã rất xa”. Và khi em có mặt vụ bội thu của những nụ hôn lại ào ào gặt hái qua một đôi môi khả ái rất miệt mài đói khát:

                        Hôn và cầm tay anh
                        Tiếng chuông gió phủ dầy
                        Lá cây không dừng đ­ược
                        Gió thốc ngược cây rơm, mái rạ
                        Giật tóc, rách áo anh

Tình yêu trong Mai Văn Phấn không đơn giản là một chiếc gi­ường hoan lạc. Mà đó là một quá trình nh­ư nụ ra hoa, rồi hoa ra quả. Những nụ hôn có thể hiện lên như­ khao khát của hiện tại, những khao khát đó bắt nguồn từ hang thẳm cô đơn, đòi sống, đòi yêu và đòi gieo hạt. Rồi cuối cùng đòi đ­ược giang tay đón hài nhi chào đời từ giữa cơn đau tràn đầy hạnh phúc. Một cơn đau vĩ đại như­ sự trở dạ của Càn - Khôn muốn làm nên một cuộc sinh thành khai thiên lập địa:

                        Ngọn cây v­ươn mỏ con chim
                        Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió
                        …
                        Đặt con lên đất
                        Lòng sông đau xé thân đêm
                        …
                        Giọng nói rất gần
                        D­ưới bình minh con hãy lột xác

Cả cuốn thơ dày hơn 120 trang của Mai Văn Phấn đ­ược chú mục riêng cho chủ đề tình yêu, chính xác hơn là nhắm thẳng vào tình dục. Như­ng ng­ười đọc không thấy gợi lên bất cứ một câu dung tục, thẳng t­ưng, trắng trợn nào, mà nó như­ làn gió siêu hình r­ước ái tình b­ước vào những cơn mơ, những ám ảnh, những hoài ức, những mư­ờng tư­ợng, và những giá trị đ­ược siêu việt hoá, lý tưởng hoá của tình dục thân xác. Nói đúng hơn, nó thánh hoá thân xác trong lộng lẫy, đẹp đẽ và lý tư­ởng để cất cánh bay cùng với tâm hồn đến cõi thiên thai, hoặc đến nơi mà tình dục đ­ược soi vào chiếc gư­ơng toàn thể của mình, bao gồm: tiềm năng tình dục, chức năng tình dục và cứu cánh sinh hoa kết trái của thân xác đ­ược cứu rỗi cùng một lúc với tâm hồn. Thứ tâm hồn lúc nào cũng tham dự với thân xác để cứu vãn tình yêu khỏi tiêu cháy đồng xu cuối cùng ở chốn nhục thể, thanh lâu.

Và một ái tình nh­ư vậy đã sản sinh, hoá sinh và phục sinh thế giới bay khỏi đầm lầy chăn gối xây một thế giới thiên thai ngự trên những vì sao. Đó là thông điệp, theo tôi Mai Văn Phấn muốn gửi đến mọi ng­ười qua tập “Bầu trời không mái che”.

Đồ Sơn, 3-12-2010

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

Cuốn sách Huyền thoại tàu không số

2012-01-03 @ 01:02 in Tác phẩm và dư luận

http://vanvn.net/upload/news/admin/2011/09/4e840214cf5eb.jpgHOÀKHÁNH: Danh sách Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2010 và 2011 vừa được công bố tại Hội nghị văn học năm 2011) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức sáng hôm qua 2-1-2012 tại Hà Nội. Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2010 trao cho 6 tác phẩm: Lỏng và tuột  (Tập truyện ngắn của Trần Đức Tiến) , Lính trận (Tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh). Minh sư (Tiểu thuyết lịch sử của Thái Bá Lợi), Giữa dòng chảy lạc (Tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam), Bầu trời không mái che (Tập thơ của Mai Văn Phấn), Sóng và khoảng lặng (Tập thơ của Từ Quốc Hoài). Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2011 trao cho 5 tác phẩm:: Đội gạo lên chùa (Tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh), Huyền thoại tàu không số (Ký của Đình Kính), Ngày linh hương nở sáng (Tập thơ của Đinh Thị Như Thúy), Hoan ca (Tập thơ của Đỗ Doãn Phương), Luận bàn Minh triết và minh triết Việt (Li luận phê bình của Hoàng Ngọc Hiến). Ngoài ra, Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam còn tặng bằng khen cho 2 tác phẩm của các tác giả: Một bàn tay thì đầy (Tiểu thuyết của Hoàng Việt Hằng), Bài hát ngày mai (Tập bản dịch của Lê Đăng Hoan, dịch thơ của tác giả Ko Un - Hàn Quốc). Xin chúc mừng các tác giả đoạt giải thưởng và được nhận tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Thành phố Hải Phòng có 2 nhà văn đoạt giải là Mai Văn Phấn và Đình Kính. Để chung vui vơi nhà văn Đình Kính và hiểu thêm về thành công của anh quacuốn sách Huyền thoại tàu không số (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011), blog Hoài Khánh xin chuyển tới bạn đọc một só thông tin sau đây.

Cuốn sách Huyền thoại tàu không số

Huyền thoại tàu không số (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011) là cuốn sách thuộc thể ký của nhà văn Đình Kính. Sách dày gần 400 trang, ghi lại một cách chân thực những kỷ niệm, những câu chuyện của cán bộ chiến sĩ và nhân dân đã từng tham gia làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trên biển trong những năm chiến tranh.

Trong lời giới thiệu cuốn sách Huyền thoại tàu không số, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu ghi rõ: Đường Hồ Chí Minh trên biển là kỳ tích có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, nó thể hiện nghệ thuật quân sự tài tình, sự độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tôi hoan nghênh Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển đã tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách Huyền thoại tàu không số nhằm ghi lại một cách chân thực những kỷ niệm, những câu chuyện của cán bộ chiến sĩ và nhân dân đã từng tham gia làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trên biển trong những năm tháng chiến tranh. Đây là việc làm cần thiết và hữu ích, không chỉ để người trong cuộc ôn lại kỷ niệm hào hùng của quá khứ mà còn có tác dụng giáo dục con cháu về truyền thống đánh giặc của cha ông”.

Trong buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu cuốn sách này, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - nhấn mạnh: “Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển là một sáng tạo vĩ đại của toàn Đảng, toàn dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nhưng vì những lý do đảm bảo bí mật tuyệt đối cho con đường Hồ Chí Minh trên biển, đoàn tàu không số không hề được tuyên truyền trong suốt cuộc chiến tranh và ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc nhiều vấn đề, sự kiện , con người liên quan đến con đường huyền thoại này vẫn đang còn nằm trong khu vực được coi là nhạy cảm. Cùng với thời gian, sự vĩ đại của con đường huyền thoại này ngày càng được sáng tỏ khiến không chỉ nhân dân ta mà cả bạn bè quốc tế cũng phải kinh ngạc và thán phục. Sự hy sinh thầm lặng của họ gợi nhớ câu thơ của nhà thơ Chính Hữu: Việc ta làm mà chính ta kinh ngạc. Rất may mắn là ngay trong những năm chiến tranh, quân đội ta đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho nhà văn, đã tạo điều kiện cho các nhà văn có mặt trên nhiều chiến trường, “cài cắm” các nhà văn trong các quân binh chủng, anh Đình Kính được sống, chiến đấu và làm việc trong Quân chủng Hải quân nhiều năm cùng với các nhà văn khác như: Lê Hoài Nam, Trần Đăng Khoa. Chính vì vậy, từ rất lâu chúng ta đã có những tác phẩm làm phát lộ một phần sự vĩ đại của con đường huyền thoại này. Đến ngay hôm nay, với 2 tác phẩm văn học và điện ảnh này, chúng ta đã góp phần làm sống lại một huyền thoại. Có thể nói, nhà văn Đình Kính là “người đánh bắt xa bờ” của Hội NVVN về đề tài này. Nhưng những tác giả thật sự của sự nghiệp anh hùng này là những chiến sỹ trên con tàu không số, trong đó có một số cựu chiến binh hôm nay có mặt tại đây. Các anh mới chính là những người tạo cảm hứng cho hai tác giả Đình Kính và Minh Chuyên làm nên bộ đôi tác phẩm này. Việc Đảng và Nhà nước ta có chủ trương kỷ niệm 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên biển vào thời điểm này là vô cùng ý nghĩa, nó khích lệ tinh thần yêu nước, tinh thần sáng tạo của quân dân cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước ta…”. Còn nhà văn Đình Kính cho biết: " Có lẽ ít người trong số chúng ta biết rằng cả một chiến công vĩ đại, một con đường đã trở thành huyền thoại như thế mà chỉ mới có 4 người được phong Anh hùng. Trong khi mỗi chiến sỹ của đoàn tàu không số đều xứng đáng là một anh hùng. Tôi xin kể thêm một chi tiết: Để xây dựng cảng đón tầu ở Cà Mau, chúng ta phải đề ra những quy chế để giữ bí mật tuyệt đối, nội bất xuất ngoại bất nhập. Có anh nhớ vợ quá, đang đêm trốn về với vợ. Thủ trưởng đơn vị cho quân đuổi theo với mệnh lệnh, không vận động được chiến sĩ đó quay lại được thì phải “xử lý” và các đồng đội đã buộc phải thi hành mệnh lệnh cuối cùng. Sự mất mát là vô bờ. Sau cái đêm định mệnh đó, người chỉ huy đã bạc trắng cả mái đầu vì đau đớn. Những câu chuyện tôi góp nhặt trong quá trình đi thực tế tìm hiểu còn rất nhiều, một số chi tiết đã được đưa vào cuốn sách này. Khi được phối hợp với đạo diễn Minh Chuyên để làm bộ phim cùng tên tôi cảm thấy vô cùng may mắn, nhưng may mắn hơn nữa là đã được Hội Truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển nhiệt thành ủng hộ. ".

Có thể nói, tác phẩm văn học Huyền thoại tàu không số góp phần làm sáng huyền thoại về đường Hồ Chí Minh trên biển. Những câu chuyện về Đoàn tàu không số sẽ mãi sáng ngời trong trang sử oanh liệt của dân tộc như một thiên anh hùng ca bất tử, tô thắm truyền thống đánh giặc giữ nước của quân dân Việt Nam, tiếp thêm sức mạnh cho mọi thế hệ phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HOÀI KHÁNH

Tia nắng xanh (phần 3)

2011-12-29 @ 00:39 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Xuân quêalt

Xuân này em lại về quê
Đâu ham thú vui thành phố
Bánh chưng, rau dưa, thịt mỡ
Cũng thành cái Tết quê thôi
 
Chẳng cần pháo hoa tím trời
Giao thừa thoảng hương thơm ngát
Gió ngoài vườn như lời hát
Tết thì thầm dưới hàng hiên
 
Thiêng liêng lời khấn tổ tiên
Ngỡ như bà về kể chuyện
Một tuổi mới tới bên em
Tưởng ngàn mùa xuân cũng đến.
Xuân 1996

Thăm Thủ Đô

Lên Thủ Đô với bố
Vào viếng Lăng Bác Hồ
Ngắm ông mặt trời đỏ
Ngủ hiền từ trong Lăng
 
Đây Hồ Gươm xanh trong
Gợi chuyện vua Lê Lợi
Kia Cột cờ Hà Nội
Nhớ Mùa Thu huy hoàng
 
Những toà nhà khang trang
Mọc kề bên phố cổ
Em ngồi sau  xe bố
Lạc vào hương sữa bay
 
Chiếc kem nhỏ cầm tay
Ôi, mát ơi là mát !
Thăm Thủ Đô hôm nay
Lòng em khe khẽ hát...
 Hà Nội, 8-1996

Quạt trần

Giấu gió vào trong ba cánh
Treo lơ lửng suốt mùa đông
Đến hè quạt trần chạy mạnh
Thả mùa thu xuống quanh phòng
 
Đuổi cái nắng ra khỏi mẹ
Quay tròn thổi mát cho ông
Có điều này bạn biết không
Quạt chẳng quạt mình đâu nhé.

8-1996

Nhận thư con

Bố nằm trên viện Mắt
Mẹ cầm thư con lên
Cồ cộ hàng chữ viết
Nghều nghễu nét chì đen
 
“ Bố ơi, mau khỏi bệnh
Về nhà chơi với con
Ngồi bên máy điện tử
Bố con mình chiu chiu...”
 
Đọc xong trang giấy nhỏ
Bố thấy khỏe lên nhiều
Chữ nhoè hoe mắt đỏ
Tưởng con vụt lớn khôn.

Viện Mắt - Hà Nội, tháng 8-1996

Chim đầu rìu

Líu ríu ven sườn núi
Bay từng đôi gọi hè
Khi dựng mũ lên khoe
Giống chiếc rìu bổ củi
 
Mỏ cong dài thuồi thuỗi
Lưỡi lại ngắn tẻo teo
Nhưng chim chẳng kèo nhèo
Chỉ lắc đầu xí xoá
 
Xây nhà trong kẽ đá
Kiếm mồi trên cỏ khô
Ngay từ sáng tinh mơ
Chim đã lùng sâu bọ
 
Có ích dù việc nhỏ
Chim vẫn say sưa làm
Tối về xếp mào ngủ
Nghe cây rừng râm ran.

11-10-1996

Lời của hoa

Ông nhíu mắt lắng nghe những loài hoa thỏ thẻ ban chiều. Chúng mời ông bay lên theo bảy sắc cầu vồng: đỏ - cam - vàng - lục - lam -chàm - tím. Hương thơm ngào ngạt nhờ chị gió chia đều cho khắp vườn. Những cánh hoá rung rinh cả trời chiều, đính giọt nắng long lanh từng nhành lá. Chú dế nào vuốt râu cười khoái trá, góp vào vườn hoa tiếng hát màu nâu.
Em hỏi :
- Sao ông nghe được tiếng của loài hoa ?
Ông xoa đầu em và mỉm cười hiền hậu:
- Những bông hoa kia rất là giống cháu, khi rét đòi sưởi ấm, lúc nắng to muốn được che râm, buổi hanh khô gọi mang cho nước mát.
Em thèm được nghe lời của hoa nên cứ mở to tròn đôi mắt, chỉ thấy tiếng rì rào của lá, của cây...
Rồi một chiều ông đã lên mây. Cả vườn hoa rầu rầu, ủ rũ. Và bất chợt em nghe được lời hoa nhắn nhủ:
- Bạn ơi, tưới nước cho mình !
Em đi trong vườn làm những việc như ông. Hoa kể về công ông vun trồng và khen em đã biết miệt mài chăm sóc. Em cũng nhíu mắt lắng nghe và nhìn lên trời bật khóc:
- Ông ơi, cháu đã nghe được những lời nói của hoa !

1996

 HOÀI KHÁNH

Biển khóc

2011-12-21 @ 00:02 in Truyện ngắn

altHOÀI KHÁNH: Sáng 6-12-2011, tại Nhà khách Hải quân, Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng tổng kết và trao giải cuộc vận động sáng tác về Kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển. Lãnh đạo Thành ủy, UBND thành phố Hải Phòng, Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và đông đảo văn nghệ sĩ Hải Phòng, các cựu cán bộ chiến sĩ hải quân – những nhân chứng sống của Đoàn tàu Không số đã tham dự. Chỉ sau 2 tháng phát động, Ban tổ chức đã thu được trên 500 tác phẩm của nhiều tác giả tham dự cuộc vận động gồm các thể loại: truyện ngắn, bút kí, ghi chép, kịch nói, ca khúc, thơ, tranh, ảnh và múa của các tác giả thuộc 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Huế, Bến Tre. Hội đồng giám khảo đã chọn 7 tác phẩm của 7 tác giả để trao giải gồm: 4 giải A (ảnh “Vết tích cầu tàu không số tại Bến K15 Đồ Sơn” của nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Dũng, bài thơ “Gió xưa bến cũ” của nhà thơ Nguyễn Đình Minh, ca khúc “Bến tàu không số” của nhạc sĩ Hoàng Ngân, truyện ngắn “Biển khóc” của nhà văn Lê Mạnh Thường); 3 giải B (gồm: tranh sơn dầu “Huyền thoại bến tàu không số” của họa sĩ Quốc Thắng, múa “Con đường huyền thoại” của biên đạo múa Hồng Quân, kịch bản sân khấu “Biển gọi” của đạo diễn Tuấn Tiến). Cuộc thi mang nhiều ý nghĩa, nhắc nhở mọi người về một thời anh hùng của dân tộc, trong đó thành phố Hoa phượng đỏ vinh dự là một địa điểm lịch sử (bến K15), nó khơi dậy niềm tự hào trong thời khắc mà biển Đông thân yêu của chúng ta đang bão tố. Nhân kỉ niệm 67 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam và 22 năm Ngày Quóc phòng toàn dân 22-12, blog Hoài Khánh xin giới thiệu với bạn đọc gần xa về truyện ngắn đoạt Giari A của cuộc vaahn động sáng tác này.

Biển khóc

1. - Đi thôi anh em!

Tư Trung nhìn đồng hồ xong rồi cất lời ra lệnh. Năm người xúm lại mũi tàu hò nhau kéo chiếc dây neo to bằng cổ tay. Tài công nổ máy. Tiếng máy gừ gừ nghe êm tai. Đợi chiếc neo vừa được kéo lên khỏi mặt nước, chiếc tàu gỗ nhằm hướng Bắc lao đi.

Đáng lẽ, theo kế hoạch đã lên sẵn từ trong năm, hết rằm tháng giêng là Tư Trung cùng anh em sẽ lên đường ra Bắc để tiến hành công việc. Nhưng nấn ná mãi vì phải chờ qua lễ khao lề nên bây giờ mới đi được.

Cứ vào độ này hằng năm, khi mùa mưa bão ở miền Trung đã dứt, huyện đảo Lý Sơn quê anh lại diễn ra các cuộc tế lễ dành cho những hùng binh năm xưa đã ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Là con dân của đảo nên Tư Trung không thể bỏ được nghi lễ rất linh thiêng này.

Tư Trung còn có một chân trong đội đua thuyền truyền thống của đảo. Với sức khoẻ, sự nhanh nhẹn vốn có của mình, anh được phân công vào đội cầm dầm chèo. Hầu như các cuộc đua thuyền truyền thống nào trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa của đảo Lý Sơn hằng năm, thuyền rồng của anh đều giành vị trí quán quân. Tư Trung hãnh diện lắm.

Nhà Tư Trung ba đời nay làm nghề lặn biển. Cái nghề sao mà cơ cực vô cùng. Người ta nói nghề này là “Ăn cơm dương gian làm việc âm phủ” quả không sai. Lúc còn là thằng bé cởi truồng thường hay đi dọc bến tàu nhặt cá tôm rơi vãi, Tư Trung đã thấy cha và ông nội ngày ngày đi lặn kiếm ốc, sò gai, hải sâm đem về cho bà nội và mẹ bán. Lên mười ba tuổi, anh đã theo cha và chú Ba đi lặn. Lòng biển có một sức lôi cuốn, mê hoặc Tư Trung đến ghê gớm. Hễ hôm nào không được lặn là anh cảm thấy trong người bứt rứt khó chịu. Tư Trung là người có sức khoẻ phi thường. Anh có thể lặn sâu xuống được ba mươi sải nước. Trong gia đình Tư Trung cho đến bây giờ, có ba người chẳng may gặp nạn bởi nghề lặn đó là cha, chú Ba và anh Hai Đởm. Cha anh chết thảm cách đây mười lăm năm. Chú Ba và anh Hai Đởm thì liệt nửa người do lặn quá sâu bị nước ép. Bây giờ họ trở thành người tàn phế sống nhờ vợ con. Nhiều lúc Tư Trung cũng muốn bỏ nghề lặn bởi nó quá hiểm nguy. Nhưng nghĩ lại, nếu bỏ nó thì biết làm nghề gì để kiếm sống đây? Thôi chậc, sinh nghề tử nghiệp. Chẳng qua cũng chỉ vì miếng cơm manh áo cả. Hà bá nó bắt mình lúc nào thì mình đành chịu vậy, biết răng chừ? Có điều mình sẽ phải cẩn thận hơn cho vợ con được nhờ. Tư Trung lập luận như vậy.

Bây giờ thì Tư Trung đã là chủ của một chiếc tàu lặn biển với đồ nghề hiện đại nhất đảo. Anh chuyển sang lặn tìm phế liệu bởi mặt hàng này dưới biển rất nhiều. Kiếm ăn được.

Tư Trung cùng tốp thợ năm người của mình đều là những tay lặn cừ khôi trong họ tộc từng rong ruổi đi khai thác phế liệu ở nhiều vùng biển trong Nam ngoài Bắc. Số tiền kiếm được cũng kha khá. Anh đã xây được một ngôi nhà tương đối hoành tráng ở làng. Mở cho vợ một sạp vải ở chợ. Hai đứa con ăn học đàng hoàng. Nhìn thấy vậy, Tư Trung càng cảm thấy yêu nghề và quyết tâm gắn bó với nghề lặn hơn.

Trước hôm lên đường đi chuyến này, Tư Trung có biện chút lễ ra thắp nhang ngoài mấy ngôi mộ gió và đền thờ cá ông để cầu mong cho chuyến làm ăn gặp nhiều may mắn, tránh mọi tai ương. Lúc quay về, anh rẽ vào nhà ông Tám “âm phủ” nhờ xem giùm chuyến đi thế nào. Ông Tám “âm phủ” là thầy bói nổi tiếng ở huyện đảo này.

Ông Tám “âm phủ” thắp ba nén nhang lên bàn thờ. Khi xem ba con bài mà Tư Trung vừa bốc, ông bấm đốt ngón tay một lúc rồi ngần ngừ:

- Lạ thiệt!

- Là sao ông Tám?- Tư Trung hấp tấp hỏi lại.

- À, ờ..! Mày đi chuyến này coi chừng được cá to nghe hông Tư? Một chiếc ghe của mày tao e chở không hết hàng đâu!

- Vậy hả? mà hàng gì hả ông Tám?

- Ừa, thì sắt thép chi chi đó! Mà chỗ đó thiêng lắm đó nha, có thể có người nữa đó!

- Hả?- Tư Trung giật mình- Có người là sao ông Tám?

- Thì tao đã bảo rồi, khu vực đó rất thiêng, ra đến nơi mày phải làm một cái lễ đầy đủ bài vị nhang đèn rồi thành tâm cúng bái để cho người ta phù hộ. Không ai làm hại mày đâu!

- Dạ, ông Tám ghi cho con những thứ đồ lễ để về vợ con đi sắm cho kịp sáng mai đi!

- À mà này, mày về dặn với mấy anh em bạn là tối nay cấm đứa nào được gần vợ nghe chưa? Nếu không nghe thì đừng trách tao không nói.

- Dạ, con biết rồi ông Tám!

Tư Trung vội vàng cầm mảnh giấy của ông Tám “âm phủ” đưa cho. Miệng hấp tấp chào ông rồi tất tả phóng xe ra cổng.

Ngoài kia, biển đã sẫm màu.

2. - Bây giờ là ngày hay đêm?

- Bình minh hay hoàng hôn?

- Trưa hay tối?

- Chịu!

Biết bao lần Tài và Thức đều tự ra câu hỏi và rồi cuối cùng cũng tự trả lời cho mình bằng một câu cụt ngủn như vậy.

Nằm cạnh Thức, Tài cứ trằn trọc, thao thức mãi. Thỉnh thoảng, có một con bạch tuộc hay con cá đuối cô đơn nào đó đi qua ngôi nhà của họ. Chúng loé lên một chút ánh sáng lân tinh ma quái rồi vội tắt lịm. Hoang lạnh. Câm bặt. Một cõi u tịch đến rợn người.

Bao quanh đây là một màu đen đặc quánh. Cái ý niệm về không gian, thời gian coi như không có. Tất cả đều tối thui.

Một quầng bùn cát vẩn lên hắt vào mũi làm Thức chợt tỉnh giấc. Anh mở mắt, quờ tay sang bên cạnh. Tài khẽ cựa mình rồi húng hắng ho.

- Tài không ngủ hả em?- Thức khẽ hỏi.

- Không hiểu sao em không ngủ được anh ạ!- Tài thủng thẳng đáp.

- Có chuyện gì à?

- Em cũng chẳng biết có chuyện gì nữa. Hôm nay em thấy trong người nó làm sao ấy. Cứ nôn nao khó tả lắm!

- Hay là nhớ em Lài?- Thức vừa hỏi vừa tủm tỉm cười.

- Nhớ nhưng biết làm sao được hả anh?- Tài chợt chùng giọng- Bây giờ chắc cô ấy đã là một bà giáo về hưu, con cháu đề huề rồi anh nhỉ?

- Ừ, chắc vậy!

- Anh Thức này, tại sao anh em mình ngủ suốt mấy chục năm nay rồi mà không cảm thấy chán hả anh? Năm qua tháng lại chỉ mỗi điệp khúc “Ngủ- thức- ngủ” mà không thể có việc gì hơn ngoài cái điệp khúc cũ mèm ấy. Chán thật!- Tài khẽ lắc đầu, chép miệng.

- Em nói còn thiếu, cái điệp khúc ấy phải là “Thức- ngủ- nhớ- thức- nhớ- ngủ”.

- Là sao anh?

- Nếu không có những ký ức, những kỷ niệm mà ta đã từng trải qua thì làm sao anh em mình có thể tồn tại được nơi đáy biển âm u này. Chúng ta đang sống bằng những kỷ niệm của một thời trai trẻ đấy thôi!

- Vâng, và đến bây giờ thì chúng ta vẫn là những gã trai làng non tơ. Anh vẫn là chàng trai hai mươi hai, còn em mười chín. Chúng ta chẳng già đi chút nào anh nhỉ?

- Ừ, nhưng anh khổ tâm hơn em vì trước lúc lên đường anh đã kịp có một người vợ và đứa con trai lên hai. Thà như em chưa có gia đình thì còn ít người đau khổ, mà bản thân mình cũng đỡ dằn vặt hơn. Đằng này, ... không biết bây giờ mẹ con cô ấy ở quê thế nào?Tội mẹ con cô ấy quá Tài ạ!

- Vâng, mặc dù em chưa có vợ con như anh nhưng em cũng đã có người yêu. Lài là mối tình đầu của em. Chúng em yêu nhau bằng tất cả sự chân thành. Lúc ấy Lài đã là một cô giáo làng. Lúc chia tay lên đường, cô ấy động viên em nhiều lắm. Lài hứa sẽ chờ em trở về. Hai đứa sẽ báo cáo gia đình rồi tổ chức lễ cưới. Lài sẽ thường xuyên sang thay em chăm sóc bố mẹ em. Cô ấy tốt thật anh ạ! Không lúc nào là em không nhớ về cô ấy!

- Thì chiến tranh nó nghiệt ngã là vậy mà em!- Thức thở dài.

Như nhớ ra điều gì, Tài nhổm dậy hỏi Thức với giọng hấp tấp:

- À, anh Thức này! Anh có nhớ chính xác là anh em mình ở đây được bao lâu rồi không anh nhỉ?

- Ba mươi lăm năm, bốn tháng, mười một ngày!

- Ôi, trí nhớ của anh tuyệt thật. Thế mới đúng là ông anh khẩu đội trưởng của em! Bái phục, bái phục!

- Có gì đâu mà tuyệt với chả vời, tài với chả giỏi. Nếu tài giỏi thì anh em mình đâu phải ở những nơi tối tăm u uất như thế này. Có thể bây giờ em sẽ cùng Lài và những đứa con đang đi du lịch đâu đó, còn vợ chồng anh đang gặt lúa trên đồng hay đi làm cỏ lúa. Thế mới là tuyệt, em hiểu chưa?

- Thôi, thôi, thôi anh đừng nói nữa, em không chịu được nữa đâu! Em khóc đấy!- Tài xua tay, giọng có vẻ hơi gắt.

- Cái thằng này, chỉ được cái mau nước mắt, khóc thuê quen rồi hử?- Thức xoa dịu- Anh xin lỗi, ý anh muốn nói rằng, thời gian trôi nhanh thật. Mới đó mà đã chừng ấy năm. Nhanh thật!

- Mà thôi anh ơi, cất cái chuyện thời gian, năm tháng, vợ con ấy lại đi, em buồn ngủ lắm rồi- Tài vừa nói vừa ngáp dài- Mắt em díp hết cả lại rồi đây!

- Ừ, ngủ đi em...!

Dòng nước ấm khẽ chảy qua khoang tàu làm lay nhẹ những trang giấy cháy sém nằm lả tả cạnh hai người. Hai khẩu AK rỉ sét bên cạnh họ vẫn nằm lặng ngắt. Lòng bàn tay Tài còn nắm chặt miếng mica hình trái tim. Chắc là cậu ấy định làm quà kỷ niệm để gửi về cho Lài. Nhưng không kịp...

Một đàn cá nhỏ lững lờ bơi đến rỉa mấy sợi rong rêu bám vào thân tàu rồi lại lặng lẽ bỏ đi.

Tất cả đều câm lặng một cách đáng sợ. Hai người lính lại chìm sâu vào giấc ngủ miên man vô định.

3. Ngày...

Vậy là mình đã trở về đơn vị an toàn. May mà vẫy được chiếc xe tiếp phẩm của tỉnh đội để trèo lên đi nhờ được cả quãng đường dài. Đi bộ thêm mười sáu cây số nữa mới về đến đơn vị. Mệt. Không, nhằm nhò gì! Được về tranh thủ thăm mẹ con Thoan là vui lắm rồi. Dẫu có phải đi bộ cả trăm cây số mình cũng chấp nhận.

Chiều nay, vừa khoác ba lô xuống tàu, anh em ùa ra đòi quà. Đi vội quá nên Thoan chỉ kịp gói cho mình được một ít bánh gai để làm quà cho anh em trong đơn vị. Anh Huấn chính trị viên đùa bảo: “Cả tàu này sướng nhất Thức rồi đấy! An tâm công tác nhé!”.

Ba ngày về tranh thủ mình làm được những việc gì nhỉ? Đi thăm bố mẹ hai bên này. Bố mình và bố Thoan đều già yếu lắm rồi. Mình biếu bố vợ chai rượu thuốc mua ở cửa hàng dược, cụ vui lắm. Đi cuốc cỏ lúa giúp Thoan được hai buổi này. Tội Thoan quá, một nách vừa nuôi con nhỏ vừa đảm đương hai mẫu ruộng. Mình lại đi xa chẳng giúp gì được cho Thoan nhiều. Trước hôm đi, Thoan bảo mình dói lại mái nhà tranh bị dột, nhưng thời gian nghỉ tranh thủ đã hết nên không thể làm kịp. Đành hẹn Thoan dịp khác mình về vậy.

Mà tóm lại, sướng nhất trong dịp tranh thủ này là được ôm hai mẹ con Thoan cho bõ những ngày xa cách. Cu Tuấn ban đầu nhìn thấy mình còn lạ nhưng khi thấy bố và mẹ nó tình tứ với nhau nhiều nên cũng nghe theo mẹ bập bẹ gọi “Bố, bố”. Nghe mà như nở từng khúc ruột. Cứ hở ra tý nào là mình và Thoan lại quấn lấy nhau. Vội vội vàng vàng như ma đuổi. Thoan bảo:“Anh tham thế?”. Mình cười: “Tại chiến tranh nên anh phải thế!”. Thoan lại bảo: “Lúc nào anh cũng đổ tội cho chiến tranh. Thế nếu hết chiến tranh chắc anh chẳng còn yêu em nữa phải không?”. “Thoan ơi, anh sẽ mãi yêu em, yêu hơn cả bây giờ nữa Thoan ạ!”. “Không tin, yêu như thế nào?”- Thoan cười vặc lại. “Như thế này này..!”. Mình riết mạnh vòng tay và trèo ngay lên bụng Thoan. “Ối, ối! đúng là dân pháo thủ. Khiếp đi được. Chết em mất!”. Thoan rên lên sung sướng. Mình cũng hồn phách lên mây.

Hạnh phúc đến với mình thật nghẹt thở.

Đời sướng thật!

4. Vùng biển Long Châu.

Tư Trung cùng anh em thành kính đem đồ cúng lễ ra trước mũi tàu. Những bộ quần áo giấy và vàng tiền địa phủ được dằn bằng mấy cục đá đem theo để khỏi bị gió thổi bay xuống biển. Tự tay Tư Trung thắp nhang, rót rượu ra ba chiếc li rồi quỳ xuống. Năm anh em trong đội cũng quỳ xuống phía sau Tư Trung. Mọi người đều chắp hai tay lên ngực nhìn về phía bát nhang. Giọng Tư Trung lầm rầm trong gió: “Con nam mô a di đà Phật!Con nam mô a di đà Phật!Con cúi đầu quỳ lạy các chư vị Nam Hải Đại Vương, những người đã nằm lại vùng biển này....!”.

Tư Trung vừa kết thúc bài khấn nôm, mọi người trên tàu sì sụp vái lạy. Bỗng ba cây nhang bùng lên cháy thành ngọn lửa. Mắt ai cũng sáng lên. Tư Trung lắp bắp: “Vậy thì đúng rồi, đúng rồi! Thiêng thật! Thiêng thật! Thần biển và các vị tảo sa tảo lạc phù hộ anh em mình rồi! Con nam mô a di đà Phật..!”. Tư Trung cùng anh em thả quần áo, vàng mã và rải gạo, muối, rượu xuống biển. Xong xuôi, cả nhóm ngồi quay quần lại để hưởng lộc vừa cúng. Tư Trung mừng ra mặt bởi đã hai ngày quần thảo khắp khu vực Long Châu này, tốn kha khá dầu rồi mà vẫn chưa có tín hiệu từ lòng biển. May mà trưa nay, khi tàu vào đến vị trí này thì máy dò kim loại kêu tút tút liên hồi làm mọi người mừng thở phào nhẹ nhõm. Cộng với hiện tượng lúc nãy ba cây nhang bỗng nhiên bùng cháy nữa nên càng củng cố thêm niềm tin là tìm được mỏ phế liệu lớn.

Tư Trung hạ lệnh cho anh em sửa soạn cơm nước thật tươm tất để ăn lấy sức và tiện thể động viên tinh thần cả tàu. Tối nay, tốp lặn bắt đầu xuống biển thăm dò, đánh dấu vị trí. Sáng mai sẽ tiến hành khai thác phế liệu. Tâm trạng ai cũng phấn chấn lạ thường.

Tư Trung rít mạnh hơi thuốc, mắt nhìn xuống nước. “Hơn hai mươi sải, làm được!”. Anh lẩm bẩm.

Biển vẫn một màu đen thẫm. Con tàu nhỏ lắc lư qua lại trên sóng. Xa xa, một vài chiếc tàu cá mỏng manh tựa lá tre đang tất tả chạy về.

5. Đêm...

Đêm nay, gác ca gần cuối. Không gian thật yên tĩnh, vắng lặng. Chẳng có chút gì là dấu hiệu của thời chiến cả nhỉ? Anh em đang say giấc ngủ. Ai cũng mệt vì phải căng mình làm công tác sửa chữa, bảo quản vũ khí máy móc suốt mấy hôm nay. Tàu nằm sâu trong hẻm núi chờ lệnh xuất kích. Dạo này bọn khu trục thường mò vào tận khu Long Châu khiêu khích. Chúng liều lĩnh, lì lợm thật. Được thôi, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Chúng ta sòng phẳng với nhau nhé!

 Nhìn về hướng quê nhà mà thấy nhưng nhức trong lòng. Không biết giờ này mẹ con Thoan ngủ có ngon giấc không? Cu Tuấn của bố có quấy mẹ không nhỉ? Bố thương con quá Tuấn ạ! Con còn quá nhỏ để hiểu được nỗi buồn của bố khi phải xa mẹ, xa con. Những ngày không có bố ở nhà, con phải ngoan, không được quấy mẹ nghe không con! Mẹ vất vả vừa nuôi con, vừa đồng áng, vừa chăm ông bà nội. Ông bà nội già rồi mà bố cũng chưa giúp được gì nhiều. Con phải thường xuyên lên chơi với ông bà nội để ông bà vui con nhé! Con là cháu đích tôn của ông bà, trọng trách nặng nề lắm đấy Tuấn ạ! Bố rất thương mẹ con mà chẳng biết làm sao. Vì bố là bộ đội, bố phải trực chiến liên tục con ạ! Khi nào đánh Mỹ xong, bố sẽ về quê để được ở gần mẹ con con. Bố sẽ đền cho hai mẹ con tất cả những ngày xa cách. Hai mẹ con cố chờ bố nhé!

6. Chiều....

Trưa nay toàn biên đội được ăn tươi mừng Quốc khánh. Cả biên đội được chỉ huy cho phép làm thịt hẳn một con lợn to vật vã. Chà, hôm nay toàn chuyện vui. Sẽ kể từng chuyện một.

Trước hết là chuyện đánh tiết canh. Tàu nằm trên sóng cứ bồng bềnh lắc qua lắc lại nên nhiều anh em bàn lui hay là thôi, sóng như thế này thì tiết đánh ra làm sao đông được? Thằng cu Soi “báo vụ” liền khua tay: “Ấy, ấy... các bác cứ để em, em chịu trách nhiệm cái vụ lẻ tẻ này cho!”. Chà, cái thằng này ăn nói có vẻ bốc đồng nhỉ? Anh Đại thuyền trưởng hỏi: “Có chắc không? Nếu đánh hỏng thì sao?”. Hắn lại chặc lưỡi cười tủm: “Ấy dà..! báo cáo thủ trưởng, nếu đánh hỏng mẻ tiết canh này thì em xin từ cái chức báo vụ số 1 ngay!”. Lão Hoan “cơ điện” là đồng hương Thái Bình với Soi tiết lộ: “Anh em yên tâm, nhà thằng Soi ba đời nay làm nghề bán cháo lòng tiết canh đấy!”. Mọi người thở phào rồi hô: “Quyết!”. Vậy là lao vào mỗi người mỗi việc. Thằng Soi quả là siêu thật. Bốn mươi lăm bát tiết canh, bát nào bát nấy đông cứng. Thằng Thái “ra đa” bảo, các bác trừ cho em xin một bát tiết, em sẽ lấy dây lạt xâu lại tý nữa cầm về cho mẹ thằng cu ăn cho đỡ thèm. Cả tàu cười như nắc nẻ. Lâu rồi không ăn lòng lợn tiết canh. Hôm nay ngon quá. Gắp miếng lòng cho vào mồm tự nhiên lại nhớ mẹ con cu Tuấn ở nhà. Mà thôi, đã bảo là kể chuyện vui cơ mà...

Chiều. Đi chặt cành cây để nguỵ trang tàu.

 

7. Trời tối đen như mực. Gió lạnh sởn da gà. Ánh đèn của một vài chiếc thuyền câu mực phía xa xa chiếu lại như những ngôi sao nhỏ nhoi đang lang thang giữa màn đêm đặc quánh. Tư Trung ngồi bên mạn tàu vừa điều chỉnh chiếc máy nén khí vừa chăm chú theo dõi anh em làm việc phía dưới. Điếu thuốc luôn đỏ chót trên môi. Thỉnh thoảng có con cá chuồn liều mình lao lên khỏi mặt nước bay về phía Tư Trung. Anh né người, con cá giãy đành đạch rồi phơi cái bụng trắng ệch trên sàn tàu. Những con mực ống nhao lại ăn đèn. Chiếc đèn pha được choả xuống mạn tàu làm sáng lên một khoảng nước trước mặt. Một tiếng đồng hồ đã trôi qua. Không biết ở dưới đó anh em đã tìm được gì chưa? Đây là vùng biển lần đầu tiên mình thử sức. Liệu sự thật ở dưới đáy biển có đúng với những tiên đoán của ông Tám “âm phủ” không? Những câu hỏi cứ nảy ra trong đầu Tư Trung. Kinh nghiệm mấy chục năm làm nghề đã tạo cho anh sự bình tĩnh, can đảm khi phải đối mặt với những tình huống xảy ra trong quá trình lặn. Trong tốp lặn này chỉ có thằng Thắng là còn hơi non nghề. Đáng lẽ công việc của nó là điều chỉnh máy nén khí phía trên nhưng lúc ăn cơm xong, nó xin phép Tư Trung được lặn cùng mấy anh để củng cố tay nghề. Đắn đo một lúc rồi Tư Trung cũng đồng ý với điều kiện chỉ cho nó lặn một tiếng thôi. Nó chưa quen nghề bằng anh em thì chỉ cho nó đi theo học nghề là chính. Muốn lặn thì hôm sau sẽ chọn một vùng nước cạn hơn cho nó lặn ban ngày, có gì còn dễ xử lý. Làm cái nghề này không tham, không cố được. Nếu không tuân thủ điều đó thì chết như chơi. Nếu có phúc thì sinh mạng cũng chỉ còn là nắm thân tàn ma dại. Dân lặn biển ở Lý Sơn đang cần những thằng như thằng Thắng để nối nghề. Dù cái nghề này có nghiệt ngã, hiểm nguy đến đâu thì cũng cần phải tồn tại. Tồn tại để sống. Đáy biển là cơm áo gạo tiền.

Cái thằng quỷ này răng lâu vậy nhỉ? Định thi gan cùng mấy tay kia chắc? Tư Trung đang thắc mắc một mình thì thấy ánh sáng loa loá dưới nước. Ánh sáng đèn đang dần trồi lên mặt nước. Chiếc đèn pha gắn trên trán nhô lên khỏi mặt nước, người mặc bộ đồ cao su bơi về mạn tàu. Thằng Thắng. Tư Trung mỉm cười. Anh giơ tay kéo nó lên tàu. Thằng Thắng tháo kính lặn, nhả ống thở, mồm thở hổn hển. Nó cởi chiếc túi lưới đeo bên cạnh mình, thò tay lấy mấy thứ ra đưa cho Tư Trung. Tư Trung nhìn kỹ. Một hộp bảng điện tàu, một chiếc thước song song bằng mica, nắp hộp điện, la bàn. Tư Trung chau mày: “Tàu đắm hả?”. “Vâng, một chiếc tàu đắm anh Tư ạ. To lắm!”. Thắng vừa thở vừa trả lời.

Dưới mặt nước lại có tiếp mấy người ngoi lên. Vừa trèo lên tàu, khuôn mặt ai cũng tỏ vẻ căng thẳng. Mọi người đều xác nhận những gì vừa tận mắt thấy dưới làn nước sâu. Bảy Nam cầm khẩu súng AK đã rỉ sét đưa cho Tư Trung: “Là một con tàu anh Tư ạ!”. Cầm khẩu súng chỉ còn lại phần thép, Tư Trung giọng run run: “Tàu chiến. Chắc là tàu của bộ đội mình!”. Bỗng Tư Trung nhìn khắp lượt anh em rồi quả quyết: “Được rồi, sáng mai tôi sẽ xuống. Chúng ta sẽ tìm để đưa các anh ấy lên!”.

Tư Trung lẩm bẩm: “Ông Tám “âm phủ” thiêng thật! Nói đâu trúng đó!”.

8. Đêm...

Tất cả đã xong. Ngày mai sẽ hành quân ra khu đợi cơ, sẵn sàng xuất kích. Không khí chiến đấu đang bùng lên hừng hực. Căng thẳng. Ngột ngạt. Bọn khu trục đang mò vào quấy rối. Chúng mày sẽ biết tay ông.

Anh em quây quần trên boong mũi tàu hóng mát. Điếu cày rít sòng sọc, phả khói um trời. Chè Thái Nguyên đặc quánh, thuốc lá Tam Đảo mấy bao vất xoài ra mặt boong. Ngày mai ra trận rồi, cứ thoải mái đi! Chuyện trên trời dưới biển được kể râm ran. Thằng Tài ngồi dựa lưng vào bệ pháo nghêu ngao hát. Mấy anh em ngồi cạnh buột miệng bảo: “Tài ơi, làm một bài bố chết đi!”. Tài e hèm một tiếng rồi cất lời thống thiết: “Bố ơi là bố ơi...! Con về mà không kịp gặp bố, đau xót quá bố ơi là bố ờ...i...!”. Mọi người cười rũ rượi. Lại có tiếng: “Khóc mẹ đi!”. Tài lại khóc bài về mẹ. Theo yêu cầu của “khán giả”, Tài khóc tiếp những bài về anh, chị, cậu, gì... Mỗi bài khóc mang một tâm trạng, một nỗi niềm riêng. Tiếng khóc của thằng Tài thật ỉ ôi nhưng rất có hồn. Đầy đủ vang, rền, nền, nẩy. Thì ra trước khi nhập ngũ, Tài đã có mấy năm lang thang làm nghề đánh giày kiêm thành viên của ban nhạc hiếu trên Hà Nội. Nó chuyên khóc thuê cho những gia đình có người thân qua đời. Họ cần tiếng khóc cho vơi bớt nỗi cô đơn, hiu quạnh. Giọng hát của nó được ông bầu Sẩm đánh giá cao. Số tiền Tài kiếm được cũng kha khá. Khi nó về quê giỗ ông nội thì đúng đợt anh cán bộ xã đội cầm giấy khám tuyển nghĩa vụ quân sự đến nhà. Vậy là nó ở lại và nhập ngũ cho đến hôm nay.

Đang chu cái mỏ ra nức nở làm trò cười cho mọi người thì thuyền trưởng từ dưới khoang chui lên quát cho một trận: “Im mồm ngay! Mai kia muốn chết cả nút hay sao mà giờ đã truy điệu sống cả tàu rồi? Mà mấy ông này nữa, giải tán về ngủ đi mai còn lấy sức hành quân!”. Mọi người lục tục chui xuống khoang. Chỉ còn mình với cây súng AK ngồi gác. Biển thật phẳng lặng, hiền hoà.

Lúc này lại nhớ tới Thoan. Nhớ em lắm Thoan ạ! Ước gì bây giờ anh có một phép màu nhỉ? Chắc em sẽ hỏi là để làm gì chứ gì? Tất nhiên là anh sẽ đi mây về gió như Lão Tôn để được gần em và con. Chỉ một chút thôi, một chút thôi Thoan ạ! Ngày mai anh ra trận rồi. Ước gì được gần em để ngửi mùi hương bồ kết trên mái tóc của em, được rúc vào ngực em như thằng cu Tuấn đòi tí mẹ. Được như thế thì còn gì bằng, anh sẽ may mắn lắm đấy. Nhưng... tiếc thật! Xung quanh anh bây giờ là súng đạn, là ngư lôi, là mệnh lệnh. Chẳng có một phép màu nào cả Thoan ạ!

Ngày mai, trước tàu chiến, máy bay của giặc không biết mình có gặp may không nhỉ? Chiến tranh, có ai nói trước được điều gì đâu. Mình chỉ mong sớm kết thúc chiến tranh, được bình an trở về làm thằng dân cày, lấy đít con trâu làm chuẩn. Vợ chồng sớm tối có nhau. Thế là mãn nguyện lắm rồi.

Nhưng không, chiến tranh đều có quy luật riêng của nó. Muốn được sớm trở về với gia đình, với quê hương thì càng phải chiến đấu. Chiến đấu đến cùng. Không thể dung tha cho bọn cướp nước. Ngày mai tao sẽ lấy đường ngắm thật chuẩn để tặng cho chúng mày những viên kẹo đồng sáng loé. Tao sẽ quyết tâm lập thành tích để đem về tặng cho mẹ con cu Tuấn nhà tao.

Chúng mày chờ đấy!

9. Cơn mưa buổi sáng làm cho bầu trời quang đãng hơn nhiều. Ánh nắng vừa ló ra làm cho cảnh sắc trở nên rực rỡ. Trong khuôn viên nghĩa trang liệt sĩ, tiếng chim hót líu lo như lũ trẻ con đang mải nô đùa. Trong căn phòng rộng rãi, hai chiếc tiểu sành được kê ngay ngắn, phía trên phủ hai lá cờ Tổ quốc đỏ tươi. Mùi hương toả ra thơm ngát. Xung quanh, những người lính Hải quân và bà con nhân dân đứng san sát chăm chú theo dõi. Đội tiêu binh súng tuốt lê nghiêm trang đứng bên cạnh hai người. Tiếng nhạc “Hồn tử sĩ” vang lên trầm hùng. Lễ truy điệu bắt đầu.

Một vị tướng Hải quân đi lên phía trên. Ông nhìn mọi người định nói một câu gì đó nhưng nghẹn ngào một lúc mới nói nên lời:

- Thưa các đồng chí, thưa bà con nhân dân...! Đây chính là hai đồng đội trên tàu phóng lôi của tôi trong trận xuất kích đánh đuổi tàu khu trục của Mỹ xâm phạm hải phận của Tổ quốc năm xưa- Ông ngừng lại, rút khăn mùi soa trong túi ra lau nước mắt rồi run run nói tiếp- Trận đánh đó, tàu chúng tôi bị tên lửa từ máy bay, pháo hạm của tàu khu trục Mỹ bắn chìm. Mãi đến hôm nay tôi mới được gặp lại hai người trong số họ. Thức ơi, Tài ơi, các đồng đội còn nằm lại dưới lòng biển ơi!  Các cậu có nghe mình gọi không..?

Tất thảy mọi người trong căn phòng đều rưng rưng xúc động. Họ cúi đầu mặc niệm. Không gian trở nên yên lặng. Những ngọn nến toả ánh sáng lung linh huyền ảo trước di ảnh hai người.

Nằm cạnh nhau, Thức và Tài chăm chú nhìn mọi người. Bỗng Tài ngờ ngợ ra điều gì bèn gọi thầm Thức:

- Anh Thức, anh Thức ơi!

- Gì vậy Tài?

- Anh có thấy ông tướng này trông quen quen không?

- Ừ, ai hình như..., à!- Thức bật kêu lên- Anh nhớ rồi!

- Ai vậy anh? Sao em không nhớ ra nhỉ?

- Anh Huấn, anh Huấn đấy Tài ạ! Anh Huấn đã trở về và thành tướng rồi!

- A, anh Huấn, đúng rồi- Tài kêu lên- Sao anh ấy già quá anh nhỉ?

- Suỵt, nói khẽ thôi! Ba mươi mấy năm thì phải già đi chứ? Chỉ có anh em mình là trẻ mãi thôi!

Hai người lại đưa mắt nhìn xuống dưới kia. Anh Huấn vẫn đang kể cho mọi người nghe câu chuyện bi tráng về con tàu của mình. Đứng bên cạnh anh là Tư Trung và nhóm thợ lặn, những người đã có công đưa các anh về đất mẹ sau mấy chục năm lưu lạc. Những người lính và bà con nhân dân đến dự lễ mắt ai cũng ngấn lệ.

Thức và Tài vẫn đưa mắt kiếm tìm. Kia rồi! Thức kêu lên sung sướng. Đứng phía sau lưng anh Huấn là mẹ con Thoan. Họ chít khăn trắng trên đầu. Mắt Thoan đỏ hoe. Cô ấy già đi nhiều quá! Ôi, thằng cu Tuấn đã lớn bằng này rồi sao con? Có phải đứng bên cạnh Tuấn là vợ con của con không? Vậy là cuối cùng mình cũng được trở về quê hương, được về cùng Thoan và các con. Mình đến chết vì hạnh phúc mất thôi. Chỉ có điều, mình chẳng thể cùng Thoan và các con đi làm cỏ lúa hay đi chăn trâu được nữa rồi... Thoan ơi, em có nghe anh gọi không hở Thoan? Thức cay cay sống mũi. Trước mắt anh hình ảnh bỗng nhập nhoà.

- Anh Thức, anh Thức ơi!- Tài gọi giật làm Thức bừng tỉnh.

- Lại gì nữa đây hả thằng em?- Thức quay sang Tài.

- Anh ơi, mẹ em đâu? Lài đâu hở anh?

Tội nghiệp thằng Tài, đến giờ vẫn chưa tìm được mẹ.

Bỗng Tài reo lên: “A, mẹ! Mẹ kia rồi! Mẹ ơi, con đây mà!”.

Mẹ Tài được mấy chú lính trẻ dìu lên phía trước. Tay mẹ xách chiếc làn cói đựng mấy bắp ngô, nải chuối tiêu, mấy quả trứng gà. Mẹ nhìn trân trân vào Tài, mắt nhoè lệ. Mẹ nấc lên: “Con ơi, mẹ chờ con mấy chục năm nay rồi con ơi..!”. Tài muốn chạy xuống đỡ mẹ nhưng không thể ngồi dậy được. Trời, mẹ tôi già như thế này rồi ư?Mẹ gầy còm như chiếc lá cuối thu, miệng móm mém. Mẹ vẫn mặc chiếc áo chiêm bâu bạc phếch như ngày xưa. Đến giờ vẫn khổ thế này sao hở mẹ? Con thương mẹ lắm mẹ ơi! Tài khóc hu hu như đứa trẻ. Thức phải quay sang nhỏ nhẹ dỗ dành Tài. Mãi một lúc sau Tài mới chịu nín.

Tài lại đảo mắt tìm kiếm ai đó. Anh hết nhìn sang trái, sang phải lại dướn mắt nhìn xuống phía sau căn phòng chật cứng người.

- Lài đâu rồi hở anh?

- Cái thằng này- Thức xẵng giọng- Bây giờ cô ấy đã già, đã có gia đình riêng rồi. Chắc gì cô ấy đã ở đây mà ngóng với trông?

Nghe Thức quát, Tài thở dài vẻ buồn rầu:

- Vậy là em chỉ còn mỗi mình mẹ, Lài đi lấy chồng mất rồi, em mất Lài thật rồi!

Tài lại khóc, tiếng khóc mỗi lúc một to:

- Mẹ ơi, Lài đâu rồi? Lài ơi, em ở đâu? Em ở đâu Lài ơi? Trả Lài đây cho tôi... hu...hu...hu..!

Thức lặng thinh. Mặc kệ, hôm nay cho cậu ấy khóc thật thoải mái. Tiếng khóc sau hơn ba mươi lăm năm mang đầy nỗi niềm thương nhớ, đoàn tụ, chia li.

Bầu trời bỗng nổi cơn gió mạnh. Lác đác có hạt mưa. Mưa to. Những hạt mưa thi nhau đổ xuống nghĩa trang. Mưa trắng trời trắng đất. Mấy chú chim sẻ bị mắc mưa ướt lướt thướt, chúng run rẩy nép dưới mái hiên nhà.

Hai bát hương bỗng nhiên bùng cháy. Hai ngọn lửa nằm cạnh nhau rực sáng căn phòng. Ánh lửa soi rõ từng ánh mắt mọi người đang chăm chú dõi theo.

Ngoài kia trời vẫn đổ mưa...

Hà Nội 14-9-2010

LÊ MẠNH THƯỜNG

Muốn làm cho sáng tỏ

2011-12-15 @ 01:11 in Chuyện vui

Muốn làm cho sáng tỏ

Một đứa bé túm lấy viên cảnh sát và khẩn khoản nói:
- Chú ơi, đằng kia có người đánh bố cháu!
Thấy vậy, viên cảnh sát theo đứa trẻ chạy lại về phía hai người đàn ông đang giằng co với nhau. Viên cảnh sát hỏi đứa bé:
- Thế ông nào là bố mày?
- Dạ, đó là điều mà cả hai ổng ấy đang muốn làm cho sáng tỏ.

Cẩn thận

- Mẹ ơi! Có phải ngày xưa bố mẹ quen nhau bởi một vụ đụng xe phải không hả mẹ?
- Ừ! Sao con biết? Bố kể cho con nghe à?
- Con cũng đoán vậy, vì bố cứ dặn đi dặn lại rằng con lái xe phải hết sức cẩn thận, lỡ xảy ra tai nạn, nếu không chết, thì cũng khổ cả một đời!!!

Như nhau cả

Một nhà khoa học có tính hay đa nghi, nên ông ta chế tạo ra một loại robot phát hiện được sự nói dối. Ngay trong ngày chế tạo thành công, ông ta đem robot ra thử. Cậu con trai vừa đi học về, thì bị ông tra hỏi:
- Sao con đi học về muộn vậy?
- Con qua nhà bạn mượn sách về học.
Robot phát hiện cậu bé nói dối, liền xông vfo đánh cho cậu này một cái. Ông bố cười:
- Đó, con thấy chưa, nói dối là phải chịu phạt. Lúc bằng tuổi con, bố không dám nói dối ông nội nửa lời.
Nghe thấy thế, ngay lập tức, robot quay sang đạp ông ta một cái khá mạnh. Người vợ nhà khoa học thấy cậu con trai bị đánh đòn đau, bèn nói:
- Sao anh làm thế với con? Dù sao nó cũng là con anh!
Robot nắm đầu bà vợ, đánh túi bụi.

HÀNH KHOÁI sưu tầm

Tia nắng xanh (phần 2)

2011-12-07 @ 03:45 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Khoe

Chú gà dậy thật sớmalt
Khoe lời chào bình minh
 
Gió lùa qua lớp học
Khoe áo màu thuỷ tinh
 
Điểm mười ngời trang vở
Khoe nét mực lung linh
 
Có cô học trò nhỏ
Chẳng muốn khoe về mình.
11-1993

Đường ở đảo

 Lon ton quanh vách đá
Bỗng trốn vào thung chơi
Rồi tót về bến cá
Đường chạy thẳng ra khơi
 
Từ làng chài vào lớp
Đường nằm trong khoang thuyền
Bầy trẻ thơ đi học
Ngồi trên sóng chơi vơi
 
Trường đảo ngang sườn dốc
Đường đá xếp tận nơi
Những con chữ khó nhọc
Dắt biển lên với trời.
Cát Bà, 3-1994

Ông kể chuyện Điện Biên

Ông thường kể chuyện
Trận đánh Điện Biên
Quân ta thắng lớn
Giữa mùa hoa ban
 
Hồng Cúm, Him Lam,
Mường Thanh, Bản Kéo...
Dưới tầm đạn réo
Giặc chui ra hàng
 
Cờ đỏ sao vàng
Cắm trên hầm giặc
Núi rừng Tây Bắc
Rung chuyển địa cầu...
 
Bốn chục năm sau
Ông em vẫn khoẻ
Đại bác ầm vang
Trong từng lời kể.
4-1994

Tia nắng

Tia nắng ham trưng diện
Ngày thay áo mấy lần
Trung thu sắp đến gần
Nó cũng đòi đi hội
 
Ngủ dậy khoác áo hồng
Trưa mặc đồ vàng chói
Chiều khoe bộ da cam
Rong chơi mãi xẩm tốt
 
Trời mở hội đêm rằm
Không thấy tia nắng tới
Chắc khi gặp vầng trăng
Nó biết mình có lỗi.
Trung Thu 1994

Lời hứa của Ông Lê-nin

Một cuộn giẻ lăn tròn
Bầy trẻ con đá bóng
Ông Lê-nin nhìn chúng
Đôi mắt cười nheo nheo.
 
Rồi một buổi xế chiều
Ông vui cùng bọn trẻ:
- Các cháu chăm ngoan nhé
Sẽ được thưởng bóng to !
 
Sau đó vài tuần lễ
Bọn trẻ thật bất ngờ
Ông Lê-nin gửi tặng
Một quả bóng cao su.
 
Ông chẳng quên lời hứa
Giữa trăm việc bộn bề
Dù hứa với trẻ thơ
Ông Lê-nin vẫn giữ.
4-1995

Cửa ô

Ngã ba đại lộ
Có cánh đâu nào
Ai vào thành phố
Cửa ô cũng chào
 
Đây dãy phố cao
Kia nhà máy mới
Đón nắng mai vào 
Xua đi đêm tối
 
Cửa ô ngoan sao
Chẳng cần chốt khoá
Bão tố, kẻ gian
Ứ vào được nhá
 
Suốt ngày rộng mở
Mời khách gần xa
Ai qua không nhớ
Chẳng lớn đâu mà.
5-1995

HOÀI KHÁNH

5 ngày ở Kuala Lumpur - Malaysia

2011-11-22 @ 01:34 in Truyện ngắn

5 ngày ở Kuala Lumpur - Malaysia

http://img202.imageshack.us/img202/8076/78863255.jpgTối qua, thứ hai 21-11-2011, tôi cùng đồng nghiệp trở về cơ quan Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng sau 5 ngày sang thăm Kuala Lumpur - thủ đô Liên bang Malaysia. Malaysia là một trong những đất nước thân thiện và ổn định nhất ở khu vực Đông Nam Á. Nhiều thập kỷ tăng trưởng kinh tế bền vững và ổn định chính trị đã khiến cho Malaysia trở thành một trong những nước năng động và giàu có nhất trong khu vực. Đến với thủ đô Malaysia, chúng tôi được chiêm ngưỡng những nét đặc sắc nhất của đất nước này. Đoàn chúng tôi xuất phát từ cơ quan lúc 10 giờ sáng thứ năm 17-11-2011 lên sân bay Nội Bài, đáp chuyến bay đi Kuala Lumpur (Malaysia).

Kuala Lumpur là thành phố lớn nhất và là thủ đô của Malaysia. Đây là một trong ba lãnh thổ của Liên bang Malaysia, nằm trong đất của bang Selangor, trung - tây của bán đảo Malaysia. Với sự hoàn thành xây dựng Putrajava cuối những năm 90 thế kỷ 20, vai trò thủ đô hành chính và tư pháp của Kuala Lumpur đã được chuyển cho thành phố mới này tuy một vài cơ quan tư pháp vẫn còn đặt ở Kuala Lumpur. Quốc hội Malaysia vẫn hoạt động ở Kuala Lumpur, do đó, thành phố này vẫn là thủ đô lập pháp của Malaysia. Kuala Lumpur hiện tại có diện tích 243,65 km2, dân số 1.479.388 người.

Chuyến bay VN861 của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam cát cánh lúc 15 giờ 45 phút và qua một hành trình bay dài 3 tiếng đồng hồ theo hướng tây nam, tới 19 giờ 50 phút (giờ Malaysia) đã hạ cánh an toàn xuống đường băng sân bay quốc tế Kuala Lumpur. Nhà ga sân bay thật rộng. Chúng tôi làm thủ tục nhập cảnh rồi lên xe điện chạy nội bộ chừng 5 phút mới ra tới cửa ga sân bay, nơi ấy đã có một chiếc xe ô-tô du lịch chờ sẵn, để đưa chúng tôi vào trung tâm thành phố. Xe chạy nhanh trên đường cao tốc 6 làn xe, suốt quãng đường dài chừng 60 km. Rồi thành phố hiện ra với lung linh ánh đèn điện rực rỡ như sao sa. Thành phố được thành lập năm 1857 tại hợp lưu sông Gombak và sông Kuala Lumpurang. Trong tiếng Malay, Kuala Lumpur có nghĩa là "hợp lưu sông bùn lầy". Khu định cư được bắt đầu khi một gia đình của hoàng gia Selangor là Raja Abdullah mở cửa khu thung lũng Kuala Lumpurang Valley cho những người khai thác thiếc. 87 người đi đào thiếc người Hoa đã đến sông Kuala Lumpurang và bắt đầu khai thác ở khu vực Ampang - lúc đó còn là rừng rậm. Dù 69 trong số đó chết do bệnh dịch, một mỏ thiếc phát đạt đã được thiết lập. Và điều này đã đương nhiên thu hút các nhà buôn đến khua vực này buôn bán thiếc và các hàng hóa khác. Các nhà buôn xây dựng cửa hiệu tại hợp lưu hai con sông Kuala Lumpurang và Gombak - từ đó thành phố này được khai sinh. Khi thị trấn này phát triển, người Anh lúc đó đang cia trị Malaya đã cảm thấy cần phải bổ nhiệm một người đứng đầu (Chinese Kapitan, hay Captain of the Chinese) để quản lý khu định cư này và đảm bảo trật tự và pháp luật. Vị Kapitan Cina là Hiu Siew. Vị Kapitan Cina thứ 3, Yap Ah Loy hay Diệp Á Lai, đã tiên liệu trước Kuala Lumpur từ một trị trấn khai mỏ nhỏ sẽ trở thành thành phố hàng đầu của Selangor.

Chúng tôi nghỉ đêm đầu tiên tại khách sạn Ancasa Hotel and Spas ở khu vực trung tâm thành phố, nơi rất gần Tháp Viễn thông Malaysia và có thể ngắm toàn cảnh thành phố Kuala Lumpur trong đêm lung linh ánh điện với nhiều tòa tháp cao hàng chục tầng. Menara Kuala Lynpur hiện là tháp viễn thông cao thứ 5 thế giới, tọa lạc trên đồi Bukit Nanas hill bên cạnh Convent Bukit Nanas.

http://img257.imageshack.us/img257/7515/79995242.jpg

Sau bữa sáng tại khách sạn 10 giờ ngày thứ sáu 18-11-2011, chúng tôi được hướng dẫn đi thăm quan một số điểm du lịch của Kuala Lumpur. Đầu tiên, chúng tôi dừng chân trước cổng chính của Cung điện Hoàng gia Malaysia. Cung điện này được xây dựng vào năm 1928, trông rất nguy nga và tráng lệ. Nó còn được biết đến với cái tên Cung điện Alam Shah, là nơi ở của Vua và Hoàng hậu Malaysia. Cung điện tọa lạc trên một khu đất rộng 11,2 ha, trên một ngọn đồi nhìn ra sông. Đứng trước cổng Cung điện này cũng có thể chứng kiến được nghi lễ đổi gác, vẫn còn được giữ cho đến ngày nay từ thời thuộc Anh. Cung điện cũng là nơi tổ chức các cuộc họp mặt quan trọng và các nghi lễ trọng thể của đất nước.

http://img18.imageshack.us/img18/4657/85580624.jpg

Sau đó, chúng tôi đến thăm viếng Tượng đài Quốc gia, rồi Quảng trường Độc Lập.. The Tugu Negara là Tượng đài quốc gia, nhằm tưởng niệm những người chết vì cuộc đấu tranh giành độc lập cho Malaysia, chủ yếu chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản trong thời kì Malavan Emergency. Trong những năm đầu, Kuala Lumpur là trung tâm của Nội chiến Selangor, trong đó có hai cuộc có thể nhận thấy: một cuộc chiến đấu giữa các hoàng tử Selangor về thu nhập từ các mỏ thiếc và một là cuộc trả thù giữa Kapitan Yap và Chong Chong - người muốn tranh chức Kapitan. Kapitan Yap và những ủng hộ Tengku Kudin đã thành công và kể từ đó, nhờ sự lãnh đạo tài tình của Kapitan Yap, Kuala Lumpur đã trở thành thành phố lớn nhất Selangor. Ông ta đã cho xây lại Kuala Lumpur bị phá hủy bởi nội chiến và chiêu mộ những người Hoa ở nơi khác thuộc Selangor đến ở. Ông cũng khuyến khích nhiều người nông dân Malay đến ở xung quanh thành phố để đảm bảo nguồn lương thực cung cấp ổn định. Kuala Lumpur trở thành thủ đô của Selangor năm 1880 nhờ vào thành công của Kapitan Yap. Ông đã tạo cho Kuala Lumpur một hệ thống tư pháp để duy trìn có hiệu quả pháp luật và trật tự và đảm bảo Kuala Lumpur là trung tâm thương mại ở Selangor. Sau khi Kuala Lumpur bị thiêu rụi năm 1881, Kapitan Yap đã quyết định cho xây Kuala Lumpur bằng gạch và thay đổi những căn nhà nguy hiểm. Ông cho thiết lập trường học đầu tiên của Kuala Lumpur và nhà ở cho những người vô gia cư. Kuala Lumpur của Yap đã là một thành phố hỗn loạn do bản thân Yap Yap là thành viên của Hội Tam Hoàng và các cuộc thanh toán băng nhóm xảy ra như cơm bữa. Kapitan Yap đã cấp phép cho thành lập các nhà thổ, sòng bạc và các quán rượu. Sir Frank Swettenham lúc này đã được chấp thuận làm Công sứ của Selangor và ông ta là người chịu trách nhiệm biến Kuala Lumpur thành thủ phủ hành chính của Selangor. Dưới sự cai trị của ông và sau cái chết của Yap, thành phố đã liên tục thịnh vượng. Khi các bang của Liên bang Malay được hợp nhất với nhau khi Swettenham đang tại vị vào năm 1896, Kuala Lumpur đã được chọn làm thủ đô. Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, quân Nhật Bản chiếm Kuala Lumpur ngày 11/1/1942 và chiếm giữ thành phố trong 44 tháng. Sau khi độc lập năm 1957, Kuala Lumpur đã được chọn làm thủ đô của Liên bang Malaya và tiếp tục là thủ đô của Liên bang Malaysia được đổi tên năm 1963. Để cử hành lễ tuyên ngôn này, một sân vận động lớn được xây dựng - Stadium Merdeka (Sân Độc lập), nơi Thủ tướng đầu tiên của Malaysia đọc Tuyên ngôn độc lập trước đám đông dân chúng. Cờ Union Jack được hạ khỏi cột cờ tại Quảng trường Độc lập và cờ của Malay được kéo lên. Ngày 1-2-1972, Kuala Lumpur được rút khỏi Selangor và thành phố này trở thành một lãnh thổ trực thuộc Liên bang.

Buổi trưa thật khô rang với cái nóng 34 độ C. Tại cửa hàng giới thiệu và bán đặc sản chocolats nổi tiếng của Malaysia, chúng tôi được thưởng thức hàng loạt sản phẩm khác nhau ở đây, trước khi dùng bữa ăn trưa tại một nhà hàng Trung Hoa. Rồi chúng tôi được đưa tới thăm chùa Thiên Hậu. Đây là một trong những ngôi chùa Trung Hoa lớn nhất ở Đông Nam Á nằm trong khuôn viên rộng 1,67 mẫu, hoàn thành năm 1987. Cổng vào chùa là một cửa hình cung có nhiều cột sơn son, biểu tượng cho sự thịnh vượng và may mắn. Chùa Thiên Hậu là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa của người Hoa ở Malaysia như Tết Trung Thu hằng năm. Trong ngày 11-11-2011 vừa rồi, có tới hơn 1000 đôi nam nữ tổ chức kết hôn tại đây.

Chiều tối, đoàn chúng tôi lên cao nguyên Genting. Nơi đây cách Kuala Lumpur 51 km. Nếu đi từ Kuala Lumpur bằng xe hơi mất một tiếng đồng hồ. Chúng tôi tham quan Cao nguyên Genting – khu nghỉ mát lý tưởng cao 2000 mét từ mực nước biển. Ở đây có cáp treo Genting Skyway. Chúng tôi rất thích thú khi được ngồi lên cáp treo và ngắn cảnh rừng núi ở đây. Cáp treo này sau khi xây dựng xong, dài 338o mét, từng là cáp treo dài nhất ở khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên đến tháng 3 năm 2009, thì đã bị tuyến cáp treo Bà Nà của thành phố Đà Nẵng ở Việt Nam phá kỷ lục với độ dài hơn 5.04o mét. Cáp treo Genting được ghi nhận như "Hệ thống xe cáp treo đơn nhanh nhất Đông Nam Á", giúp du khách du lịch có một tầm nhìn xanh dọc đường đến với khu du lịch với việc nhìn phong cảnh xung quanh đường lên đỉnh. Độ dài di chuyển 11 phút từ trạm xuất phát. Thời gian hoạt động: Chủ nhật và thứ sáu :7.30 sáng đến 11h đêm. Thứ bảy: 7.30 sáng đến 12h đêm. Năm 2006, khu nghỉ mát này thu hút 18,4 triệu du khách. Những năm gần đây, số lượt du khách tới đây bằng xấp xỉ số dân Malaysua là 26 triệu người. Khu nghỉ mát cao nguyên Genting được tạo dựng bởi Tan Sri Lâm Ngô Đồng vào cuối thập niên 1960. Cao nguyên Genting có khí hậu mát mẻ quanh năm là một đỉnh núi nằm trong dãy núi Titiwangsa ở giáp giới giữa các bang Pahang và Selangor của Malaysia và nơi có khu nghỉ mát núi Genting, với các khu vui chơi giải trí, sông bạc Casino nổi tiếng ở châu Á. Đôi khi khu vực này được gọi bằng tên không chính thức là "Las Veggas của Malaysia" vì đây là nơi duy nhất có sòng bạc hợp pháp ở Malaysia, do công ty Resorts World Bhd - một công ty con của Genting Group - và First World Hotel and Resort Sdn Bhd quản lí. Khu nghỉ mát Cao nguyên Genting cũng có nhiều khách sạn do các công ty con Genting sở hữu, bao gồm Genting Hotel, Highlands Hotel, Resort Hotel, Theme Park Hotel và Awana Genting. Chúng tôi được bố trí chỗ nghỉ đêm tại tại tầng 12 tòa tháp số 2 của First World Hotel. Khách sạn này gồm 2 tòa tháp, với tổng cộng 6.118 phòng. Đây cũng là khách sạn có số phòng nhất thế giới hiện nay. Khách sạn này vượt qua MGM Grand Las Vegas, khách sạn lớn nhất thế giới trước đây với 5.690 phòng. Các cơ sở giải trí khác ở Genting còn có các công viên chủ đề, sân golf, các khu mua sắm, tàu lượn cao tốc, phòng hòa nhạc và với hơn 80 cửa hàng bán lẻ, 60 địa điểm vui chơi, giải trí. Cao nguyên Genting còn được biết đến bởi các danh hiệu như "Thành phố trong mây" hay "Thành phố giải trí" vì ở cao nguyên này mọi người có thể thấy mây và đôi khi mây bay thấp hơn so với độ cao của cao nguyên Genting.

http://img822.imageshack.us/img822/3747/73048140.jpg

Sáng thứ bảy 19-11-2011, xe ô-tô đón đoàn chúng tôi trở về thành phố Kuala Lumpur. Trên đường về, chúng tôi ghé vào mua một vài món quà đặc trưng của Malaysia như đá đen, sâm Tongkat Ali, cà-phê trắng, ca cao,… và tham quan Động Batu. Đó là một ngôi đền Hindu nằm trong một núi đá vôi thấp ở phía bắc thành phó Kuala Lumpur. Ở đây có một loạt hang động và các đền trong hang động. Động Batu là nơi thờ phụng linh thiêng của người Hindu ở Malaysia. Có 272 bậc thang dẫn đến đền thờ trong động. Ngay cạnh lối lên động có dựng một tượng thần Lord Murugan cao 42,7mét. Một năm một lần, hàng triệu người mộ đạo Hindu và du khách đến động và kỉ niệm lễ hội Thaipusam. Buổi chiều, chúng tôi dừng chân chụp ảnh lưu niệm tại khu vực Tháp đôi Petronas và vào mua sắm tại siêu thị 6 tầng Suria KLCC, nằm ngay dưới và kiên kết 2 chân tòa Tháp đôi Petronas. Tam Giác Vàng là trung tâm thương mại của thành phố, nơi có Petronas Twin Towers và cuộc sống đêm riêng biệt. Tháp đôi Petronas là một công trình độc đáo của Kuala Lumpur. Tháp đôi Patronas - hoàn thành năm 1998 sau 7 năm xây dựng. Petronas gồm 88 tầng được xây bằng vật liệu bê tông cốt thép, mặt tiền mô phỏng theo nghệ thuật kiến trúc đạo Hồi. Nó là tháp đôi cao nhất thế giới và là các tháp đơn cao thứ 3 thế giới, đứng gần một trong những trung tâm mua sắm bận rộn nhất ở Malaysia. Sau bữa ăn tối tại một nhà hàng với các món ăn Malaysia, chúng tôi trở về khách sạn Quality Hotel để dành thời gian buổi tối cho việc đi mua sắm tại siêu thị Sogo gần đó.

Ngày chủ nhật 20-11-2011 thật yên tĩnh bởi đó là ngày nghỉ cuối tuần. 10 giờ sáng, chúng tôi đi bộ vài trăm mét qua mấy con phố để vào siêu thị Sogo mua thêm một số hàng hóa về làm quà. 12 giờ, chúng tôi rời khách sạn và sau bữa ăn trưa thì đi thưm thành phố mới Putrajava. Trời ào xuống một cơn mưa rào. Chúng tôi dừng bước bên con sông. Đứng dưới chân cầu Giấc Mơ, chúng tôi dõi mắt về phía thành phố mới Putrajaca. Đây là trung tâm hành chính liên bang mới. Đây là thị trấn có phong các vị lai nơi đóng trụ sở các bộ của chính phủ. Các toàn nhà hành chính đã được xây hai bên con đường lớn, theo motif National Mall ở Washington DC. Cuối driveway này là văn phòng Thủ tướng và phía cuối bên kia là Trung tâm Hội nghị. Xe chúng tôi lăn bánh trong mưa thật chậm và sau cùng lao lên đường ra sân bay quốc tế Kuala Lumpur. Đây là sân bay lớn nhất Malaysia và là một trong những sân bay nhộn nhịp nhất châu Á. Làm xong thủ tục xuất cảnh, chúng tôi lên máy bay của Hãng hàng không Vietnam Airlines để đáp chuyến bay VN680 lúc 18 giờ 55 phút về nước. Đã quá giờ mà không thấy máy bay nhúc nhích. Hỏi mấy cô tiếp viên hàng không thì các cô ấy không được phép phát ngôn. Rồi cuối cùng cơ trưởng cũng có lời xin lỗi và mời hành khách rời khỏi máy bay để quay trở lại phòng chờ của sân bay. Sốt ruột và thèm hơi thuốc lá, chúng tôi xin ra và tìm lại phòng hút thuốc. Những điếu thuốc lá lần lượt cháy đỏ trên kẽ ngón tay. Chúng tôi được phát ticket đi ăn nhanh bữa tối ngay tiệm ăn ở nhà ga sân bay. Rồi chúng tôi lại được mời lên máy bay, ngồi đợi chán chê thì lại nhận được thông báo máy bay bị sự cố kĩ thuật mêm phải hủy chuyến bay này. Hành khách chán chường bước xuống sân bay. Nhà ga trả lại hành lí kí gửi cho hành khách. Chúng tôi cùng hơn 100 hành khách lại lần lượt đứng xếp hàng làm thủ tục nhập cảnh vào Malausia như buổi đàu háo hức đặt chân tới. Rồi chúng tôi lại nhảy lên xe điện đưa ngược trở ra cửa sân bay. Mọi hành khách ngao ngán ngồi chờ đợi xe đến đưa về nghỉ đêm tại một khách sạn hàng không Malaysia cách sân bay chừng 10 phút chạy xe. Đó là cái đêm đáng nhớ khi bị trễ giờ bay của chúng tôi trên đất Malaysia. Chúng tôi ngủ lại đêm thứ tư tại Malaysia lúc 3 giờ sáng.

http://img193.imageshack.us/img193/2512/15098830.jpg

10 giờ sáng thứ hai 21-11-2011, chúng tôi lên xe ra sân bay lần thứ hai. Lần lượt làm các thủ tục xuất cảnh, cuối cùng chúng tôi cũng vào phòng chờ bay. Chúng tôi đi đi lại lại khi vào các quầy hàng miễn thuế khi vào ngồi phòng hút thuốc lá, tư lự nhả khói và nhìn ra những đường băng sân bay. Sân bay quốc tế Kuala Lumpur được xây dựng với kinh phí lên đến 3,5 tỉ USD và được khánh thành ngày 27-6-1998. Kiến trúc sư người Nhật Bản là Kísho Kurokawa thiết kế sân bay này. Sân bay cách thủ đô Kuala Lumpur 50 km. Năm 2009, sân bay này đã phục vụ 29,6 triệu hành khách (thấp hơn mức dự kiến là 35 triệu khách). Sân bay này co tháp kiểm soát không lưu cao 130 m, cao thứ 2 trong các tháp không lưu (chỉ đứng sau tháp tại Sân bay quốc tế Suvarnabhumi Bangkok) có 2 đường băng rộng 60 mét, dài hơn 4.000 mét, có thể phục vụ 120 chuyến/giờ. Theo quy hoạch, sân bay này sẽ có 4 đường băng. Công suất nhà ga giai đoạn 2 đến năm là 35 triệu khách/năm và từ năm 2008 đến 2012 là 45 triệu khách/năm. Chiếc máy bay của Hãng hàng không Vietnam Airlines nhỏ bé quá so với những chiếc máy bay khác của các Hãng hàng không nước ngoài. Rồi chuyến bay VN680 cũng cất cánh lúc 14 giờ 30 phút giờ Malaysia. Chúng tôi rời Kuala Lumpur trong sự lo au, hồi họp và vẫn biết còn quá nhiều công việc đang chờ đợi ở phía quê hương Việt Nam.

HOÀI KHÁNH

Tia nắng xanh (phần 1)

2011-11-11 @ 11:11 in Tác phẩm của Hoài Khánh

altVào dịp này cách đây 15 năm, tập thơ Tia nắng xanh (Nhà xuất bản Hải Phòng - 1996) là tập thơ thứ hai của Hoài Khánh viết cho thiếu nhi ra mắt bạn đọc. Tập thơ được xuất bản sau ngày Hoài Khánh lần đầu đi phẫu thuật chữa bệnh dài ngày tại Viện Mắt Trung ương trở về. Khi đó, hoàn cảnh kinh tế gia đình Hoài Khánh cực kì khó khăn. Tập thơ tập hợp những bài thơ do  Hoài Khánh sáng tác trong thời gian từ 1991 đến 1996 và đã được đăng rải rác trên báo chí dạo đó... Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một chùm thơ rút trong tập thơ này.

Cây đàn chú thương binh

Em thường sang hàng xóm
Nhà một chú thương binh
Chắc hôm nay chú ốm
Nên tiếng đàn lặng thinh

Em rủ thêm mấy bạn
Đến thăm chú cho vui
Chú thương binh mỉm cười
Cầm tay em lắc lắc

Ngồi giữa bầy trẻ nhỏ
Chú thấy khỏe lên nhiều
Cây đàn ghi-ta gỗ
Bỗng tự ngân bao điều...

Hà Nội, 6-1991

Xe đông lạnh

Lêu đêu như toà nhà
Chạy ầm ì ngoài phố
Mùa đông đầy khoang chứa
Rủ biển vàng đi xa

Đám mực bóc nang ra
Bầy tôm he lột vỏ
Đàn cá thu nằm ngủ
Biển ngồi lì trong xe

Lăn bánh lên miền núi
Bon bon về thôn quê
Lúc vượt qua biên giới
Bốn phương trời gần ghê.

12-1991

Đèo Hải Vânalt

Núi như ông già
Ngồi bên biển cả
Lặng lẽ câu cá
Vai quàng khăn bông

Phía bắc gió đông
Phía nam nắng hạ
Những đoàn tàu hoả
Vượt qua hai mùa

ào một cơn mưa
Lưng đèo trắng xoá
Đàn bò sững sờ
Quên không gặm cỏ

Nghe dòng suối nhỏ
Hát lời mộng mơ
Ai từng qua đó
Ngỡ thành trẻ thơ .

Chuyến tàu Thống Nhất đầu năm mới 1992

Chuyện mèo và chó

Nhà nuôi thêm chó cảnh
Chú vện ta đâm buồn
Suốt ngày đi lủi thủi
Nhiều lần bỏ bữa luôn

Rồi vện lăn ra ốm
Chẳng mấy ai đoái hoài...

Bạn mèo bên hàng xóm
Vội nhảy tót sang chơi
Mẩu xương, mèo nhường vện
Khúc cá, vện nhường mèo
Chúng đã thành đôi bạn
Không phân biệt giàu nghèo

Chúng kết thân đến mức
Chó cảnh cũng chạy theo.

Xuân 1992

Lá cờ đỏ

Ông kể chuyện xưa
Thời làm cách mạng
Treo lá cờ Đảng
Trên cây đa làng
 
Bọn giặc kinh hoàng
Trước màu ngọn lửa
Đồn Tây tan hoang
Dưới trời bão tố...
 
Cây đa còn đó
Mà ông xa rồi
Gợi lòng em nhớ
Lá cờ đỏ tươi.

2-1993

Đom đóm

Cả ngày lăn ra ngủ
Tối xách đèn rong chơi
Cứ tưởng mình sáng dạ
Nên ứ chịu học bài
 
Thế rồi kỳ thi đến
Đom đóm bị điểm hai
Chàng ta lủi đâu mất
Trước ánh hồng ban mai.

4-1993

HOÀI KHÁNH

Con đường hướng thiện cho nhân vật trong tiểu thuyết "Thủy sinh" của Nguyễn Quốc Hùng

2011-11-05 @ 05:11 in Tác phẩm và dư luận

Con đường hướng thiện cho nhân vật trong tiểu thuyết Thủy sinh của Nguyễn Quốc Hùng

http://quochung.vnweblogs.com/gallery/24285/Thuy%20sinh.jpgĐọc xong cuốn thiểu thuyết Thuỷ sinh của Nguyễn Quốc Hùng (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011) sẽ không khỏi băn khoăn bởi đâu là con người lương thiện trong số những con người đang vật vã mưu sinh trên dòng sông Cấm.

Sống nhờ "dòng sông ngàu đục, đỏ như màu tôm luộc", họ cũng là một kiếp thuỷ sinh. Những con người mưu sinh bằng nghề “gắng cào bùn cho nhanh để tìm những mẩu sắt vụn rơi xuống”, và “ngửa cả ngày cho bọn thuỷ thủ “đâm” tả tơi, thế mà khi về đi nhờ sang sông mà mẹ con nhà Cống cũng lấy hai chục” “chẳng lẽ ngày nào cũng chấn tiền của công nhân” và còn cả tầng lớp người “đã học được kỹ nghệ này ở trường đời, từ chính những kẻ như Luật là quan chức mà hám tiền hám gái mà ra”. Cực nhọc, khổ nhục, thậm chí phải đổ máu mới kiếm được “mỗi chuyến tàu rời bến, moi móc lòng sông cũng kiếm đủ gạo ăn một tháng. Lần nào cũng hy vọng công nhân bốc xếp làm ẩu để rơi hàng xuống sông thật nhiều còn kiếm thêm chai rượu”. Triết lí cuộc đời của những con người vật vã mưu sinh này, “tựu chung lại, tình và tiền hợp lại thành thứ đạo để con người tôn sùng và trút giận. Tiền càng nhiều, tình càng rộng thì con đường đạo càng thênh thang”. Với triết lí cuộc đời ấy, họ như một mũi tên đã rời cây cung bay về đích và vì tiền mà sẵn sàng “cắn xé nhau như chó".

Trục trung tâm của tiểu thuyết xoay quanh ba nhân vật: Phương, Thành, Luận và cuộc đời của Phương, Luận là hai trục nhỏ quay xung quanh Thành. Tác giả tạo ra trục trung tâm này quay quanh trục trung tâm khác muốn một đích tới, nhưng được tiếp cận bằng nhiều hướng khác nhau, muốn giải quyết một hệ quả rằng, nhiều tầng lớp xã hội cùng bị chi phối bởi một nguyên nhân sẽ cho kết quả ra sao.

Phương và Thành có mối tình đầu đời trong sáng. Cùng nghe theo tiếng gọi của đồng tiền, cả hai đã mờ mắt đi tìm “một thế giới lắm tiền nhiều của,… chỉ ở nhà hưởng trợ cấp thất nghiệp cũng đủ sống đàng hoàng”. Nhưng Phương ũng phải trở về nước mang theo nỗi thất vọng không tìm được bến đáp hi vọng và đồng hành là sự bất lực của “thằng đàn ông” do cuộc sống hà khắc trong trại tị nạn gây nên. Đó cũng chính là sự bất lực cho cuộc đời mà Phương không thể vượt qua. Còn Thành trở về nước cũng tưởng chừng đã tìm được hướng đi cho cuộc đời với người chồng và có cái nghề đảm bảo đủ đầy về vật chất. Rồi số phận hay tham vọng đã sắp đặt cho Phương và Thành tan rồi lại hợp, cùng dắt tay nhau đi trên một con đường đời. Trở lại với Thành, Phương đã tìm lại được “thằng đàn ông” đích thực. Và ước vọng cho tương lai của Phương “có đứa con, cuộc đời sẽ bớt cô đơn hơn, bớt lẻ loi một thân một mình trên cõi đời, sẽ khép vòng tròn cuộc đời Phương được kín hơn”. Nhưng tham vọng lớn nhất của Phương và Thành lại là tiền, là tình, đâu cho họ một cuộc sống bình yên như vậy. Họ lao vào những phi vụ làm ăn bất minh và tội lỗi: chấn tiền công nhân, áp chế những người làm ăn lương thiện.

Cuộc đời Thành sao lạ thế, “toàn gặp phải những người đàn ông bất lực về chuyện ấy”. Tìm đến Thành,  Luật giắt theo cùng ví tiền chật cứng là tâm địa trả thù vợ, người gây nên nỗi khổ đàn ông của Luật. Luật và Thành cũng tìm được đam mê về tình ái Nhưng Luật không phải là Phương, mỗi người có con đường đi riêng của mình. Luật vẫn là kẻ bất lực chuyện chăn gối bởi hắn quá phí phạm từ những mưu toan đường đời, những mối lợi thực tế. Vì cái tình với Thành mà Luật từ một quan chức mẫn cán chỉ biết đến sách vở, tận tuỵ với chuyên môn, đã được “Phương chỉ cho Luật thấy, dạy cho Luật bài học ở đời còn nhiều kẽ hở lắm, hãy lách vào, chịu đựng mà tìm cơ hội hưởng lợi”, để rồi nhờ những lời chỉ bảo ấy mà “leo cao được như bây giờ”. Thế rồi “thằng đàn ông” trong Luật cũng được cứu bởi một cô gái điếm. “Thằng đàn ông” của Phương và Luật được cứu không phải vô tình.

Ai cũng có quãng đời ấu thơ thật đẹp. Với Phương là dòng sông trước cửa nhà êm đềm, Nay “mọi ngôi nhà của làng đều dịch chuyển, quay hướng ra đường quốc lộ cho xứng với tầm vóc mới, với điều kiện sinh sống mới” Ngôi nhà của Phương trở nên hoang vắng và “dòng sông chỉ còn làm nơi chứa chất lỏng để phục vụ những con tầu vỏ thép khổng lồ. Nó sống có nửa phận đời”, chỉ còn những giọt nước trơn nhớt, chỉ còn những con cá úc vàng nhợt, tanh nồng. Với Luật, sinh ra và lớn lên ở làng quê nhỏ bé, có những mái nhà như những con người đang ngồi tụm đầu vào nhau trò chuyện thân tình, có những gian nhà tường tróc hết vữa bởi đã trải qua mấy đời. Thế mà trong chốc lát làng quê xưa đã biến thành sân gol, thành thước đo độ căng của túi tiền, giá trị văn hoá bị biến thể “chén bằng sứ Giang Tây, nước được khử trùng bằng hoá chất, được đun trong ấm điện của Nhật, trà được trồng bằng giống mới nhờ kích thích tăng trưởng, tất cả không phải nguyên trạng từ xa xưa, thế nhưng người ta vẫn tự cao cho là đã giữ được bản sắc dân tộc, quốc hồn quốc tuý” Thế ra, “Họ huỷ hoại mà không cho rằng mình là kẻ gây nên tội, bởi họ còn mải giành giật từng đồng tiền để thoả mãn những hoan lạc khác”. Vì vậy “thằng đàn ông” trong Phương và Luật chỉ được cứu bởi nỗi “khi tìm được đam mê trong bản ngã của mình thì con người mới dựng dậy được. Tại sao chỉ có Thành mới thổi được ngọn lửa tình trong Phương bùng cháy. Mỗi lần được làm tình thoả mãn Phương thấy mình thanh thản, cái tình con người quện lấy nhau. Đó là lúc ký ức trở về”.

Cái đẹp trong cuộc sống, trong mỗi con người ngày nay tìm được hiếm lắm. Nhưng hãy cất công đào bới đi, tiềm ẩn sâu xa trong mỗi người ai cũng có, nằm sâu trong mọi ngóc ngách cuộc đời đâu cũng có. Phải tìm được cái đẹp đích thực thì cuộc sống mới có ý nghĩa, con người mới dựng dậy được. Con đường hướng thiện cho nhân vật trong tiểu thuyết “Thuỷ sinh” của Nguyễn Quốc Hùng đề cập tới là thế.

Đọc xong Thuỷ sinh không khỏi sót xa, nhân vật Phương tưởng chừng sau khi hoàn tất mọi mưu toan trên quãng đường đời vừa qua chỉ còn hướng tới một tương lai được sống thanh thản, nhưng “mấy kẻ hộc tốc chạy cho kịp chuyến phà đang rời bến xô đẩy Phương ngã dúi xuống hè đường thì dằn vặt mới lại ập đến... Mạng sống con người rẻ đến thế thôi sao?”. Sót xa cho những thân phận phải gồng mình gắng vượt qua cuộc sống khắc nghiệt mà không nổi như Tươi, như Vinh “vổ”, như Cường “kễnh”… Những thân phận thuỷ sinh sống nhờ dòng sông mà “dòng sông thì vẫn đỏ màu phù sa nhưng nước thì thay đổi quá nhiều rồi, đặc sánh, khét nồng mùi dầu máy …”

Qua Thuỷ sinh - tiểu thuyết thứ ba của Nguyễn Quốc Hùng, một lần nữa bạn đọc lại thấy tác giả thể hiện được vốn sống phong phú trong từng trang viết. Không biết có phải tác giả cố tình sắp xếp các tình tiết đan xen lẫn nhau, dẫn dắt mạch chuyện không theo một trình tự để những cuộc đời trong tác phẩm giống như thực tại cuộc sống đang diễn ra phức tạp khiến người đọc có phần khó theo dõi. Tin rằng, những con người hàng ngày phải vắt mồ hôi đổi lấy đồng tiền bát gạo sẽ lại được Nguyễn Quốc Hùng - một tác giả văn xuôi của Hải Phòng, một người công nhân lao động trực tiếp trên bến cảng - sẽ thể hiện nhiều hơn, sâu sắc hơn trong những sáng tác mới của anh.

HOÀI KHÁNH

Hoa hồng sống bằng gì?

2011-10-29 @ 00:06 in Chuyện vui

Những động vật nguy hiểm

Cô giáo yêu cầu học sinh lớp 1 làm văn tả động vật. Đề bài tuần thứ nhất là tả một con mèo. Một học sinh viết gọn lỏn: "Nhà em có một con mèo".
Khi trả bài, cô giáo hỏi:
- Sao em không tả rõ hơn?
Học sinh đáp:
- Dạ, nhà em có nuôi một con mèo nhưng em chưa được thấy. Vì em chỉ nghe thấy em nói là bố em có mèo, mà bố em thì ra sức giấu, còn mẹ em thì ra sức tìm. Khi nào mẹ em tìm thấy, em sẽ tả kĩ ạ!
Tuần thứ hai, đề bài yêu cầu tả con chó. Học sinh nọ lại viết cộc lốc: "Nhà em có một con chó".
Cô giáo bảo:
- Em nên tả kĩ hơn!
Học sinh giải thích:
- Dạ, con chó ấy còn ở ngoài đường ạ. Một hôm, mẹ em gặng hỏi bố em là "Hôm qua đi với con chó nào cả ngày?". Khi nào bố em dắt nó về nhà em, em sẽ tả kĩ hơn ạ.
Tuần thứ ba, cô ra đề tả con khỉ. Vẫn em học sinh bữa trước viết, lần này thì dài hơn: "Nhà em có nuôi một con khỉ. Một hôm có một cô rất trẻ đến ngõ nhà em, bố em chạy ra và nói với cô ấy là "Con khỉ già đang ngồi trong nhà đấy!".

Hoa hồng sống bằng gì?
alt

Những ngày đầu tiên đến lớp, cô giáo ăn mặc rất mốt. Hôm nay, cô mặc một bộ váy rất đẹp và trên ngực áo cài một bông hồng rất xinh xắn. Thật tiếc, trong đám học trò thì chẳng có đứa nào để ý đến cả. Hồi lâu, cô giáo muốn khoe cái áo đẹp, nên đặt ra một câu hỏi thế này:
- Các em có thấy bông hồng rất đẹp trên áo cô không, vậy cô đố các em, hoa hồng sống bằng gì?
Sau một hồi suy nghĩ (chừng có vẻ nát óc, vì tụi nhỏ mới học lớp 1 mà!), một bàn tay giơ lên:
- Thưa cô! Nó sống bằng sữa ạ!
Tất nhiên là thằng bé vừa mạnh dạn phát biểu bị đuổi ra khỏi lớp ngay lập tức mà cu cậu chắc cũng chẳng hiểu vì chuyện gì mà thế cả.
Lát sau, thầy hiệu trưởng đi ngang qua, thấy thằng bé bị đuổi ra khỏi lớp như vậy, liền đến hỏi cho rõ ngọn ngành. Thằng bé kể nguyên văn câu chuyện vừa xry ra trong lớp. Thầy hiệu trưởng cười và bảo thằng bé:
- Lần sau cô có hỏi như vậy, thì em phải nói là: bông hồng đó sống bằng nước và phân, nghe chưa!
Thằng bé làu bàu:
- Nhưng… thưa thầy, em nghĩ là rễ của nó sao có thể lại dài đến thế ạ?

Lời cha dạy

Cô gái nói với cha:
- Tuần sau con và anh ấy sẽ kết hôn, bố ạ
- ...thế thằng đó có nhà cửa đàng hoàng không?
- Không ạ. Anh ấy ở nhà trọ
- ...Nó có xe không?
- Cũng không có. Anh ấy đi xe đạp
- Bố mẹ nó thế nào?
- Anh ấy mồ côi ạ
- Ôi! Ở đời phải biết tích phúc, tích đức, con ạ! Nó đã khổ thế rồi, thì con tha cho nó đi!  Đừng làm khổ người ta nữa !!!

HÀNH KHOÁI sưu tầm

Một giọng thơ nữ từ Miền chân sóng

2011-10-20 @ 00:18 in Thơ

Một giọng thơ nữ từ Miền chân sóng

altHOÀI KHÁNH: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ Miền chân sóng của tác giả Đoàn Thị Luật, một trong những tác giả nữ tiêu biểu của huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng - một vùng quê đồng bằng được bao quanh bởi những con sông và biển cả. Tập thơ gồm 50 bài được tác giả sáng tác trong hơn 3 năm qua, kể từ khi chị chính thức được trở thành hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Có thể bắt gặp nét đằm thắm của tình cảm, sự dịu dàng của cách nhìn ở nhà thơ nữ này qua những dòng thơ chân thành, mộc mạc với con người, với cuộc sống lao động và với quê hương Tiên Lãng - nơi mà chị đã gắn một đời dạy học. Đây là tập thơ thứ 2 của Đoàn Thị Luật. Tập đầu mang tên Thề hẹn với dòng sông (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2007). Đoàn Thị Luật có nhiều thơ đăng trên báo chí và từng đoạt một số giải thưởng thơ ở địa phương. Chị đang sinh hoạt trong Câu lạc bộ thơ Bến Hàn của huyện Tiên Lãng và Câu lạc bộ thơ Nhà giáo Hải Phòng. Nhân kỉ niệm 81 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2011), blog Hoài Khánh xin giới thiệu một chùm thơ của Đoàn Thị Luật được rút ra từ tập thơ Miền chân sóng của chị vừa mới được xuất bản.

Da diết miền quê

Một ngày trở lại với dòng Văn
Nhớ con đò bồng bềnh mây nước
Bao nhiêu năm theo dòng đời xuôi ngược
Sông mẹ hiền thao thức vẫn đợi ta
 
Chảy vào em da diết miền quê
Mùa xuân hẹn nhau về
Tháng ba lúa thơm thì con gái
Khói thuốc say, mắt ai vấn vương
 
Ơi sông Văn, đôi bờ yêu thương
Trầm tích trong nhau bên bồi, bên lở
Bến nước còn đây, câu thề còn đó
Cho ngày về nỗi nhớ đầy vơi…
 
Quê hương ơi, trôi dạt một đời
Vẫn neo về bến mẹ
Nơi cánh diều tuổi thơ lộng gió
Có dáng cha đổ bóng xuống đường cày

Tháng giêng

Tháng giêng
               như thiếu nữ đa tình
                                           bầu ngực căng tròn
rạo rực xuân
Tháng giêng
                 như bản tình ca dài rộng
                                                 nụ hôn đầu
trong ký ức dịu êm
Tháng giêng
                 con đường huyền thoại
                                                đưa ta về
vườn  cổ tích tuổi xanh
Tháng giêng
                 nơi em gặp anh
                                     cho cuộc đời
                                                     khổ đau, hạnh phúc

Khẽ khàng thu

Em gội cơn mưa hạ
Lác đác tràn sang thu
Dòng sông trôi lững lờ
Sóng tóc mơn man vỗ
 
Cánh diều buông lơ lửng
Cày vỡ vào ráng chiều
Đàn trâu no hoàng hôn
Cõng mặt trời về bến
 
Gió mang theo hơi lạnh
Ấp ưu muôn cánh hồng
Ai lọc trời sáng trong
Cho em gam màu nắng
 
Nồng nàn trong vườn mẹ
Trái mít chín thơm lừng
Cam đầu ngõ ươm nồng
Lúa ngọt như hương sữa
 
Rung rinh ngoài khung cửa
Khóm cúc vừa trổ hoa
Khẽ khàng thu vào nhà
Heo may hồng đôi má

Tháng mười  

Thu gom nắng gió tháng mười
Nhanh tay liềm hái chị tôi xuống đồng
Nén vàng kết đọng đầu bông
Đá mềm, gạo chõ, nước sông mà thành
Giọt mồ hôi hóa ngọt lành
Cơm thơm mùa mới mẹ dành cho con
Rạ rơm vấn vít chân son
Chiều buông khói bếp vương tròn chân tre
 
Heo may theo bước chị về
Ủ đầm ngực áo hương quê tháng mười 

Miền chân sóng

Những rặng phi lao
                          gồng mình
chân vọc sâu lòng cát
 như người dân miền chân sóng
Những cây bần, cây sú ken nhau
                                             thành rừng
chắn che làng bình yên
                                  qua bão giông
 
Tháng bảy nước đầy
                              mồ hôi đục ngầu phù sa
Những đợt sóng ầm xô
                               ập vào bờ
rồi tan ra với biển
Phía sau con đê ngoằn nghèo
                                         hiển hiện
đồng lúa xanh rờn
                          ngút ngát sinh sôi.

ĐOÀN THỊ LUẬT

Bé Kim Giây (phần 2)

2011-10-12 @ 00:09 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Mây  alt

Mải chơi  quên lời mẹ
Mây lạc giữa trời cao
Suốt cả ngày bêu nắng
Bị ốm, ai thương nào ?

4 - 1991

Gà nhiếp ngã

Xẩm chiều gà nhiếp mải chơi
Hếch mỏ lên trời, ngã oạch xuống ao
May sao bác vịt bơi vào
Xoè đôi cánh trắng làm phao cứu gà
Gà nhiếp xấu hổ về nhà
Từ hôm ấy chẳng la cà bờ ao.

3-1991

Ông Lê-nin chơi cờ

Sáng ấy ngồi chơi cờ
Với một người bạn cũ
Ông Lê-nin bị thua
Cũng buồn như trẻ nhỏ
 
Ông đã thành lãnh tụ
Chẳng quên bạn cũ đâu
Sau trăm công ngàn việc
Vẫn chơi cờ cùng nhau.

3 - 1990

Vòm cây

Vòm cây như chiếc ô to
Đứng ngoài mưa nắng chẳng lo nhức đầu
 
Ước làm tán rợp mây cao
Che cho vòm biếc không bao giờ già

3- 1991

Hai bông hồng

Hồng bạch và hồng nhung
ở trong khu vườn chung
Ai cũng khen hai bạn
Đều thắm đẹp, thơm bông
 
Hồng bạch thích hơn bạn
Hồng nhung chẳng chịu đâu
Cả hai ganh đua nhau
Nở cánh xoè hợm hĩnh
 
Nhưng chưa được bao lâu
Cả hai đều rụng cánh.

2-1991

Mèo đi học

Ngồi trong lớp nghĩ đẩu đâu
Vuốt râu rồi lại nghếch đầu cho oai
Bất ngờ cô giáo hỏi bài
Mèo con thuỗn mặt thấy dài cái đuôi.

3 -1991

 HOÀI KHÁNH

Gặp gỡ blogger Bùi Tự Lực

2011-10-01 @ 02:12 in Thông tin tổng hợp

Gặp gỡ blogger Bùi Tự Lực

altKhi Hoài Khánh mới gia nhập làng Vnweblogs, cuối tháng 3-2008, thì hồi ấy các Câu lạc bộ Bloggers của nhiều địa phương hoạt động sôi nổi lắm. Trong đó phải kể đến những anh chị em bloggers thành phố Đà Nẵng. Tôi hân hạnh được quen biết nhà văn Bùi Tự Lực bởi anh là một blogger thân thiết.

Có một entry trên blog Hoài Khánh giới thiệu tập truyện Chiêm bao được posst lên hồi 22 giờ đêm 29-6-2008, thì ngay sáng hôm sau nhà văn Bùi Tự Lực comment: " BTL vui vô cùng Hoài Khánh ạ! Được sự sẻ chia của bạn bè văn chương là niềm hạnh phúc lớn của người cầm bút. Cảm động lắm HK ạ! Chúng ta không tự nói về mình thì ai nói? Ý nghĩ ấy của HK phù hợp với mọi người". Buổi trưa hôm đó, Hoài Khánh phúc đáp:"Bây giờ người ta thường cho rằng: ghét nhau là hội nhà văn. Mà cánh văn chương sao lắm chuyện thị phi thế, nghĩ mà buồn. Anh em cầm bút bây giờ lười đọc của nhau, ngại tặng sách nhau, nói chi đến chuyện khen nhau, động viên, khích lệ nhau. Là một người viết trẻ, HK nghĩ làm được việc gì dù nhỏ thôi nhưng có lợi cho đồng nghiệp, cho tổ chức Hội Nhà văn, thì cố gắng làm, chỉ tiếc mình tài hèn sức mọn, không làm được việc lớn thôi.Chúc anh lại có thêm nhiều trang viết mới"…

altRồi những dòng comments của anh Bùi Tự Lực và của tôi gửi qua lại trên blog để chia sẻ và động viên nhau. Rồi mãi tới dịp Đại hội lần thứ VIII Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ở Hà Nội năm ngoái, 2 anh em chúng tôi mới có cơ hội gặp mặt nhau thoáng chốc.

Chiều tối ngày 27-3-2011, khi vừa đặt chân tới thành phố Đà Nẵng, tôi đã được hặp lại anh Bùi Tự Lực và blogger Nguyễn Xuân Tư, sau đố còn được gặp gỡ những bloggers khác, như: Memory, Nguyễn Nho Khiêm, Trần Ái Nghĩa, Nguyễn Đức Nam,… altAnh em bloggers gặp nhau thì mừng lắm, trò chuyện râm ran, nào thăm hỏi nhau, nào chuyện văn chương, báo chí lại sang chuyện chơi blog, kí tặng sách cho nhau…. Tấm ảnh trên ghi lại trong một cuộc gặp gỡ như thế tại Đà Nẵng, gồm 3 bloggers Hoài Khánh, Nguyễn Xuân Tư và Bùi Tự Lực.

Chiều ngày thứ ba 20-9-2011, trong chuyến ra thăm bạn bè tại Hải Phòng và Quảng Ninh, nhà văn Bùi Tự Lực có cuộc gặp gỡ thân mật với một số anh em bloggers văn chương Hải Phòng. Và đây là một số hình ảnh lưu niejm về cuộc gặp đó. Ảnh trên (từ trái sang phải): Bùi Tự Lực, Nguyễn Quốc Hùng, Hoài Khánh. Ảnh dùng trong entry này đều do nhà thơ Nguyễn Tất Hanh chụp tại Đà Nẵng và Hải Phòng.

HOÀI KHÁNH

Sữa quá hạn !!!

2011-09-24 @ 00:47 in Chuyện vui

Buôn lậu

Một cô gái trẻ đẹp đạp xe bon bon qua khu vực biên giới, trên xe chở 2 bao cát. Chạy đến chỗ mấy anh biên phòng, thì cô bị giữ lại kiểm tra. Cô bảo với ,ấy anh rằng đó chỉ là cát thôi. 2 anh biên phòng không tin, bắt cô bỏ 2 bao xuống để kiểm tra. Sau 1 hồi kiểm tra kĩ lưỡng, thì mấy anh biên phòng chỉ thấy trong bao toàn cát là cát và đành cho phép cô gái ấy quá cảnh. Cứ thế, cứ thế, suốt 2 năm liền, cô gái này liên tục bon bon đạp xe qua biên giới với 2 bao cát như vậy. Sau này, 1 trong 2 anh biên phòng đã nghỉ việc, gặp cô và hỏi :" Tao được đào tạo chuyên nghiệp mà vẫn không biết mày mấy năm qua buôn lậu cái quái gì nữa?". Cô gái trả lời: "Ồ, thú thực với ông anh, mấy năm qua em chỉ buôn lậu… xe đạp!".

Công dụng máy vi tính

Khách hàng hỏi cô nhân viên bán hàng về công dụng của máy vi tính: Cô giảng giải: "Máy tính sẽ giúp cho công việc của anh giảm còn một nữa". Người khách liền nói: "Thế thì hay quá! Vậy thì cô hãy bán cho tôi 2 chiếc nhé!".

Sữa quá hạn !!!

Một chàng thanh niên rất trẻ và rất đẹp trai đã cưới một bà tuy giầu có nhưng lại rất... già. Sau tiệc cưới, chàng trai trẻ và người vợ già đi hưởng tuần trăng mật. Đêm đầu tiên, cô dâu và chú rể động phòng. Ai cũng băn khoăn cho bà vợ già kia e rằng sẽ không chịu nổi trước cơn mây mưa của người chồng trẻ đang tuổi sung mãn. Sáng hôm sau, mọi người nhận được hung tin: "Chú rể trẻ lăn đùng ra chết lúc trời vừa hừng sáng". Quá đổi ngạc nhiên, không ai tin đó là sự thật. Cho đến lúc tận mắt nhìn chàng trai nằm thẳng cẳng thì mọi người mới chịu tin. Gia đình chàng trai quyết định nhờ một hội đồng pháp y rất giỏi tới khám nghiệm để tìm hiểu lí do của cái chết thương tâm này. Chỉ sau vài giờ làm việc, hội đồng pháp y kia đồng thanh kết luận: "Chết do ngộ độc sau khi uống sữa quá hạn!".

 HÀNH KHOÁI sưu tầm

Chương trình thơ Miền đất Dương Kinh

2011-09-16 @ 21:27 in Thông tin tổng hợp

Chương trình thơ Miền đất Dương Kinh

altTrong khuôn khổ Lễ hội kỷ niệm 470 năm Ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung, một chương trình thơ mang tên Miền đất Dương Kinh đã diễn ra vui tươi và hoành tráng vào chiều hôm nay, thứ sáu 16-9-2011, tại Khu tưởng niệm Vương triều nhà Mạc trên địa bàn thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Chương trình do Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng và Ủy ban Nhân dân huyện Kiến Thụy phối hợp tổ chức.alt

Nhà thơ Bằng Việt - Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam - cùng nhà thơ Trần Ninh Hồ từ Hà Nội vê dự, đọc thơ, giao lưu, trò chuyện với đồng nghiệp và công chúng yêu thơ đến từ gần 20 Câu lạc bộ thơ trên địa bàn Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, có người đén từ thành phố Hồ Chí Minh.

altCác nhà thơ Tô Ngọc Thạch, Hồ Anh Tuán, Hoài Khánh, Trịnh Anh Đạt, Nguyễn Phước Giang, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Quang Tuyến, Minh Trí, Bùi Thị Thu Hằng và hội viên Câu lạc bộ thơ Dương Kinh của huyện Kiến Thụy cùng công chúng yêu văn học nghệ thuật tới tham gia chương trình với hơn 20 bài thơ thể hiện những cảm nhận về một vùng đất lịch sử nhiều ý nghĩa, cống hiến những tiết mục đọc thơ, ngâm thơ, tạo nên sự đa dạng của chương trình.. Nhà văn Lưu Văn Khuê nói chuyện về văn học thời Mạc, về Mạc Thái Tổ và việc viết tiểu thuyết Mạc Đăng Dung.

alt

Xen giữa các phần ngâm thơ, đọc thơ và nói chuyện về Vương triều nhà Mạc là một số tiết mục văn nghệ đặc sắc khai thác nội dung về quê hương Kiến Thụy và Vương triều nhà Mạc.

HOÀI KHÁNH

Bé Kim Giây (phần 1)

2011-09-12 @ 16:56 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Cách đây 20 năm, tháng 4-1991, tập thơ Bé Kim Giây (Nhà xuất bản Hải Phòng - 1991) của Hoài Khánh ra mắt bạn đọc. Vào thời điểm ấy, những tập thơ in riêng được xuất bản chưa nhiều, thơ viết cho thiếu nhi lại càng hiếm. Tập thơ đầu tay của Hoài Khánh rất mỏng, chỉ có 16 trang, in xen kẽ 2 màu xanh và đen, với 12 bài thơ dành cho lứa tuổi nhi đồng, nhưng cũng được bạn bè văn chương và các em nhỏ hoan nghênh đón nhận cùng những lời động viên, khích lệ đầy ưu ái. Nhân dịp Trung thu năm nay, xin giới thiệu 6 bài thơ trong tập thơ này, còn 6 bài sáng tác sau sẽ được giới thiệu vào một dịp khác.

Kim đồng hồalt

Bác kim giờ thận trọng
Nhích từng li, từng li

Anh kim phút lầm lì
Đi từng bước, từng bước

Bé kim giây tinh nghịch
Chạy vút lên trước hàng

Ba kim cùng tới đích
Rung một hồi chuông vang.

12 - 1988

Tắm biển

Mây bay lên từ biển
Gió nồm mênh mông xanh
Em hít căng lồng ngực
Cả bình minh trong lành

Choàng tay ôm lấy sóng
Gặp mùa hè bạc đầu
Ngỡ nằm trên cánh võng
Nghe biển hát ca dao

Như hải âu chớp cánh
Dệt nắng vàng trùng khơi
Thuỷ triều tung hoa đón
Mây trời cùng xuống bơi.

Đồ Sơn, 6 - 1989alt

Cỏ trong vườn hoa

Đi giữa vườn hoa
Lạc vào sắc thắm
Bạn nào cũng ngắm
Muốn hái về nhà

Chỉ riêng ngọn cỏ
Nép mình dưới hoa
Bốn mùa lặng lẽ
Lá xanh mượt mà

Bạn nào cũng ví
Mình là hoa thơm
Chỉ riêng có bé
Thích nhành cỏ non.

7 - 1989

Đèn biển

Khi bóng chiều sẫm lại
Biển tím dần vào đêm
Cây đèn như que diêm
Quẹt lên trời lấp loáng

Cả một đời thắp sáng
Chẳng riêng mình đứng soi
Con tàu xa thấp thoáng
Thấy bạn, ngân hồi còi.

 4 - 1987

Gội đầu

Mẹ em rời xưởng dệt
Tóc trắng hệt tóc bà
Em nấu nồi bồ kết
Mẹ gội lại nuột nà

Mẹ ơi, con mong ước
Gội xanh mái tóc bà !

9- 1986

 Chiếc nón

Chóp nhấp nhô đỉnh núi
Vành lá trắng màu mây
Nón đội nắng cả ngày
Chẳng bao giờ chịu ốm

Nón theo mẹ từ sớm
Bé mong ơi là mong
Chiều nón về rất muộn
Treo giữa nhà vầng trăng.

10 - 1989

HOÀI KHÁNH

Vì sao Hải Phòng thiếu người viết văn trẻ?

2011-09-07 @ 00:00 in Bàn về văn chương

Vì sao Hải Phòng thiếu người viết văn trẻ?

altTheo thông tin từ Hội Nhà văn Việt Nam, Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII sẽ diễn ra từ 7 đến 12-9-2011, gồm các hoạt động trên 4 tỉnh thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Tại hội nghị lần này, Hải Phòng chỉ có một đại diện duy nhất là tác giả Phạm Thúy Nga…

Ngậm ngùi nhìn “văn già”

Nếu so sánh với con số 113 đại biểu dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII, thì chuyện địa phương có một đại biểu cũng là bình thường. Nhưng điều đó với con số hơn 100 hội viên Hội nhà văn Hải Phòng, thì hình như là quá khiêm tốn.

Nhìn ngược về quá khứ, Hải Phòng được coi là một trong những cái nôi của văn học cách mạng Việt Nam, mà phần lớn các thế hệ đi trước đều trưởng thành từ rất trẻ. Nhiều người vẫn nhắc đến những tên tuổi nổi tiếng như Khái Hưng, Trần Tiêu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Nguyễn Đình Thi, Thế Lữ… họ thành danh ở Hải Phòng khi chưa chạm tuổi hai mươi. Còn hiện nay, Hội nhà văn có số lượng đông nhất trong 9 hội chuyên ngành của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, thì ngay cả Phạm Thúy Nga - người được trao vinh dự đại diện cho văn trẻ thành phố tại Hội nghị toàn quốc lần này cũng đã bước sang tuổi ba mươi.

altThực ra tình trạng “già hóa’ đội ngũ viết văn Hải Phòng mới chỉ diễn ra trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Chứ vào những năm 90 của thế kỷ trước, nhóm những người hiện “ngót nghét” già, lúc ấy còn rất trẻ. Liệt kê theo thành tích sáng tác, hai chục năm trước chưa có báo điện tử, báo viết cũng ít diễn đàn dành cho văn nghệ, nên chuyên mục “tác phẩm tuổi xanh” của báo Tiền Phong là một trong những thước đo chính cho độ “lớn” của tác giả trẻ. Năm 1990 cuộc thi “tác phẩm tuổi xanh” lần đầu tiên được báo Tiền Phong và trường viết văn Nguyễn Du tổ chức, những tác giả Hải Phòng đoạt giải như Lê Minh Thắng, Đỗ Huy Chí, Trịnh Thy Giang đều mới vừa qua tuổi 20.. Tiếp đó Hải Phòng có nhiều cái tên bật lên từ diễn đàn này: Vũ Thị Huyền, Dương Khánh Phương, Nguyễn Đình Tú…

Cùng thời gian ấy, văn đàn đất Cảng xuất hiện những gương mặt rất trẻ, sau này đều trở thành hội viên của Hội nhà văn Hải Phòng như Vũ Thúy Hồng, Lưu Quang Phổ, Bùi Quý Thực, Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Thùy Linh… nổi bật như Mai Văn Phấn, Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh và Phạm Vân Anh trở thành hội viên hội nhà văn Việt Nam.

Thiếu người làm “văn trẻ…”?

Trở lại với Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần này, hàng chục năm tìm “rách mắt” mới được một đại diện là Phạm Thúy Nga? Đây là sự thoái trào hay vì Hải Phòng không còn người chịu làm “văn trẻ”?

Nhớ lại Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IV được tổ chức năm 1994, Hải Phòng có tới 3 đại diện chính thức là Mai Văn Phấn, Đỗ Huy Chí và Vũ Thị Huyền. Vậy mà vẫn khiến những người có trách nhiệm lúc ấy “sôi lên”, nhà thơ Mai Văn Phấn thì lo “đấu tranh” với Ban tổ chức, nhà văn Lưu Văn Khuê thì đôn đáo “lo” cho mỗi người 50 nghìn (tương đương 70 kg gạo), để cuối cùng thêm các tác giả Lưu Quang Phổ, Vũ Thúy Hồng, Lê Minh Thắng có cơ hội góp mặt suốt những ngày hội nghị. Đến Hội nghị lần thứ VI năm 2001, Hải Phòng có hẳn một đoàn đại biểu 5 người gồm Hoài Khánh, Vũ Thị Huyền, Phạm Vân Anh, Vũ Thúy Hồng và Lê Minh Thắng.

altCó người cho rằng văn trẻ không thể tính bằng tuổi tác, vì văn thơ là năng khiếu, nghĩa là sự phát lộ tự nhiên, không ai dạy nhau làm được nghề này cả. Nói thế, nhưng “mầm” nảy tự nhiên mà không gặp đất tốt, không có người chăm sóc cũng khó mà đâm chồi nảy lộc. Điều này rất rõ ở Hải Phòng, mà thập kỷ 90 có thể nói là một giai đoạn vận động đáng ghi nhận của phong trào văn trẻ. Ngay từ sau hội nghị năm 1994, ý định thành lập một dạng hình Câu lạc bộ đã được các tác giả trẻ nhen nhóm. Nhưng tuổi trẻ nhiều nhuệ khí mà thiếu kinh nghiệm, nên mãi đến năm 1999, “Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ” mới chính thức ra mắt. Chỉ có điều những cái tên nòng cốt lúc ấy cũng bắt đầu ngấp nghé sang tuổi xế “trưa”, nên tồn tại cũng được vài năm, chỉ kịp gom nhặt được vài thành tựu. Nhưng chính nhờ thế, Hải Phòng có thêm một nguồn để thu hoạch, bằng chứng là thời gian ấy, hầu hết các hội viên mới của Hội nhà văn đều xuất thân từ Câu lạc bộ này.

altPhải nói là Câu lạc bộ đã tạo ra một môi trường rất tốt cho sự giao lưu, ghi nhận, thúc đẩy cảm hứng sáng tác. Nhưng sự vận động tự nhiên đã bị chính tuổi tác giới hạn, nó không nở rộ vì thiếu sự chăm bẵm, nên mới nói Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ là một sự thể nghiệm và cũng rất đáng rút kinh nghiệm của Hải Phòng. Vẫn biết những năm gần đây, sự đầu tư cho sáng tác khá hơn trước rất nhiều, năm nào thành phố cũng phải lo tìm tác giả để “bơm tiền” xuất bản, mà tuổi trung bình thì cứ cao lên, văn trẻ cứ hun hút trôi đi. Gần như trong các hoạt động bề nổi, khái niệm “sự nghiệp sáng tác văn học trẻ” không còn được nhắc đến.

Giả như một phần vật chất được đầu tư cho các mô hình Câu lạc bộ trẻ, trại sáng tác trẻ, và lại có những người một thời nhiệt huyết làm văn trẻ như Hồ Anh Tuấn, Dư Thị Hoàn, Lưu Văn Khuê, Phạm Ngà, Hoài Khánh… thêm một sự nhìn nhận chứ đừng thả nổi, thêm một chút khuyến khích chứ đừng tung hứng, thêm một chút bình phẩm chứ đừng vùi dập…Thì chắc rằng, mỗi lần toàn quốc tập hợp hội nghị văn trẻ, Hải Phòng sẽ lại được “tiễn đoàn”, chứ không phải ngậm ngùi đưa một “nàng về dinh” như trường hợp Phạm Thúy Nga lần này nữa.

GIA LỄ

Trong buổi thu thanh ca nhạc

2011-09-01 @ 01:42 in Tác phẩm của Hoài Khánh

altHôm nay, Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng - nơi tôi đang công tác - tròn 55 năm phát triển cùng thành phố và đất nước, kể từ ngày thành lập 1-9-1956. Đây là dịp để mỗi cán bộ, phóng viên, công nhân viên của Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng càng ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng chương trình và tiếp tục tăng thời lượng phát sóng, đưa làn sóng phát thanh và truyền hình vươn cao, vươn xa hơn, đáp ứng tốt nhu cầu phục vụ đắc lực nhiệm vụ thông tin tuyên truyền chính trị, phản ánh hoạt động kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí để xứng đáng với vai trò, vị thế của Hải Phòng là đô thị loại 1, trung tâm cấp quốc gia, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố. Tôi công tác ở Đài cũng được gần một phần tư thế kỉ với biết bao niềm vui trong công việc. Ôn lại nững kỉ niệm đẹp trong quãng đời làm báo của mình vừa qua, tôi chợt nhớ tới một bài thơ viết cách đây 20 năm đã đăng trong cuốn đặc san nhân kỉ niệm 35 năm thành lập Đài hồi đó...

Trong buổi thu thanh ca nhạc

Hai chục em đứng trước mi-crô
Bé thấp đứng rìa, bé cao đứng giữa
Các em hát, tiếng hát căng nhịp thở
Mắt long lanh tròn, chân bắt nhịp đung đưa
 
Đứng bên nhau chẳng hề phân lứa tuổi
Tiếng hát bay cao, lớn bé chung bè
Chẳng bé nào chịu đứng ngoài nghe
Ai cũng muốn được trở thành ca sĩ
Phòng bá âm rộng thêm ra một tí
Để đong đầy tiếng hát xanh non
 
Trước niềm vui, vui rất trẻ con
Tôi sung sướng thấy mình như bọn trẻ
Thỉnh thoảng lại nhẩm theo cùng hát
Làm một thành viên trong buổi thu thanh.

6-1991

HOÀI KHÁNH

Chúng tôi đi dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI

2011-08-25 @ 17:01 in Tự bạch

Chúng tôi đi dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI

altMới hơn, vui hơn, trẻ hơn - đó là kì vọng của Ban tổ chức Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI. Được tiến hành sớm hơn 2 năm so với định kì, Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI  diễn ra trong 3 ngày 27, 28 và 29-8-2001 tại Hà Nội. Đây là hội nghị đầu tiên của thiên niên kỉ mới, có ý nghĩa như một "lời hiệu triệu" và "chuyển giao nhiệm vụ" kịp thời cho lớp nhà văn trẻ sẽ đóng vai trò chủ chốt của nền văn học nước nhà trong thế kỉ XXI. Hội nghị diễn ra sớm hơn bởi năm 2001 là năm đầu tiên của một thế kỉ, một thiên niên kỉ mới - một giai đoạn có nhiều biến đổi, văn chương cũng cần có những định hướng mới, mà bây giờ văn chương đang ở thời kì nở rộ. Thế hệ trẻ tích cực và hăm hở viết. Có khá nhiều cây bút trẻ tạo được sự chú ý trên văn đàn cả nước. Giới phê bình văn học cũng nhờ thế mà được mùa. Một nền văn học mới sắp sửa ra đời đang là sự trông chờ của nhiều người. Văn học Việt Nam thế kỉ XXI đang cần những công trình mới, sức già không thể tiếp tục thì sẽ truyền lửa, vun đắp cho sức trẻ để gánh vác sứ mệnh thiêng liêng của Tổ quốc, của nghệ thuật. Sau khi danh sách đại biểu chính thức được công bố trên báo Văn Nghệ Trẻ và nhận được giấy mời từ Hội Nhà văn Việt Nam gửi về, chúng tôi - những đại biểu của đoàn Hải Phòng - hẹn gặp nhau chiều ngày 26-8 tại Khách sạn La Thành - Hà Nội. Hải Phòng có 5 đại biểu là Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh, Vũ Thúy Hồng, Lê Minh Thắng và Phạm Vân Anh, đều đang là hội viên Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng. Nhà thơ Dư Thị Hoàn - Hội phó Hội Văn học Hải Phòng - đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đoàn Hải Phòng và là khách mời của Hội nghị.

Chiều ngày 26-8, cùng với không khí của cả nước chào mừng Quốc khánh, chúng tôi đến khách sạn La Thành ở gần cuối đường Đội Cấn - Hà Nội. Ở đấy, đã treo một băng-rôn cực lớn đón chào các đại biểu về dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI. Chúng tôi được Ban Tổ chức đón tiếp, trao quà của Hội Nhà văn Việt Nam và Báo An ninh thế giới. Đó là 2 cuốn sách Văn TrẻThơ Trẻ tuyển chọn tác phẩm của các tác giả dự Hội nghị gửi về Ban tổ chức và được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn thực hiện in ấn chỉ trong vòng 2 tháng, một số tờ báo đã trích in một vài tham luận của các nhà văn, nhà thơ và các cây bút trẻ, 1 chiếc đồng hồ treo tường và 1 chiếc áo mưa... Mỗi chúng tôi được bố trí một phòng 4 người. Tôi và Lê Minh Thắng được ở ghép cùng phòng với 2 anh Nguyễn Quốc Bảo (Hà Tây) và Bình Nguyên (Ninh Bình). Đây cũng là một cơ hội để chúng tôi làm quen và hiểu nhau. Nguyễn Quốc Bảo là phóng viên báo Hà Tây có nhiều bài viết phê bình văn học. Cây bút thơ Bình Nguyên đang là cán bộ của Tỉnh ủy Ninh Bình. Đêm ấy, tại hội trường khách sạn diễn ra đêm giao lưu. Ở đây, các đại biểu có dịp gặp lại những người thân quen và làm quen với nhau qua hình thức chuyển micro để mỗi người đứng lên tự giới thiệu về mình. Có thể nói đấy là một đêm đầy ắp kỉ niệm. Các phòng dường như thức rất khuya. Tiếng cười nói, tiếng hát, tiếng cụng ly và cả tiếng đọc thơ nữa. Phòng tôi toàn đàn ông, mà tuổi tác cũng có phần nhỉnh hơn so với các đại biểu trẻ khác, nên ai nấy đều trầm tĩnh hơn, không ồn ào như các bạn trẻ đang hừng hực bầu nhiệt huyết văn chương. Nhưng chẳng có ai đi ngủ sớm được.

altSáng 27-8, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã khai mạc Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI. Hội trường Bảo tàng Hồ Chí Minh đông nghẹt người với 183 đại biểu là những cây bút trẻ tiêu biểu của hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước, và 100 khách mời là lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương và trong đó có hơn 50 nhà văn lão thành. Hội nghị đã nghe nhà thơ Hữu Thỉnh, Bí thư Đảng Đoàn, Tổng Thư kí Hội Nhà văn Việt Nam, đọc báo cáo mang đề dẫn: “Những người viết văn trẻ - lí do của hy vọng” đánh giá tình hình sáng tạo văn học của những người viết văn trẻ trong một thập kỉ gần đây và nêu những định hướng cho giai đoạn sáng tác sắp tới.

Phát biểu tại Hội nghị, với bài "Nhà văn phải gắn bó với nhân dân, đi sâu thực tiễn đất nước, lao động không mệt mỏi vì các giá trị chân, thiện, mỹ”, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương - đã khẳng định giá trị của văn học Việt Nam trong thế kỉ XX, đặc biệt là nền văn học Việt Nam của thời kì đất nước đi lên giàu mạnh, văn minh. Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận rằng Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ VI này là một sinh hoạt nghề nghiệp được nhiều người chờ đợi. Nhà văn trẻ chờ đợi, nhà văn có tuổi chờ đợi và xã hội cũng chờ đợi. Thiên niên kỉ mới đã được 8 tháng, Đại hội Đảng đã được 4 tháng, đây là thời điểm mọi người mong đợi những tiếng nói từ cuộc sống, đặc biệt từ người trẻ, các nhà văn trẻ. Như một ngày đầu năm, năm này lại là năm thứ nhất - nguyên niên - mọi người đều mong điều tốt lành cho đất nước. Hội nghị nhà văn trẻ là cuộc gặp mặt văn học thuộc tiềm năng tương lai hứa hẹn điều lành cho đất nước và văn học. Vì vậy đáng được chờ đợi. Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm cho biết, cách đây không lâu, Đại hội VI của Hội Nhà văn Việt Nam đã đánh giá công việc văn học của 5 năm nhiệm kì cuối thế kỉ và ở chính thời điểm đó, trang văn học Việt Nam thế kỉ XX cũng được khép lại. Chúng ta đã có một nền văn học đáng ghi nhớ về mọi phương diện. Lần đầu tiên, chúng ta đã có một thế kỉ văn chương bằng tiếng mẹ đẻ, bằng chữ quốc ngữ, phát triển hoàn chỉnh về mọi thể loại, mọi bút pháp, mọi khuynh hướng sáng tạo. Cũng lần đầu tiên, cùng với Cách mạng Tháng Tám - với sự xuất hiện một nền chính trị mới - nền chính trị của nhân dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, một nền văn chương gắn bó với nhân dân và sự nghiệp của nhân dân cũng đã ra đời. Một con đường dài hơn nửa thế kỉ, với bao nhiêu nhà văn kể cả thế hệ đầu từng tiên phong trong thơ mới, Tự lực Văn đoàn, văn chương hiện thực phê phán nay lại dấn thân trên con đường mới, buồn vui muôn dặm với người đọc, làm nên cốt cách, tâm hồn, giọng điệu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Văn học chống Pháp, văn học chống Mỹ, văn học Việt Nam thời kì thống nhất đất nước. Và hôm nay là nền văn học Việt Nam của thời kì đất nước đi lên giàu mạnh, văn minh. Văn học mở rộng chân trời khám phá sáng tạo. Chúng ta đã có một nền văn học xứng đáng. Những nhà văn một thời của chúng ta đã sống hết mình với những điều họ viết, họ tin tưởng. Không biết đến phút cuối cùng của đời mình thì Trần Đăng, Nam Cao, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, cho đến Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên đã nghĩ gì, nhưng những gì các ông đã sống, đã viết, đã gắn làm một với nhân dân, buồn vui, hạnh phúc trong mỗi dòng chữ vẫn là những trang đẹp nhất trong nền văn học viết của dân tộc, là niềm tự hào của các thế hệ cầm bút hôm nay, mai sau. Các ông đã để lại trong lòng chúng ta những chữ rất đẹp về một thế hệ văn học mà bên cạnh những quyển sách thuộc về thành quả cá nhân là một đội hình lớn, một cảm hứng lớn thuộc về dân tộc và thời đại. Một thế kỉ đi qua. Chắc chắn chúng ta không còn gặp lại đội hình thân thiết, kì lạ đó trong nền văn học đất nước. Thế kỉ mới đang chuẩn bị những cây bút mới của mình. Những điều tâm niệm được là những cây bút đang và sẽ làm việc cho thế kỉ văn học hôm nay, trong khi bứt phá về phía trước sẽ vẫn giữ cho mình mối liên hệ bền chặt với nền văn chương sản sinh từ nhân dân và cách mạng. Chúng ta có quyền tự hào về sự hình thành không gián đoạn các lực lượng cầm bút mới của nền văn học đất nước. Mỗi năm Hội Nhà văn cũng kết nạp được vài chục hội viên trong số hàng trăm người làm việc thực sự sung sức. Anh chị em trẻ không chỉ có năng khiếu còn có học thức, nhạy cảm và dễ thích ứng, tự tin và bươn chải nhiều hơn, tiếp cận với nhiều phong cách hiện đại. Văn học đang ở trong thời kì tìm kiếm mới, định hình bản sắc và giá trị mới. Văn học có nhiều hứa hẹn, nhưng cũng còn nhiều điều âu lo ở phía trước. Đại hội IX của Đảng hướng nhân dân ta vào một thời kì phấn đấu mới. Trong bối cảnh thế giới hiện đại đã trở nên phong phú, phức tạp khôn lường, đầy thời cơ và bất trắc; các thế lực thù địch chưa để yên cho nhân dân ta xây dựng cuộc sống ổn định, cộng với những khó khăn yếu kém từ bên trong đã làm quá trình đi lên của đất nước còn nhiều gian nan thử thách. Hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, chúng ta phải phấn đấu trong vài chục năm đưa nước ta ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế, giữ gìn an ninh và bảo vệ chủ quyền đất nước. Để đi nhanh và vững chắc, chúng ta phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, nâng cao bản lĩnh và sức sáng tạo của nhân tố con người Việt Nam, khắc phục bằng được sự thoái hóa biến chất trong guồng máyvà trong đời sống xã hội. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trang bị rộng rãi trình độ khoa học công nghệ hiện đại, nâng cao tri thức toàn xã hội là động lực và mục tiêu lớn của quá trình phát triển đất nước. Chúng ta phải nhanh chóng nâng cao mức sống nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa rộng rãi. Đây là thời kì nền văn học nước ta phải hướng tới những giá trị nhân bản trong mỗi con người, những vẻ đẹp lâu bền của xã hội Việt Nam. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX viết: "Văn nghệ sĩ nêu cao trách nhiệm trước nhân dân, trước Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, có tác dụng giáo duc, xây dựng con người. Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn. Phát huy vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận của phê bình văn học nghệ thuật. Tiếp tục đấu tranh chống các khuynh hướng sáng tác trái với đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng". Để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, các cơ quan Đảng, Nhà nước, Hội Nhà văn có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn nhà văn trong lao động nghệ thuật, trước hết là bảo đảm quyền tự do sáng tạo, nuôi dưỡng nguồn khát vọng về giá trị cuộc đời và nghệ thuật; mặt khác cũng đòi hỏi mỗi nhà văn phải gắn bó với nhân dân, đi sâu thực tiễn đất nước, lao động không mệt mỏi vì các giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Không thể có "đầu vào đầu ra" đơn giản như trong đầu tư kinh tế để tìm kiếm lợi ích trực tiếp, hoạt động sáng tạo nghệ thuật là quá trình ngưng tụ của tài năng và trăm điều may mắn; nhưng dẫu sao lòng thành trong văn chương vẫn là cơ may của hy vọng. Tuổi trẻ gắn với cái mới. Nhưng cái mới trong trẻo trong giọng điệu cũng chỉ nhất thời. Cái mới trong tìm kiếm hình thức tân kì cũng rất dễ là sự lừa mị. Cho đến cùng cái mới chính là cuộc sống lớn của nhân dân, mãi mãi mời gọi nhà văn. Chúng ta tin tưởng và hy vọng ở nền văn học từng lớn lên trong sự lo toan thường xuyên của dân tộc và của những người cầm bút về số phận và trách nhiệm của mình. Chúng ta mong muốn rằng nỗi lo toan sẽ vận ngay vào những người cầm bút trẻ, bởi vì anh chị em sẽ là người đầu tiên làm việc cho một thế kỉ văn học mới với tư thế đại diện đầy đủ nhất.

Nhà văn lão thành Nguyễn Đình Thi nói chuyện thân tình với chúng tôi những suy nghĩ đã được nghiền ngẫm, từng trải qua một đời văn, một đời người với biết bao thăng trầm: "Lợi thế của các bạn trẻ hôm nay là viết phóng khoáng hơn xưa. Nhưng cái yếu của các bạn là chỉ mới chạm được đến khoảng giữa chứ chưa chạm được vào cái gốc của cuộc sống, của văn học". Cũng theo nhà văn Nguyễn Đình Thi, thì lực lượng nữ viết nhiều hơn nam, khi nói về tình yêu, gia đình thì "Họ nói hay hơn, thậm chí là hơi hung hăng". Trong văn xuôi những cây bút nữ cũng "Sắc sảo hơn, thậm chí hơi quá chua chát…". Chúng tôi hiểu ông đồng thời khen và chê sự thái quá của lớp trẻ chúng tôi bây giờ.

Tiếp đó, chúng tôi lần lượt nghe những bài tham luận của một số đại biểu. Chúng tôi rất tự hào về tham luận Gỗ quý hay gạo gai gây tiếng vang trong Hội nghị của Vũ Thúy Hồng - đại biểu Hải Phòng. Chị đưa ra hình ảnh cây "gạo gai" ở Hải Phòng quê chị với cây "gỗ quý" để nói lên tình hình văn chương hiện nay. Vậy trong số những đại biểu ngồi đây và cả những người chưa đến dự thì thực sự ai là "gỗ quý", ai là "gạo gai" cần phải đốn đây…

Buổi chiều, chúng tôi được chia làm 4 đoàn xen kẽ nhau để đến thăm và giao lưu với Nhà xuất bản Kim Đồng, các báo Tiền Phong, Văn Nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội. Chúng tôi được đón tiếp trong không khí cởi mở, thân tình - điều đó đã thu ngắn khoảng cách giữa các cây bút trẻ với các cơ quan báo chí, xuất bản.

Buổi tối, chúng tôi cùng nhiều nhà văn già có, trẻ có đến thăm và giao lưu với những người làm báo Nhân Dân. Một đêm tràn ngập thơ và nhạc.

Sáng 28-8, chúng tôi dậy sớm để kịp đi một chặng đường dài 76 km đến thăm Nhà máy thủy điện Hoà Bình. Đây là lần thứ hai tôi được tham quan kĩ lưỡng hơn về công trình thủy điện lớn nhất nước ta. Chúng tôi tận mắt chứng kiến sự bề thế, đồ sộ và hùng vĩ của công trình. Cũng tại đây, chúng tôi lên thăm và thắp hương nơi tượng đài Bác ở chót vót trên cao. Đứng dưới nắng. Gió sông Đà thổi ngược lên. Tất cả chờ hàng tiếng đồng hồ đợi nhà thơ Hữu Thỉnh đi ô tô từ Hà Nội lên, để ông Tổng thư kí Hội Nhà văn Việt Nam trực tiếp dâng hương, còn chúng tôi chỉ đứng vái lưng nhau... Có lẽ sau đợt ấy, ai cũng sáng tác hay hơn thì phải…

Buổi trưa, tuy đã rất muộn, nhưng đồng chí Hoàng Văn Hon - Bí thư Tỉnh uỷ cùng một số đồng chí lãnh đạo của tỉnh Hoà Bình cũng vẫn chờ đón chúng tôi ở Trung tâm văn hóa của tỉnh. Đồng chí Hoàng Văn Hon phát biểu, giới thiệu với đoàn đại biểu về tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh. Chúng tôi được thưởng thức những tiết mục văn nghệ đặc trưng của tỉnh Hòa Bình.

Buổi chiều, cũng tại Trung tâm Văn hóa tỉnh Hòa Bình, đã diễn ra 2 cuộc tọa đàm: Thơ trẻ và tâm hồn Việt Nam, Văn xuôi trẻ với hiện thực đổi mới, với những ý kiến đưa ra rất táo bạo, rất đáng suy ngẫm.

Cuối buổi chiều, chúng tôi đã thấm mệt sau một ngày đi thực tế trên tỉnh Hòa Bình với một lịch trình kín đặc. Nhưng khi đi ô-tô về đến Nhà hàng Tre Việt- Vườn Điện ảnh (Trung tâm chiếu phim quốc gia), chúng tôi đã hòa vào không khí hết sức nhiệt tình, thân mật của bữa tiệc đứng và sau đó là đêm thơ nhạc do Ban biên tập báo An ninh thế giới và Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức.

Sáng ngày 29-8, là buổi làm việc cuối cùng của Hội nghị. Tuy đang bế mạc nhưng cả hội trường đã xốn xang cảnh chia tay, người thì chuyển sổ cho nhau để ghi vài dòng lưu niệm, lưu lại địa chỉ và chữ kí, người thì chụp ảnh, người thì nói chuyện riêng… Rồi bữa trưa đến với một tiệc đứng nữa để chia tay nhau.

Năm tháng đã trôi qua tròn 10 năm, nhưng những kỉ niệm đẹp của những ngày tham dự trong chúng tôi vẫn không phai mờ, vẫn đang cổ vũ chúng tôi tiếp tục rèn luyện phấn đấu trong từng trang viết hôm nay.

HOÀI KHÁNH

Tập thơ Miền đất Dương Kinh

2011-08-17 @ 17:17 in Tác phẩm và dư luận

altHOÀI KHÁNH: Hướng tới kỉ niệm 470 năm Ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung (1541 - 2011), sáng nay 17-8-2011, nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng - đã cùng lãnh đạo Ủy ban Nhân dân huyện Kiến Thụy bàn việc phối hợp tổ chức chương trình thơ Miền đất Dương Kinh. Chương trình sẽ diễn ra vào chiều ngày 16-9-2011 tại Khu tưởng niệm Vương triều Mạc ở xã Ngũ Đoan (huyện Kiến Thụy - Hải Phòng), trong khuôn khổ những hoạt động Lễ hội kỉ niệm 470 năm Ngày mất của Mạc Thái Tổ. Chương trình sẽ công diễn hơn 20 bài thơ của các tác giả là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng và hội viên Câu lạc bộ thơ Dương Kinh của huyện Kiến Thụy. Các bài thơ tập trung chủ đề ca ngợi công trạng của các vị vua nhà Mạc, ca ngợi truyền thống lịch sử và cách mạng của vùng quê Kiến Thụy giàu đẹp, nơi phát tích Vương triều Mạc đầu thế kỉ XVI, nơi nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi đầu tiên ở miền Duyên hải Bắc bộ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Cũng trong dịp này, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn kịp thời cho ra mắt bạn đọc tập thơ Miền đất Dương Kinh. Đây là tập thơ cùng tên thứ 8 của Câu lạc bộ thơ Dương Kinh (huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng). Tập thơ tập hợp 125 bài thơ của 98 tác giả, trong đó có sự góp mặt của nhiều nhà thơ như Nguyễn Trọng Tạo, Kim Dũng, Vũ Thành Chung, Tô Ngọc Thạch, Hoài Khánh, Trịnh Anh Đạt, Lưu Đình Hùng, Nguyễn Phước Giang, Đoàn Thị Tảo, Nguyễn Mạnh Quỳnh, Bùi Thị Thu Hằng,... Nhà thơ Bằng Việt - Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam - viết lời giới thiệu tập thơ này. Blog Hoài Khánh xin chuyển bài viết đó đến bạn đọc và mong đón nhận sự chia vui của những người yêu thơ xa gần.

Tập thơ Miền đất Dương Kinh

Tôi chưa bao giờ được đến khu di tích Dương Kinh, kinh đô của nhà Mạc lẫy lừng 65 năm trong lịch sử, mà tới cuối năm 2010 mới được khôi phục lại bước đầu. Nhưng hôm nay, trước ngày kỷ niệm 470 năm ngày mất của Thái tổ Mạc Đăng Dung (22 tháng Tám Âm lịch năm Tân Sửu, 1541), tôi thật sự vui mừng được cầm trong tay tập thơ tươi tắn và đầy cảm xúc của nhiều tác giả, mà trong đó có nhiều người là hậu duệ 9, 10 đời của dòng họ Mạc, đã thất tán đi khắp nơi sau khi nhà Mạc bị Trịnh Tùng đánh đổ và vị vua cuối cùng là Mạc Mậu Hợp bị bắt (năm 1592) tại một ngôi chùa cổ ở xã Phượng Nhỡn (Bắc Giang), bị đóng cũi đưa về chém tại xã Bồ Đề (Gia Lâm, Hà Nội). Kể từ đó, để khỏi bị truy lùng ráo riết, con cháu họ Mạc buộc phải đổi họ (thành các họ như : Hoàng, Phạm, Phan, Thái, Vũ, Ma, Nguyễn…) và ước hẹn với nhau, là dù có cải ra họ gì đi nữa, thì vẫn phải giữ lại một nét “ Thảo” ghi lại dấu ấn họ Mạc (chữ Hán), để về sau còn tìm lại họ gốc, cho dù qua bao thử thách thăng trầm. Chi tiết cảm động này cho ta thấy ý chí gắn bó và đoàn kết của dòng họ tộc này sâu xa và thiêng liêng đến nhường nào !. Ngay sau khi Mạc Mậu Hợp mất, con trưởng của ông là Mạc Toàn và chú ruột của Mạc Toàn là Mạc Kính Chỉ cũng bị bắt và cùng bị hành hình năm 1593. Về sau, con cháu nhà Mạc còn chạy lên Cao Bằng và giữ lại mảnh đất đó thêm được khoảng vài chục năm nữa, rồi bị các chúa Trịnh là Trịnh Tráng và Trịnh Tạc thôn tính nốt. Cả vương triều Mạc tuy chỉ tồn tại không lâu, và lại bị các sử gia thời Lê trung hưng sau này cố ý hạ thấp vị thế chính trị và lịch sử, nhưng những gì mà triều đại đó để lại trong lòng dân rất đáng cho chúng ta thực sự kính phục và nể trọng.

Nếu ta hiểu thêm rằng dù Mạc Đăng Dung tuy chỉ là một vị quan võ, xuất thân từ nghề đánh cá nghèo khổ ở Cổ Trai huyện Nghi Dương (nay là Kiến Thụy, Hải Phòng), nhưng lại là dòng dõi 7 đời của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng trong lịch sử thời Trần, còn có thể là hậu duệ xa của Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, đỗ đầu khoa thi chọn các tài năng văn học giỏi từ thời Lý, thì chúng ta không ngạc nhiên, là sau khi lên ngôi, nhà Mạc đã rất chú trọng đến việc lựa chọn được người hiền tài ra giúp nước qua khoa cử, trong đó có những trí thức rất lớn như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), vừa học rộng tài cao, vừa giỏi về Dịch lý, Thái ất.

Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống qua các thời vua Lê Uy Mục (được mệnh danh là Quỷ Vương), là một ông vua hung ác, phản trắc, luôn say đắm tửu sắc, không ngó ngàng gì đến chính sự ; rồi lại qua cả thời vua Lê Tương Dực, cũng lại là một ông vua chuyên bày trò ăn chơi xa xỉ, tham lam vô độ, đến nỗi sứ Tàu sang, nhìn thấy Lê Tương Dực, còn về tấu lại với vua nhà Minh rằng : vua nước Nam thời này có tướng Lợn, chắc chắn không còn giữ nước được bao lâu !. Nếu không có triều nhà Mạc biết quy tụ lại quân dân ta, có lẽ nhà Minh đã tính xong chuyện thôn tính nước ta một lần nữa rồi !.

Nguyễn Bỉnh Khiêm kiên nhẫn ở ẩn chờ thời, và không phải ngẫu nhiên mà mãi tới năm 45 tuổi, vào thời Thái tông Mạc Đăng Doanh, thấy thời thế đã ổn định, liệu đã có thể đem tài ra giúp nước, mới chịu đi thi, và qua 5 kỳ thi đều đứng đầu, cuối cùng đỗ Trạng nguyên (Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhất danh) và trở thành một trong những trí thức lỗi lạc nhất của cả thời đại và được nhà Mạc trọng dụng, từ Đông các đại học sĩ đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước Trình Tuyền hầu rồi tước Trình Quốc công.

Về chuyện quan tâm đến việc mở các khoa thi, kén chọn nhân tài, thì triều Nhà Mạc có thể coi như một triều đại mẫu mực, cứ đúng 3 năm một lần là mở các khoa thi Hương và thi Hội. Năm Kỷ Sửu (1529), khi Thái tổ Mạc Đăng Dung mới lên ngôi được 1 năm rưỡi, nhà Mạc đã cho mở khoa thi đầu tiên, lấy đỗ 27 người, trong đó có Trạng nguyên Đỗ Tổng, Bảng nhãn Nguyễn Hãng và Thám hoa Nguyễn Văn Huy. Tiếp đó, đến năm 1532, khoa Nhâm Thìn, thi Hội lấy đỗ 27 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Thiến, đỗ Trạng nguyên. Năm 1535, khoa thi Ất Mùi, lấy đỗ 32 Tiến sĩ, trong đó Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) đỗ Trạng nguyên. Năm 1538, khoa Mậu Tuất lấy đỗ 36 Tiến sĩ, trong đó có Giáp Hải đỗ Trạng nguyên. Năm 1541, khoa Tân Sửu, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, có Nguyễn Kỳ đỗ Trạng nguyên. Năm 1544, khoa Giáp Thìn, lấy đỗ 17 Tiến sĩ, trong đó có 3 vị đỗ Hoàng giáp (đệ nhị giáp Tiến sĩ , không có Trạng nguyên) là Vũ Kính, Lê Thọ Khảo và Trần Diễm. Năm 1547, khoa Đinh Mùi, lấy đỗ 30 Tiến sĩ, trong đó có Dương Phúc Tư đỗ Trạng nguyên. Năm 1550, khoa Canh Tuất lấy đỗ 25 Tiến sĩ, trong đó có Trần Văn Bảo đỗ Trạng nguyên. Năm 1553, khoa Quý Sửu, lấy đỗ 20 Tiến sĩ, trong đó có Nguyễn Lương Thái đỗ Trạng nguyên. Năm 1556, khoa Bính Thìn, lấy đỗ 14 Tiến sĩ, trong đó có Phạm Trấn đỗ Trạng nguyên. Năm 1559, khoa Kỷ Mùi, lấy đỗ 19 Tiến sĩ, mà Thám hoa là Đặng Thời Thố (không có Trạng nguyên và Bảng nhãn).

Từ các khoa thi vào giai đoạn sau, thời Mạc Mậu Hợp, như các năm 1562 (Nhâm Tuất), 1565 (Ất Sửu), 1568 (Mậu Thìn), 1571 (Tân Mùi), 1574 (Giáp Tuất), 1577(Đinh Sửu), 1580(Canh Thìn), 1583 (Quý Mùi), 1586 (Bính Tuất), 1589 (Kỷ Sửu), 1592 (Nhâm Thìn), lúc nhà Mạc phải đương đầu ráo riết với nhà Lê trung hưng, chiến tranh xảy ra liên miên, chất lượng học hành thi cử không thể còn giữ được như các thời trước, thì các khoa thi giai đoạn sau này, dễ hiểu là rất hiếm người đỗ cao, duy nhất chỉ có một vị còn đỗ Trạng nguyên là Vũ Giới (khoa thi năm Đinh Sửu, 1577). Tuy nhiên, nếu tính trên tổng số, thì con số các vị Tiến sĩ đỗ đạt trong thời nhà Mạc còn ghi lại được là khá lớn, có đến 485 vị qua 5 đời vua.

Ta cũng phải ghi nhận, là bên cạnh các khoa thi được mở đều đặn, thì trong thời nhà Mạc còn có một loạt các thành tựu văn hóa khác nữa, như vào năm 1536 (Bính Thân), Triều đình cho trùng tu lại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, hoặc năm 1554 (Giáp Dần), cho xây dựng lại chùa Tây Phương bị đổ nát, năm 1556 (Bính Thìn), cho dựng tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), năm 1567 (Đinh Mão), cho lập Chân Thánh Quán (nhà thờ Đạo giáo) ngay tại Dương Kinh (Kiến An, Hải Phòng), cùng với việc chấn hưng Nho giáo và Phật giáo.

Thời Mạc Đăng Doanh (con trai trưởng của Mạc Đăng Dung), lấy niên hiệu là Thái tông, còn có thành tựu chú tâm nêu cao kỷ cương phép nước, nghiêm trị bọn trộm cướp, du thủ du thực, cấm mang vũ khí như giáo mác, dao nhọn ra đường ; khiến cho trong mấy năm liền đất nước trở lại thanh bình, ổn định, người buôn bán và sản xuất đi lại làm ăn không cần mang vũ khí bảo vệ, trâu bò thả rông không ai bắt trộm, ban đêm nhà nhà không cần đóng cổng, của rơi cũng không ai nhặt, mùa màng liên tiếp được mùa, nhân dân làm ăn vui vẻ, yên bình. Đó là lý do vì sao nhà Mạc vừa chiếm ngôi nhà Lê mà vẫn giữ được xã hội ổn định, mọi việc đều được đưa vào kỷ cương, nhân dân an cư lạc nghiệp, chế độ khoa cử và quan chế rất có nề nếp, thứ tự. Tuy nhiên, trong chính sử, kể cả các bộ sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, triều Nhà Mạc vẫn bị chép vào phụ kỷ, không được xếp vào bản kỷ như các thời khác !. Đó quả là một thiệt thòi lớn lao!. (Nếu chúng ta xem xét lại, thời Nhà Hồ cướp ngôi Nhà Trần, chỉ tồn tại vẻn vẹn có 7 năm, qua hai đời vua là Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương, rồi sau đó lại để mất nước vào tay nhà Minh xâm lược và đô hộ, thì công lao của nhà Mạc đối với lịch sử dân tộc, tính ra vẫn có ý nghĩa hơn rất nhiều !).

*

Trong tập thơ chúng ta có được hôm nay, rất nhiều tác giả hiện đại đã nhìn ra được công lao đích thực của triều nhà Mạc và viết nên những dòng thơ cảm khái chân thành

Giữ nền độc lập, dân hưng thịnh,
Phát triển khoa thi, chọn hiền tài,
Biết bao tiến sĩ từ khoa bảng
Lưu danh bia ký đến muôn đời !

 (Mạc triều một thuở - Ngô Đăng Cảnh)

Hoặc nói về phép nước có kỷ cương để dân được yên lạc, thái bình trong thời Mạc Đăng Doanh, tác giả Nguyễn Minh Dương ở bài Truyền thuyết Dương Kinh cũng tỏ ra tâm đắc với từng chi tiết cụ thể, sống động :

Dân no đủ, của đánh rơi không mất,
Ngọn gió đêm vào cửa giữa mát lành !

“Ngọn gió đêm” vào thẳng “cửa giữa” có nghĩa là vào thẳng cửa lớn mở toang khi đi ngủ, do dân không còn sợ trộm cướp hoặc kẻ gian, hình ảnh ấy chỉ có thể có được trong một thời đại rất trật tự, no đủ, thái bình, giống như thời vua Nghiêu vua Thuấn ở Trung Hoa được ca ngợi từ thái cổ vậy !.

Nhiều tác giả đã nhắc đến các địa danh nổi tiếng trong lịch sử và gắn liền với mảnh đất tổ tiên của Vương triều Mạc: Cổ Trai, Dương Kinh, núi Trà, núi Đối, sông Đa Độ, Điện Hưng Quốc, Điện Tường Quang… Lại cũng nhiều tác giả nêu lên tên các địa danh nổi tiếng khác trong thời hiện đại, như căn cứ kháng Nhật ở Kim Sơn, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Đầm Bầu, nơi có các nữ du kích bắn rơi Thần Sấm Mỹ ở Thụy Hương, nơi khởi đầu của “Bến tàu không số” của Hải Phòng - địa điểm nổi danh thời chống Mỹ, rồi đến nơi được coi là cái “nôi khoán sản” mở đầu cho thời Đổi Mới về sản xuất nông nghiệp là Đoàn Xá… Tất cả đã vẽ nên chân dung bao quát về một vùng đất có rất nhiều sự kiện lịch sử và thành tựu lớn lao, tiêu biểu cho những con người anh dũng, kiên cường, con em của một vùng biển đầy sóng gió, thử thách, lại chứa đầy truyền thống mãnh liệt và hào hùng !.

Đã có tác giả khái quát đầy hào khí, khi vẽ nên cốt cách đa dạng cũng như khí phách cao cả của những người dân một vùng biển, qua nhiều đời :

Thuở hồng hoang,
 có người đàn bà búi tóc ngược,
Mặc nhung y, cầm đao,
Có ông Trạng cáo quan về ở ẩn
Còn băn khoăn trước thế sự, cuộc cờ…
Có người thợ cày đã bạc màu áo lính,
Có kẻ vạn chài, kéo đổ một triều vua !...

(Trai phố biển - Nguyễn Phước Giang)

Bài thơ Kiến Thụy của Đỗ Danh Lập còn kể cụ thể cả những người con vinh quang của vùng đất địa linh nhân kiệt này, bằng cách nhắc lại tên các vị tướng kiêu dũng thời xưa từng được nhân dân ghi nhớ : Đó là Trương Nữu, đại tướng chống quân xâm lược nhà Đường, đó là Vũ Hải, đại tướng trong thời nhà Trần chống quân Nguyên – Mông. Những tên tuổi đó, mãi mãi còn được ghi lại trong ký ức và tâm tưởng của nhân dân, cùng với tên tuổi các anh hùng, dũng sĩ thời nay, ví như các chị trong trung đội pháo phòng thủ bờ biển nữ dân quân Đoàn Xá tham gia bắn cháy tầu chiến Mỹ thời hiện đại, cũng được tác giả Phạm Văn Vững nhắc đến, trong bài thơ Quê em đầy cảm xúc.

Có tác giả lại thích thú ghi lại những chi tiết lịch sử pha truyền thuyết thú vị. Đó là thanh long đao nổi tiếng của dũng sĩ Mạc Đăng Dung, vốn là dân vạn chài và đánh cá có sức khỏe phi thường. Thanh long đao nổi tiếng của ông, may mắn thay, đã được tìm thấy và đưa về trưng bày tại quê hương, dù có lúc tưởng như đã thất lạc và bị chôn giấu bao nhiêu năm trong lòng đất, đến nỗi lưỡi đao bị hoen rỉ hết. Tác giả Quang Khoảng đã có những phút giây hào hứng và cảm kích khi được viết về khoảnh khắc thanh long đao của Mạc Thái tổ được chuyển về quê hương trong bài Rước long đao về Làng Cổ. Nhưng thú vị hơn nữa là tác giả Đặng Thị Lệ Quyên trong bài Cảm tác Dương Kinh còn so sánh cụ thể hơn giữa thanh long đao của Thái tổ nhà Mạc với thanh long đao nổi tiếng của Ngô Tam Quế (Trung Quốc). Tôi may mắn trong một chuyến đi du lịch tới Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, đã được tới Viện bảo tàng Vân Nam và cùng mọi du khách nước ngoài trầm trồ khi ngắm thanh long đao thật “khủng” của Ngô Tam Quế, người đã từng trị vì ở đây !. Không ai trong chúng tôi hình dung nổi, người xưa phải cao lớn và có sức khỏe tới ngần nào, thì mới nhấc nổi thanh long đao ấy lên, đừng nói tới việc múa võ với thanh long đao ấy !. Nhưng chỉ nội một việc là chị Đặng Thị Lệ Quyên có được cứ liệu là thanh long đao của Ngô Tam Quế trên đây hãy còn chưa nặng bằng thanh long đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung, người quê vùng dân chài Kiến Thụy, thì đã đủ cho tôi tự hào không kể xiết, là tổ tiên chúng ta có sức lực kiêu dũng đến như thế nào ! Chẳng thế mà chúng ta đã từng làm nên các thắng lợi siêu việt : Bạch Đằng, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa…để lại hùng khí nức lòng cho muôn đời con cháu !.

Kiêu dũng đến như vậy, nhưng các vua và đại tướng nhà Mạc thực sự có lòng nhân và luôn luôn coi lợi ích dân tộc và đất nước cao hơn lợi ích của họ tộc mình. Trong thời Mạc, triều đình luôn thu dụng rất khảng khái các hàng tướng trở về từ phe đối địch và rộng lượng sử dụng họ có hiệu quả.

Đặc biệt, lời căn dặn của Mạc Ngọc Liễn trước phút lâm chung, sau khi nhà Mạc đã bị thất bại, càng thật sự khiến chúng ta cảm phục. Cả hai bộ sử lớn là Đại Việt sử ký toàn thưKhâm định Việt sử thông giám cương mục, dù không ưa gì nhà Mạc, nhưng vẫn phải ghi lại trân trọng cả nguyên văn lời di chúc cao thượng này . Mạc Ngọc Liễn nói : “ Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng… Dân ta là dân vô tội, mà lại để phải mắc vào nạn binh đao, sao lại nỡ thế !. Nếu thấy quân họ đến, thì ta nên tránh, chớ có đánh nhau, chỉ cẩn thận mà giữ là hơn. Lại chớ nên đi mời người Minh vào nước ta, để dân ta lại phải lầm than đau khổ hơn nữa, đó là tội lớn không gì nặng bằng !”.

Lời của Mạc Ngọc Liễn đã được các hậu duệ nhà Mạc tuân thủ tuyệt đối, dù sau này, bị họ Trịnh dồn ép, họ phải bỏ cả vùng biên trấn Cao Bằng chạy sang ở ẩn tại Trung Quốc, nhưng không hề bao giờ có ý định cầu cứu người Minh về đánh nước ta, thì chúng ta mới càng thấy rõ hơn tư cách của dòng họ Mạc.

Tập thơ trên tay chúng ta hôm nay, tuy còn mỏng và nhẹ, chưa thể nói được đầy đủ về nhiều mặt rất đáng nói của Vương triều Mạc cũng như cả vùng đất phát tích của nhà Mạc, nhưng đã như một cánh én nhỏ báo hiệu mùa Xuân, cho chúng ta những cảm nhận ban đầu, thật trong trẻo, chân thành, cao đẹp về một vùng đất kỳ vĩ rất đáng tự hào của Tổ quốc, với nhiều bậc trượng phu, hào kiệt, từ các bậc trí giả ưu thời mẫn thế đến người dân chài có chí lớn, xứng đáng được trân trọng từ xưa đến nay, với những địa danh đã đi vào truyền thuyết và ở lại mãi trong ký ức dân gian bền chặt.

Xin trân trọng giới thiệu tập thơ đáng quý này với bạn đọc, với lòng mong muốn rằng cánh én nhỏ của Thơ trên tay chúng ta hôm nay sẽ tiếp tục có tác dụng và có sức mạnh lan tỏa, lôi cuốn thêm nhiều cánh én khác nữa nhập đàn, để tạo nên được một không khí Xuân thật sự và cả một không khí Thơ thật sự, trên mảnh đất Dương Kinh thiêng liêng, đầy hào khí này của vùng biển sôi động Hải Phòng, luôn biết gìn giữ các giá trị truyền thống, đồng thời biết mạnh dạn phát huy nó trong quá trình Đổi Mới và hội nhập.

BẰNG VIỆT

Họp mặt kỉ niệm 12 năm Ngày ra mắt Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng

2011-08-10 @ 00:16 in Thông tin tổng hợp

Họp mặt kỉ niệm 12 năm Ngày ra mắt Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng

altSáng ngày thứ bảy 6-8-2011, tại Nhà hàng Đại Thống (số 19, phố Lê Đại Hành - Hải Phòng), những hội viên cũ của Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng đã họp mặt kỉ niệm 12 năm Ngày ra mắt Câu lạc bộ. Mọi người cùng nhau ôn lại những kỉ niệm đẹp về quãng thời gian hơn 4 năm hoạt động của Câu lạc bộ và những bước trưởng thành của các thành viên trong văn nghiệp và cuộc sống.

Cách đây 12 năm, tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng, chiều ngày thứ năm 29-7-1999, Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng với 29 thành viên ban đầu đã làm lễ ra mắt. Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng ngày đó ra đời nhằm tập hợp, bồi dưỡng đội ngũ sáng tác trẻ thành phố, tạo sân chơi, môi trường sáng tác cho các cây viết trẻ, sẵn sàng đón nhận tất cả các bạn trẻ có niềm đam mê văn học, có khả năng sáng tác. Ai được kết nạp là cây bút trong độ tuổi từ 16 đến 40 đã từng có tác phẩm được đăng trên các báo trung ương hay địa phương hoặc được ít nhất 2 thành viên của Câu lạc bộ giới thiệu. Lãnh đạo Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng rất tạo điều kiện cho Câu lạc bộ sinh hoạt. Các nhà thơ Hồ Anh Tuấn, Dư Thị Hoàn, các nhà văn Đình Kính, Lưu Văn Khuê thực sự là những anh chị phụ trách giàu tâm huyết. Mỗi tháng Câu lạc bộ sinh hoạt một kì, từ 2 giờ đến gần 5 giờ chiều ngày thứ năm đầu tháng; thường có khoảng trên dưới hai chục, hôm đông lên tới hơn bốn chục người; có bạn đạp xe gần 20 cây số đến sinh hoạt. Nội dung chủ yếu là thông tin văn học, đọc thơ cho nhau nghe, có hôm đọc cả truyện ngắn nữa. Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng cũng mời được một số nhà văn, nhà thơ như Thanh Tùng, Trương Vĩnh Tuấn, Đỗ Bạch Mai, Bảo Ninh, Hải Như, Mai Vui, Trịnh Hoài Giang... tới nói chuyện văn chương. Nhiều cây bút trẻ ở một số tỉnh, thành phố bạn cũng tới giao lưu. Câu lạc bộ còn tổ chức được một số cuộc giao lưu trên truyền hình thành phố, nhiều chuyến đi du khảo, thực tế sáng tác ở các huyện ngoại thành, có lần sang cả tỉnh Quảng Ninh. Trong điều kiện tự lo kinh phí, làm được những việc ấy thật không đơn giản với một Câu lạc bộ toàn người trẻ tuổi.alt

Mọi thành viên trong Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng đều quan tâm giúp đỡ nhau trong sáng tác cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Những tác giả mới khi tham gia Câu lạc bộ thì họ đã có sáng tác rồi, nhưng khi đến Câu lạc bộ thì hăng hái viết hơn, có điều kiện học hỏi ở nhau nhiều hơn. Câu lạc bộ chỉ là nơi ươm mầm cho những mơ ước văn chương, còn những cây bút trẻ có trở thành tác giả thực thụ trên văn đàn hay không thì vẫn là do họ tự rèn luyện trong nghiệp bút. Ngoài 5 hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng có mặt ngay từ đầu với vai trò nòng cốt, thì Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng có khá nhiều gương mặt trẻ ngày đó lần lượt được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, như: Tuấn Anh, Nguyễn Quốc Hùng, Lê Minh Thắng, Phạm Vân Anh, Bùi Quý Thực, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Thị Thùy Linh,… và có một số sau này còn trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, như: Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh, Phạm Vân Anh. Nhưng có những anh chị em làm thơ, viết văn trẻ Hải Phòng ngày ấy do còn vướng bận học althành, công tác hoặc làm ăn xa nhà nên chưa có điều kiện gắn bó nhiều với văn chương. Tuy chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, nhưng một số cây bút trẻ ngày đó vẫn có được những trang viết đáng mừng, như: Cấn Vân Khánh, Nguyễn Hoài Hương, Sơn Hạ, Đinh Thúy Hà, Tạ Đỗ Hiền, Trần Hồng Ánh, Lương Kim Phương, Hồ Thị Kim Minh Ngọc, Đặng Hồng Đăng, Nguyễn Nam, Ngô Ngọc Hà, Nguyễn Trọng Tuấn, Đỗ Thu Hà, Phạm Quang Hiển, Mai Thu Hương, Nguyễn Hồng Thịnh,… Câu lạc bộ luôn động viên, khuyến khích các thành viên nâng cao chất lượng sáng tác, góp ý sửa chữa tác phẩm cho nhau, tập hợp gửi đăng trên một số báo chí Trung ương và địa phương. Câu lạc bộ cũng giới thiệu cho các thành viên đến dự các cuộc hội thảo văn học, một số cây bút trẻ còn được tham gia trại sáng tác Tam Đảo cùng các nhà văn, nhà thơ Hải Phòng. Cuối tháng 8-2001, Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng có 5 đại biểu là Hoài Khánh, Vũ Thị Huyền, Vũ Thúy Hồng, Lê Minh Thắng, Phạm Vân Anh tham dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VI do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nôi.alt

Các hoạt động của Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng những năm đó là phù hợp với giới trẻ mê văn chương ở Hải Phòng. Hiệu quả của Câu lạc bộ cũng quá rõ. Câu lạc bộ thu hút được những bạn viết trẻ và nếu ai chung thuỷ với nghề văn thì họ đã thực sự trưởng thành. Tuy nhiên, Câu lạc bộ không tránh được lối sinh hoạt mang tính hình thức, cố gắng cho đông người đến, cố bày ra được nhiều trò, nên càng cố càng đuối sức, thiếu thực lực, sa vào sự nhàm chán, thậm chí vô bổ. Từ tháng 9 năm 2003, altCâu lạc bộ không sinh hoạt được như trước. Các cây bút trụ cột dần dần được kết nạp hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, minh chứng cho sự trưởng thành của một lớp tác giả. Người thì bộc lộ bản sắc, người đã manh nha hình thành phong cách và ngày càng độc lập hơn trong lao động nghệ thuật. Nội dung sinh hoạt kiểu Câu lạc bộ không đáp ứng được những yêu cầu trong sáng tạo.

Trong gần chục năm qua, những hội viên cũ của Câu lạc bộ sáng tác văn học trẻ Hải Phòng vẫn gắn bó, giúp đỡ nhau trong sáng tác và cuộc sống. Có không ít người là tác giả của 2 - 3 đầu sách văn học. Các nhà thơ Vũ Thúy Hồng, Vũ Thị Huyền, Hoài Khánh, Lưu Quang Phổ, Tuấn Anh, Phạm Vân Anh, Bùi Quý Thực, các nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, Lê Minh Thắng, Nguyễn Hoàng Lược, Phạm Thị Thùy Linh,… đang là những hội viên tích cực của Hội Nhà văn Hải Phòng.

HOÀI KHÁNH

Một cuộc Hội thảo gợi mở và báo hiệu những tín hiệu vui cho thơ và cho văn học

2011-08-03 @ 05:06 in Tác phẩm và dư luận

altHOÀI KHÁNH: Ngày 15-5-2011, Chi hội Nhà văn Vệt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng phối hợp với Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công cuộc Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn. Nhà văn Đình Kính đã tuyển chọn 45 tham luận của gần 40 tác giả là nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học, học giả ở trong nước và nước ngoài gửi tới Hội thảo để in thành một cuốn Kỉ yếu dày 596 trang,  mang tên Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn - khác biệt và thành công (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011). Cuốn sách này vừa ra mắt bạn đọc. Blog Hoài Khánh xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài phát biểu của nhà thơ Bằng Việt - Chủ tịch Hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam - tại Hội thảo và được in trong cuốn kỉ yếu này. Đây là một bài nói có giá trị thiết thực dành cho những người quan tâm tới thơ Việt Nam hiện nay cùng những ai đang yêu thích và sáng tác thơ.

Một cuộc Hội thảo gợi mở và báo hiệu những tín hiệu vui cho thơ và cho văn học

Khoảng 7, 8 năm trước, trong một cuộc họp bàn tròn về văn học ở Hà Nội, nhiều anh chị em lo lắng rằng văn hóa đọc đang xuống cấp, thơ thì đang mất mùa và bạn đọc ngày nay đang quay lưng lại với thơ. Tôi có nói rằng, chúng ta đừng nên sốt ruột, thế kỷ mới vừa mới bắt đầu, những năm chuyển đổi của một thế kỷ, từ cũ sang mới, cũng là lúc làm đảo lộn nhiều giá trị, và mọi việc sẽ được sắp xếp lại, định hình lại sau khoảng mươi năm nữa, tức là phải sau những năm từ 2010 trở đi. Sự kiện sụp đổ và thay đổi lớn nhất mà chúng ta chưa hoàn hồn là sự kiện Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, bức tường Berlin sụp đổ, thế giới đang bàng hoàng bước sang một thời kỳ mới, không còn là một thế giới có hai đối cực nữa, mà là một thế giới đa cực. Và thế giới sẽ thích nghi với việc đó, sẽ có những chuyển đổi to lớn, tất nhiên, không thể chỉ trong một vài tháng hay một vài năm, mà phải tính bằng những thập kỷ. Và tôi cũng có một niềm tin rằng, ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong khoảng từ 10 đến 20 năm mở đầu các thế kỷ, thường diễn ra những sự thay đổi âm thầm của xã hội và của văn hóa, văn học, nghệ thuật… Thế rồi, đùng một cái, những thay đổi đó hiện diện, chói chang đến mức làm mọi người bất ngờ! Nhưng nghĩ kỹ lại, thì nó đều có những nguyên nhân sâu xa từ trước, có những bước chuẩn bị tiềm ẩn, đi theo đúng các quy luật mà chúng ta không để ý. Chỉ nói ngay đầu thế kỷ XX ở nước ta, sau sự chấm dứt các kỳ thi Hán học (năm 1919), đến sự xuất hiện và nở rộ của nền văn học viết bằng chữ Quốc ngữ, rồi sự xuất hiện của Tản Đà, Phan Khôi, sự tranh luận về Thơ Mới và chia tay với thơ cổ điển, rồi đến Thế Lữ và Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu và Huy Cận, Bích Khê và Hàn Mạc Tử, cả nhóm Tự Lực văn đoàn… Tất cả cứ như chờ sẵn, ồ ạt “ra quân” đồng loạt và làm thay đổi toàn bộ nền văn học và văn chương đương thời. Dẫn ra điều đó để chúng ta tin hơn vào những thay đổi, có lẽ cũng không ra ngoài quy luật trên đây, đối với thiên niên kỷ mới và thế kỷ XXI.

Và có phải chăng, không phải tôi chỉ là ông “thầy bói cầu may” gặp thời, mà sự thực của tiến trình văn học đang diễn ra hôm nay, như cuộc Hội thảo rất lý thú về Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn, được cả giới văn học Hà Nội, Hải Phòng và cả các tỉnh bạn quan tâm đón nhận nồng nhiệt tại đây, chính là một dẫn chứng, một minh họa thuyết phục cho những bước chuyển đổi có tính quy luật đó! Đó thực sự là một điều rất đáng mừng!

Tôi đánh giá cao thơ của hai anh Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn. Thơ thường hay được đánh giá bằng hai chữ TâmTài. Cụ Nguyễn Du thì nói có phần bùi ngùi “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”, vì Cụ nghĩ rằng Tài - Mệnh tương đố, đề cao quá cái Tài trong thời đại ấy thì khổ cho cái Mệnh, nhưng tôi nghĩ rằng trong thời đại của chúng ta, trên tinh thần Đổi Mới, có thể coi trọng cả hai yếu tố này ngang nhau mà không phải lo sợ điều gì, kể cả sự đố kỵ tài năng nhỏ nhen. Và vì thế, chúng ta có thể xác lập một công thức thẳng thắn và sòng phẳng là: “Tài + Tâm = Sự thăng hoa”.

Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn đều là những nhà thơ có bản sắc mạnh và dám cách tân mạnh. Tuy nhiên, cả hai anh đều không chọn lối phủ định sạch trơn cái cũ để vạch ra lấy được một cách đi mới tinh, một lối nói mới tinh, theo kiểu hiểu về Cách mạng của chú AQ nhà Lỗ Tấn, là Cách mạng là phải cách bỏ cái mạng cũ đi. Điều thấy rõ, là cả hai anh đều biết tận dụng toàn bộ những ưu điểm đã tích lũy được trong thơ cổ điển và các đỉnh cao của thơ quá khứ, để tự vượt lên mình, vẫn đứng vững trên các cao điểm cũ mà tạo nên đỉnh cao mới hơn. Nếu chơi chữ như người phương Tây hay nói, thì thơ cả hai anh chọn con đường đi lên bằng sự tiến hóa (évolution), chứ chưa hẳn đã cần phải làm hẳn một cuộc lật đổ bạo liệt theo kiểu cách mạng (révolution). Tôi không tin lắm vào những tuyên ngôn lật đổ từ gốc đến ngọn trong sáng tác, vì chúng ta đều biết rằng văn hóa đi lên được là nhờ sự tiếp biến, sự chọn lọc mọi tinh hoa để kết tinh, biết kế thừa những giá trị bền vững từ cha ông, chứ chưa bao giờ văn hóa lại chọn cách phủ định sạch trơn, nhằm mò mẫm đi lại từ đầu mà lại thành công.

Về thơ Đồng Đức Bốn, tôi đã có dịp phát biểu dài từ hồi Đồng Đức Bốn còn sống và sau này, những điều phát biểu ấy đã được chính Đồng Đức Bốn đưa vào một đĩa DVD do Đài Truyền hình Việt Nam làm khá công phu, lấy tên cả đĩa là “Chuông chùa kêu trong mưa” (đã phát hành), nên tôi sẽ không nói lại, mà hôm nay, xin được trao đổi vài ý với nhà thơ Mai Văn Phấn hiện đang có mặt tại đây.

Tôi rất thích quan niệm “vượt thoát” mà Mai Văn Phấn phát biểu trong một cuộc phỏng vấn. Đúng là nhà thơ phải biết tự làm mới mình bằng cách vượt thoát. Dám vượt thoát là cũng đau đớn và chật vật lắm, không dễ dàng gì, nhưng nếu cứ tự huyễn hoặc mình bằng những thành tựu đã có, tự ru ngủ bằng bài ca an phận và không dám phiêu lưu nữa, thì chỉ còn có cách cứ ngủ yên trên vinh quang cũ, đâu dám nhúc nhích gì? Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cũng có một khái niệm độc đáo về văn hóa, ông cho rằng văn hóa đi lên bằng cách “vượt gộp”, tức là có vượt lên, nhưng vẫn gộp vào cái có sẵn có giá trị từ trước để mang theo, chứ không cởi ra mà vứt bỏ nó. Văn hóa Việt Nam chẳng hạn, theo ông, là có hiện tượng “vượt gộp”, dù có tiếp thu văn hóa Trung Quốc, văn hóa Pháp và các nền văn hóa mà dân tộc ta đã tiếp xúc và học hỏi, nhưng vẫn giữ được bản sắc của mình, dù vẫn khôn khéo hòa nhập vào mình những gì là tinh hoa của các nền văn minh khác. Điều đó hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, nói riêng về thơ, thì tôi vẫn chấp nhận và thích thú khái niệm “vượt thoát” của Mai Văn Phấn. Thơ phải biến hóa nhẹ nhàng, thơ phải bay được, đừng có tham lam mà cái gì cũng phải cố giữ, cố níu kéo, cố ôm theo một cách khiên cưỡng cho đủ, cho cân đối, cho phải đạo! Làm thế, coi chừng sẽ giết chết thơ. Khi Thơ Mới đã có một cách thể hiện khác, làm câu thơ uyển chuyển và giàu nhạc tính, tung hứng đến mức phóng túng, thì làm sao còn cố giữ luật bằng trắc nghiêm ngặt của câu thơ luật Đường trước đó nữa, chưa kể những lối nói biền ngẫu và đối nhau chan chát của các câu thơ kiểu cũ, dù rất hay một thời, nhưng đến lúc không thể dùng được nữa! Chính vì thế, tôi cho rằng khái niệm vượt thoát của Mai Văn Phấn trong thơ là có lý, và là một khái niệm sáng tạo.

Tôi cũng rất chú ý đến khái niệm “vong thân” khi Mai Văn Phấn đề cập đến sự dũng cảm của nhà thơ dám luôn luôn tự rời bỏ thể trạng đã định hình của mình, dám “thoát xác”, và ra khỏi nhân thân được coi như bản thể đã mặc định của mình, một nhân cách đã được biểu hiện lặp đi lặp lại quen thuộc trong thơ của mình. Đấy là một quan niệm, chỉ có thể dám thực hiện, khi nhà thơ còn tràn đầy sức trẻ, còn dám tự bung phá, còn dám tự đổi hẳn vai diễn trên sân khấu của đời mình. Tôi hoàn toàn tán thành quan niệm đó trong thơ, tuy nhiên, từ “vong thân” có vẻ khó hiểu và chưa lột tả hết ý muốn cần thể hiện ra, tôi thích cách dịch từ này sang tiếng Anh (cũng được in cùng trong Tuyển thơ Mai Văn Phấn) là “Escape from personality”, có lẽ đạt hơn và dễ hiểu hơn nhiều .

Sau khi đã “vong thân” và “vượt thoát”, Mai Văn Phấn nói rằng, anh đã đạt đến sự “thong dong”. Tôi cũng tin như thế và chúc mừng anh, vì đến đó, có lẽ, nhà thơ đã “ngộ” ra được cái đạo làm thơ và thẩm định thơ, nên đã tự ra thoát khỏi những gì trói buộc cũ và làm khổ mình trước đó.

Về quan điểm học thuật, tôi cũng hết sức nhất trí với Mai Văn Phấn khi anh cho rằng phong cách thơ theo chủ nghĩa hậu hiện đại không hề là đích đến của thơ (như một vài bạn trẻ hôm nay quan niệm). Trên thế giới, người ta cũng đi qua cái chủ nghĩa đó khá lâu rồi, nó cũng chỉ là một chỗ đỗ, một chỗ nghỉ chân trên suốt hành trình dài, nhằm đi tìm một phong cách sáng tác thật đích đáng, thỏa mãn nhu cầu của sự phát triển văn học đang có nhiều khủng hoảng và khúc mắc hiện nay. Bây giờ, người ta đang đua nhau trở về với chủ nghĩa tân cổ điển, tức là tái lập lại chủ nghĩa cổ điển ở tầm cao hơn hẳn một đầu, nằm trên một vòng xoáy trôn ốc cao hơn, trong cả vòng quay của tiến hóa. Để dễ hình dung, ta cứ tưởng tượng như ta đang thắp nén hương vòng, khi cháy hết vòng cũ thì hương sẽ tự động cháy lên đến vòng mới cao hơn. Quy luật của tiến hóa cũng là như vậy mà thôi!

Tuy nhiên, chúng ta đâu có chăm chăm chỉ trông cậy vào các quan niệm (hay chủ nghĩa!), nó vẫn chỉ là lý thuyết trừu tượng, cái quan trọng là ta biến được các quan niệm và chủ kiến của mình thành ra tác phẩm có xương thịt, có vóc dáng thực, có hồn cốt thực. Điều chúng ta trông đợi đó, các anh Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn đã làm được, mỗi người theo một cách, dù chưa phải đã “mười phân vẹn mười”, nhưng hoàn toàn là một lối đi mở, có thể còn đi tiếp được xa hơn, có sức rướn, sức bay mạnh mẽ và thuyết phục hơn. Chỉ tiếc, là Đồng Đức Bốn đã không còn nữa!

Điều tôi muốn thảo luận thêm với Mai Văn Phấn là một ý anh đã phát biểu về thơ: “Thơ là thanh âm của tự nhiên: gió gào, chim hót, núi lửa phun trào, sóng gầm, đá lở… hay như lúc động tình con Đực chồm lên con Cái...”. Điều đó là đúng cả, nhưng không phải chỉ có thế! Nếu chỉ quan niệm có thế, thì nhà thơ chẳng lẽ bỏ qua mọi mối dây liên hệ rất chằng chịt và phức tạp với xã hội và nhân loại, và hoàn toàn hững hờ, vô cảm, đứng ngoài nó hay sao? Tôi nghĩ, đã là một thành viên, đồng cam cộng khổ với cộng đồng loài người, thì nhà thơ không thể thoát ra khỏi xã hội, vì vậy, khó có thể tuyệt đối hóa thiên chức của thơ mà chỉ nói đến thiên nhiên thôi sao?

BẰNG VIỆT

Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống" đến Hải Phòng

2011-07-28 @ 00:06 in Thông tin tổng hợp

Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống" đến Hải Phòng

altNgay sau khi được thành lập, Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống” đã có những hoạt động thiết thực giúp đỡ các nhà văn có thêm những điều kiện thuận lợi để sáng tác và công bố tác phẩm. Quỹ do nhà thơ Bành Thanh Bần - Hội viên Hội Nhà Văn Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Du lịch và Thương mại Cường Thịnh ở Khu Du lich - sinh thái Hồ Tiên Sa (Ba Vì – Ha Nội), sáng lập và là Chủ tịch Quỹ. Qua sự giới thiệu của Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Hải Phòng và một số bạn bè văn chương đất cảng, chiều ngày 28-6-2011, nhà thơ Bành Thanh Bần đã tới thăm nhà thơ Trần Quốc Minh, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng tại nhà riêng ở cầu thang 4, tầng 2 lô A6, khu tập thể phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Cùng đi có nhà thơ Hoài Khánh - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng - và nhà thơ Vũ Hiển - Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ ca Công đoàn thuộc Cung Văn hóa Lao động hữu nghị Viêt - Tiệp. 

Trong thời gian ngắn ở Hải Phòng, nhà thơ Bành Thanh Bần đã giới thiệu đôi nét về ý nghĩa, mục đích và nội dung hoạt động cùng những đối tượng phục vụ của Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống". Quỹ  ban đầu có trên 300 triệu đồng do các doanh nghiệp thành viên trong gia đinh và sẽ tiếp tục có thêm các tổ chưc, doanh nhân, văn nghệ sĩ có điều kiện, các nhà hảo tâm khác cùng chung tay đóng góp xây dựng Quỹ lớn mạnh. Quỹ đã thành lập một Ban lãnh đạo  gồm một số nhà văn, nhà thơ có uy tín tham gia quản lý, điều hành. Quỹ có con dấu, tài khoản và Website riêng đẻ phục vụ cho hoạt động. Do điều kiện mới thành lập, số kinh phí còn ở mức khiêm tốn, nên trước mắt, Quỹ sẽ phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật ở các địa phương trong cả nước, nhằm phát hiện, đề xuất và hỗ trợ bằng những phương thức phù hợp cho những nhà văn, nhà thơ đã thành danh, có nhiều công hiến cho nên văn học nước nhà, hiện đang còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống và chưa có đủ diều kiện kinh phí đẻ xuất bản các tác phẩm đã hoàn thành, được cơ quan chuyên môn thẩm định, có giá trị về nghệ thuật và tư tưởng. Nhà thơ Bành Thanh Bần cũng bày tỏ sự ái mộ và chia sẻ với nhà thơ Trần Quốc Minh tuy bị liệt hai chân từ bé, nhưng vẫn gắng gỏi sáng tác được nhiều bài thơ hay, trong đó có thơ in trong sách giáo khoa., là tác giả của 7 tập thơ in chung và riêng và từng đoạt nhiều Giải thưởng Văn học của Trung ương và địa phương.

Mới đây, Ban lãnh đạo Quỹ hỗ trợ "Văn chương và cuộc sống" đã xét hỗ trợ 5 triệu đồng để góp phần giúp nhà thơ Trần Quốc Minh có thêm điều kiện sớm công bó tác phẩm mới của mình. Kinh phí hỗ trợ này đã được Quỹ chuyển qua tài khoản, được nhà thơ Hoài Khánh tiếp nhận và sáng ngày 23-7 vừa qua đã mang tới nhà riêng trực tiếp trao tận tay cho nhà thơ Trần Quốc Minh. Nhà thơ Trần Quốc Minh bày tỏ lời cảm ơn tới sự quan tâm, giúp đỡ của Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống" cùng bạn bè đồng nghiệp thuộc Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Hải Phòng.

Hi vọng thời gian tới, Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn Hải Phòng sẽ tiếp tục được Quỹ hỗ trợ "Văn chương và Cuộc sống" phối hợp và cộng tác tổ chức những hoạt động thiết thực khác, đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam.

VŨ HIỂN

Kẻ Ngõ Chợ mừng người Ngõ Văn

2011-07-22 @ 14:32 in Thơ

Nhà văn Sơn Tùng tại lễ nhận danh hiệu Anh hùng lao động. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

HOÀI KHÁNH: Vào lúc 14 giờ 30 phút chiều hôm nay, thứ sáu 22-7-2011, Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động cho nhà văn Sơn Tùng được tổ chức tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (số 9, phố Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội). Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến dự và trực tiếp trao danh hiệu cao quý này cho nhà văn Sơn Tùng và thăm Hội Nhà văn Việt Nam. Buổi lễ có sự hiện diện của các nhà văn nhà thơ nhiều thế hệ; đại diện lãnh đạo tỉnh Nghệ An, quê hương nhà văn Sơn Tùng và các bạn bè thân thiết của gia đình. Nhà văn Sơn Tùng  là nhà văn Việt Nam đầu tiên được trao danh hiệu Anh hùng Lao động. Đó là sự ghi nhận xứng đáng cho một con người có nghị lực phi thường, bị thương nặng loại 1/4, mất 81% sức khỏe, nhưng đã vươn lên thành một nhà văn nổi tiếng, có những tác phẩm chuyên viết về Bác Hồ và các danh nhân Cách mạng, được bạn đọc đón nhận rộng rãi, đặc biệt là tiểu thuyết “Búp sen xanh” đã được tái bản hơn 20 lần. Nhân dịp này, Blog Hoài Khánh, xin giới thiệu mọt bài thơ mới nhất của nhà thơ Trịnh Anh Đạt mừng tặng nhà văn Sơn Tùng.

Kẻ Ngõ Chợ mừng người Ngõ Văn

Tôi - người Kẻ Chợ nửa chừng
Ngõ Văn trọng bác Sơn Tùng nhà văn
Đã qua hai cuộc chiến tranh
Treo mình trên chiếc xe lăn trong nhà…

Lầu hai ngong ngóng nỗi xa
Bốn bề vây kín vi-la cao tầng
Phòng văn - lô cốt hay hầm
Có ngăn nổi gió sông Bùng làng Kim?...

Vết thương kép, buốt tận tim
Trang văn làm thuốc đắp lên trán mình
Chức quyền, phú quý đã khinh
Thì bao nhiêu nỗi nhục vinh cũng thường!

Búp sen xanh” tỏa ngát hương
Nón bài thơ” rợp mãi đường mưa bay
Xin người cho nắm bàn tay
Hôn vầng trán rộng bao ngày nắng ngưng…

Tôi bên ngõ Chợ sang mừng
Ngõ Văn có bác Anh hùng viết văn.

TRỊNH ANH ĐẠT

__________________

*Phố Khâm Thiên (Hà Nội) có 2 ngõ gần như đối diện nhau, phía Đài tưởng niệm Khâm Thiên là ngõ Chợ, phía bên kia là ngõ Văn Chương. Nhà văn Sơn Tùng thường đùa gọi là “Ngõ Văn”. Tác giả bài thơ ở bên ngõ Chợ.

Sinh viên truyền hình nói gì về ngành học của mình?

2011-07-16 @ 19:13 in Trang viết gần xa

altHOÀI KHÁNH: Hôm nay, Đặng Hải Lộc - con trai đầu của Hoài Khánh - bước sang tuổi 22. Thằng con so nặng 3kg sinh ngày 16-7-1990 tức ngày Ngọ tháng Ngọ năm Ngọ, lớn lên trong sự nghèo khó của bố mẹ thuở hàn vi. Ba tháng trốn lẫy, bảy tháng trốn bò, chín tháng cai sữa lò dò biết đi, cu Bíp - tên gọi thân mật lúc nhỏ ở nhà - đi nhà trẻ Hoa Hồng (quận Lê Chân), Hoa Phượng (quận Hồng Bàng), rồi mẫu giáo Đồng Tâm (quận Ngô Quyền). Khi Bíp cất tiếng khóc chào đời thì mẹ mất việc làm. Ngày đầu tiên Bíp đi học lớp 1 thì bố lần đầu lên bàn mổ ở Viện Mắt Trung ương để chữa bệnh. Nhưng được sự chăm sóc giúp đỡ của bao người thân, Bíp cứng cỏi tự lực vượt lên gian khó. Học ở Trường Tiểu học Lê Hồng Phong (quận Ngô Quyền), rồi Trường Trung học cơ sở Dư Hàng Kênh (quận Lê Chân), Đặng Hải Lộc có nhiều kỉ niệm đẹp trong hành trang tuổi thơ: Huy chương bạc (năm 1999) và Huy chương đồng (năm 2000) Giải cờ vua các câu lạc bộ thiếu nhi toàn thành phố, tham gia diễn kịch trong tiết mục đoạt giải nhì Liên hoan các đội tuyên truyền thiếu nhi quận Ngô Quyền (năm 2001), Giải A về thơ cuộc thi sáng tác văn học thiếu nhi toàn thành phố (năm 2002), các giải nhất, giải nhì môn cờ vua Hội khỏe Phù Đổng, môn lịch sử huyện An Hải và quận Lê Chân, v. v… Rồi thi đỗ cả 2 lớp chọn Tự nhiên và Xã hội của Trường phổ thông trung học chuyên Trần Phú, Đặng Hải Lộc học lớp Tự nhiên 1 của trường và hoàn thành bậc học phổ thông với cả 12 năm liên tục là học sinh giỏi. Hè năm 2008, Lộc thi tuyển được vào cả 3 trường đại học FPT, Đại học quốc gia Hà Nội, Học viện báo chí và tuyên truyền. Với tư cách Thủ khoa của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Đặng Hải Lộc được nhận giải thưởng Hoa Trạng Nguyên lần thứ nhất (năm 2008)…

alt

và được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao quà lưu niệm tahi Phủ Chủ tịch…

alt

Còn đây là trả lời phỏng vấn của Đặng Hải Lọc …

Sinh viên truyền hình nói gì về ngành học của mình?

altTruyền hình là một trong những ngành học hiện nay đang được giới trẻ quan tâm và lựa chọn. Bởi các bạn cho rằng đây là một trong những nghề dễ nổi tiếng, dễ thành công hơn dù nó có vất vả, khó khăn. Bên cạnh đó có những bạn chọn ngành truyền hình cũng chỉ là sự tình cờ. Vậy để hiểu rõ hơn về ngành học cũng như sự lựa chọn của các bạn chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn các bạn sinh viên truyền hình?

Vì sao bạn chọn học chuyên ngành truyền hình?

Đặng Hải Lộc (Sinh viên lớp Truyền hình K28 A2, Học viện Báo chí và tuyên truyền): Khi thi vào trường em chưa có bất kỳ định hình nào về ngành truyền hình, chỉ biết đó là ngành hot và cao điểm nhất của Học viện báo chí. Vì vậy em đăng kí và cũng do trong gia đình em có người làm báo nên muốn hướng em theo ngành này.

Hiện nay Truyền hình được nhiều bạn trẻ coi là một trong những ngành nghề “hot” và dễ đi đến thành công hơn (ví dụ: cơ hội để trở thành những MC nổi tiếng chẳng  hạn,…). Bạn nghĩ sao về điều này và có bao giờ bạn nghĩ mình theo truyền hình sau này để trở nên nổi tiếng không?

Đặng Hải Lộc: Ngay từ khi đăng ký thi ngành này em cũng thấy đây là một trong những ngành “hot” của trường mình. Và em cũng mong mình theo học chuyên ngành này sau này sẽ có cơ hội để nổi tiếng hơn. Nhưng em không mong sự nổi tiếng như một MC, em thích sự nổi tiếng bằng uy tín của những bài viết và những tác phẩm.Làm sao để cứ thấy đề tên mình lên tác phẩm là người ta muốn xem rồi và đặc biệt có được những tác phẩm khiến người ta phải ghi nhớ.

Sau một thời gian theo học ngành truyền hình bạn thấy thế nào?

Đặng Hải Lộc: Em thấy đã rõ hơn về con đường phát triển rất nhiều cũng đã nắm được hiểu biết sơ bộ về truyền hình và cũng tham gia hoạt động nhóm làm các tác phẩm. Mặc dù vậy em vẫn cảm thấy con đường này sẽ rất vất vả. Và còn có nhiều những khó khăn mà hiện tại chưa thể lường hết được.

Nghề truyền hình là một trong những nghề được coi là vất vả vậy thì liệu sau này bạn có định theo nó đến cùng không?

Đặng Hải Lộc: Từ lúc theo học đến giờ em vẫn đặt ưu tiên cao nhất trở thành phóng viên cho đài Truyền Hình Việt Nam. Tuy nhiên em vẫn có những phương án thay thế khác. Vì em nghĩ rằng với kiến thức nền được trang bị trong nhà trường thì việc tiếp cận với những loại hình báo chí khác cũng rất dễ dàng. Thay vì cạnh tranh khốc liệt trong mảnh đất truyền hình vốn ngày càng hẹp. Em có thể sử dụng kiến thức mình có đựơc Có thể chuyển sang hoạt động ở những mảng khác “thoáng” hơn như báo mạng,…

PHẠM PHƯƠNG thực hiện

Thoát chết nhờ cái "Maniven"

2011-07-11 @ 04:40 in Truyện ngắn

altHOÀI KHÁNH: Nhiều người yêu văn chương biết đến nhà thơ Trịnh Anh Đạt bởi ông có nhiều bài thơ lục bát hay. Nhưng Trịnh Anh Đạt không chỉ sáng tác thơ mà có khi còn viết cả văn xuôi nữa. Truyện kí Thoát chết nhờ cái "Maniven"của Trịnh Anh Đạt từng đoạt giải thưởng văn học về đề tài vận tải quân sự, Blog Hoài Khánh xin giới thiệu tác phẩm này cùng bạn đọc.

Thoát chết nhờ cái "Maniven"

Chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng Trị (1972) vào giai đoạn gay go, ác liệt nhất không hẹn rằm thu vẫn đến. Trời miền tây xứ Quảng cao xanh vời vợi vầng trăng trong vằng vặc sáng soi... Đấy cũng là mùa lập công của lính vận tải cơ giới chúng tôi bởi lợi dụng ánh trăng soi đường, chẳng cần bật đèn gầm toàn đơn vị quay vòng, tăng chuyến...

Ngắm vầng trăng viên mãn, trong tôi bỗng trào dâng nỗi nhớ thương các em nhỏ nơi hậu phương... ở một góc chùa Sét của thủ đô Hà Nội ấy, liệu tết Trung thu này các em thân yêu của tôi có được rước đèn ông sao, ngắm trăng, đánh trống ếch rinh tùng rinh rộn rã phố phường hay là "bế bé bằng bông/ theo đi sơ tán phòng không nơi nào?" Một tứ thơ vụt đến, tôi vội chép lại dòng cảm xúc này mong được gửi về chùa Sét làm quà cho các em.

Bài thơ hoàn thành chóng vánh, đường quân bưu vẫn thông, nhưng không gửi đi đúng rằm thu được bởi kẹt cái "vần". Bốn câu kết được viết:

Để mâm cỗ các em đầy
Nên chưa hẹn trọn một ngày họp vui
Các em phá cỗ trung thu
Các anh cũng phá đồn thù đêm nay!

Vần ui (vui) gieo vần hu (thu) nghe nó tức tai như xe vào kẹt số, phía đầu dây bên kia nhà thơ Phạm Tiến Duật giục gửi bài gấp cho tờ tin mặt trận, phát cáu: "Làm sao Đạt rặn mãi không ra cái vần thế?"...

Biết làm sao được! Năng lực văn chương của tôi có hạn, mà tính thì cầu toàn. Không bao giờ chịu công bố thơ mình trước độc giả khi các vần sậm sật... Bài thơ "Gửi về chùa Sét" vẫn lặng lẽ nằm trong cuốn sổ tay dưới đáy ba lô con cóc... Mấy ngày sau, hậu cứ của chúng tôi rung lên vì pháo kích dữ dội. ấy là khi tướng Ngô Quang Trưởng tuyên bố: "Tái chiếm thành cổ Quảng Trị bằng pháo kích" từ các chiến hạm trên biển đông...

Vầng trăng thu trên đầu hao khuyết đôi phần, vẫn vằng vặc sáng soi, vậy mà sau từng đợt pháo kích, mùi thuốc súng khét lẹt, khói lửa mịt mù trùm lên một vùng rộng lớn, ánh trăng như tắt lịm. Trong đầu tôi lóe lên một tia sáng: Sự tan hoang, tàn khốc này đã gợi ý cho tôi giải thoát cái vần còn mắc kẹt trong bài thơ. Không thể nào khác được, mà phải là:

Để mâm cỗ các em đầy
Nên không chấp nhận phía này trăng lu!
Các em phá cỗ Trung thu
Các anh cũng phá đồn thù đêm nay!

Chữ nghĩa như thế câu thơ lục bát mới chỉn chu được. Tôi vừa nhẹ người đi vì nỗi dằn vặt của vần vè trong thơ, định khoe với thi nhân họ Phạm, thì nhận được lệnh lên đường áp tải cho một đoàn xe chi viện vừa chở đạn pháo ngoài tuyến vào. Xe mới toanh toàn loại "một quang hai gánh" (Mật khẩu gọi các loại xe vận tải hai cầu) đạn dược nhiều, lính trẻ măng, niềm vui cộng hưởng tôi xách túi đồ nghề leo lên ngồi ghế phụ chiếc xe Zil cuối đoàn.

Lái xe là một chú lính "mặt búng ra sữa" chỉ nhỉnh hơn các em nhỏ trong thơ tôi một vài tuổi, quê Nghệ An. Có tôi ngồi bên, cậu ta thêm vững dạ, tự tin nổ máy lên đường. Xe chạy qua một khúc "cua tay áo" và một cái ngầm, tôi phát hiện ra tay lái cậu ta rất non, thậm chí không biết xử lý chân ga, tay số nữa. Mỗi lần thằng OV10 bắn pháo sáng vu vơ là cậu ta lóng ngóng mất định hướng đâu là ta luy, đâu là vực thẳm. Đến con ngầm thứ 2, xe chúng tôi gặp tai họa không thể tin nổi: bánh xe bị pantinê (sa lầy), cậu ta cố rú ga, vào số, buồng nổ bị sặc xăng, máy tắt lịm, tôi vội mở cửa nhảy xuống xe, tìm cách khắc phục... Chiếc xe hai cầu chở ngót chục tấn hàng bỗng chồm lên như con ngựa vía hung hãn. Tôi chỉ kịp hét lên "Không được làm thế" Nhưng không kịp nữa rồi. Cậu ta đã gài số rồi ấn nút khởi động (Đemarơ) với hy vọng chiếc xe sẽ vượt được dốc ngầm... Với kinh nghiệm trận mạc dày dạn và khả năng chuyên môn của mình, cũng phải ngót tiếng sau tôi mới làm cho xe nổ máy lại được. Nhưng khốn nỗi mỗi lần khởi động máy phải dùng cái "maniven" quay mấy vòng, động cơ mới nổ. Cậu ta mặt tái xanh, lo lắng nhìn tôi nói như thú tội "Em đang học dở phổ thông, tình nguyện nhập ngũ mới được một tháng, hai tuần học điều lệnh, nửa tháng học lái, rứa là nhận xe chở đạn vô trong ni luôn..."

Nếu để cậu ta lái không biết đến bao giờ mới đuổi kịp đoàn mà không khéo chẳng chết vì bom đạn mà chết vì cậu ta cho xe lăn xuống vực cũng nên. Tôi lại là loại "lính cậu" lẻo khẻo, quay mấy vòng maniven đã thở ra bằng cả lỗ tai rồi. Tôi nói như ra mệnh lệnh: "Đồng chí ngồi sang ghế phụ, để tôi lái" Cậu ta nhìn tôi lưỡng lự rồi im thít chấp hành.

Thực tình tôi chỉ là một anh cán bộ kỹ thuật xe máy nhưng khi công tác ở hậu phương tại Nhà máy đại tu ôtô Tháng Mười của sở công nghiệp thành phố Hà Nội (Sau tết Mậu Thân 1968 thì bàn giao sang Bộ Quốc phòng, mang bí số Q177 thuộc Cục Quản lý xe). Mà đã là cán bộ, công nhân của nhà máy đại tu ôtô thì từ anh tiếp phẩm đến chị nuôi quân trong túi quần ai mà chẳng có "đầu con chó" (roto chia điện). Mỗi lần giải phóng xe ra xưởng máy thì ai nhảy lên buồng lái cũng lái được. Tôi trở thành "tay lái lụa" từ phong trào "người người lái xe" ấy.

Chẳng mấy chốc xe tôi đuổi kịp đoàn nhưng chiếc xe đi đầu đã bị trúng đạn 12ly7 của thằng C130... Để ngăn chặn con đường vận chuyển huyết mạch của ta bằng cơ giới, thời kỳ này loại tàu bay C130 được trang bị thiết bị phát hiện nhiệt bằng tia hồng ngoại, khả năng tiêu diệt mục tiêu dưới mặt đất là khá cao. Chiến thuật của địch là hạ chiếc đi đầu, sau đó điều các loại tàu bay Thần Sấm, Con Ma và loại F105, F111... đến thả bom, bắn rốc két. Tàu bay OV1O thì thả pháo sáng, ngỡ như cái kim rơi xuống đất cũng nhìn thấy được. Nghe tiếng tàu bay gầm rú, pháo sáng đầy bầu trời cậu lái xe của tôi hoảng quá, mở của xe phóng một mạch xuống hầm chữ A bên đường do anh em công binh mặt trận đào từ trước. Tôi dừng xe, với tay lấy túi đồ nghề, bông băng cá nhân, không quên vác theo cái maniven. Tôi vừa thập thò ở của hầm, các cậu lính trẻ ngồi co ro trong hầm, đồng thanh phản đối "Lão này hâm bỏ mẹ! Cả cái xe to lù lù còn để đó, lại đi chạy cái "maniven". Tôi cúi xuống giải thích: "Lát nữa thông đường không có maniven các đồng chí lên đẩy xe cho máy nổ nhé"

Nhưng không còn tranh luận được nữa rồi. Toàn thân tôi lạnh toát, một cảm giác mơ hồ như mình đang bay vào khoảng không vũ trụ với vận tốc siêu âm. Tất cả chìm trong im lặng.

*

Một làn gió thoảng qua rất nhẹ, có một thứ mùi gì đó rất lạ, tôi chưa ngửi thấy bao giờ, đầu rất nặng, hé mắt, nhận ra vóc dáng một thiếu nữ mặc áo blu trắng đang ngồi cạnh tôi, phe phẩy chiếc quạt nan đầy nhẫn nại. Linh tính mách bảo tôi đã bị thương khá nặng. Nhưng tôi không xác định được là mình có mất một phần xương thịt nào không, toàn thân tôi bất động, tay chân như bị đá đè, ngực tức, rất khó thở, tai điếc nặng, trong đầu như có chiếc đài bán dẫn bắt lạc sóng cứ o, o, ro, ro...

Sau hơn tháng trời điều trị tại bệnh viện tiền phương, tôi được anh em cứu thương kể lại:

Tôi là người ở gần vị trí trái bom nổ nhất, vì chưa vào hầm nên sức ép bom đã nâng bổng tôi lên, hắt qua nắp hầm chữ A quẳng tôi vào một bụi cỏ gianh lớn phía bìa rừng cách đó hàng chục mét. Nằm trong hầm còn bốn đồng chí nữa, hai đồng chí ngồi sát vách hầm trong cùng, hy sinh tại chỗ (đó là cậu lái xe "mặt búng ra sữa" của tôi) hai đồng chí ngồi ngoài được đưa về tuyến sau không rõ sống chết thế nào. Mãi chiều hôm sau, khi đơn vị điểm danh, thấy thiếu tôi, mọi người mới tá hỏa đi tìm, tôi nằm "trần như nhộng" trong cái kén cỏ gianh trong bụi cỏ gianh. Các chỗ hở trên cơ thể: Miệng, mũi, tai, mắt đều chảy máu, nhiều vệt máu đã khô đen, toàn thân tím bầm, tóc tai khét lẹt, kiến đen bu đầy người.

Khi cầm tờ giấy xuất viện, trở lại mặt trận, tôi đã kể câu chuyện sống sót hy hữu của mình cho ông bác sĩ giám đốc bệnh viện nghe. Ông bác sĩ vỗ vai tôi cười khơ khơ, nửa đùa nửa thật ghé vào tai tôi nói to, như để mọi người xung quanh cùng nghe: "Đồng chí thoát chết nhờ cái maniven" đấy!

Còn tôi sau lần chết hụt, càng thán phục cái phát hiện tài tình của Phạm Tiến Duật trong bài thơ "Tiếng bom ở Seng Phan". Dẫu điếc đặc, tôi vẫn hét toáng lên:

"... Thế đấy! Giữa chiến trường
Nghe tiếng bom rất nhỏ!"

TRỊNH ANH ĐẠT

Chiều Đồng Hới

2011-07-05 @ 00:00 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Chiều Đồng Hớialt

Hoa sữa dung dăng hè phố
Gió biển mặn mòi đưa hương
Mây chiều cũng quàng khăn đỏ
Theo em mỗi buổi tan trường
 
Bạn trai nào lén qua đường
Vu vơ một hồi huýt sáo
Cái nhìn giận thế mà thương
Vô tình rơi trên vạt áo
 
Cầu Dài còi xe huyên náo
Nắng loang hồng cả mặt sông
Thuận Lý, Đồng Sơn mách bảo
Em giấu buổi chiều vào trong
 
Cửa biển Nhật Lệ mênh mông
Rặng dừa bá vai nhau hát
Em chạy chân trần trên cát
Buổi chiều đuổi bắt sau lưng.

Quảng Bình, 11-1998

HOÀI KHÁNH

Gia đình Hoài Khánh

2011-06-28 @ 00:00 in Tự bạch

Gia đình Hoài Khánh

Ngày nào xây dựng gia đình

 alt

Loay hoay mãi cũng sinh thành 2 con

 alt

Khi mềm cứng, lúc méo tròn

Hăm hai năm lẻ vẫn còn chạy ngon

 alt

Thôi đành dừng ở 2 con

 alt

Gia đình Hoài Khánh mãi còn như mơ

 alt

Cho dù mê mải làm thơ

Không quên đóng thuế…để lập thành tích chào mừng Ngày Gia đình Việt Nam!

HOÀI KHÁNH

Làm rõ vị trí, vai trò, xây dựng văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh trong phát triển đất nước

2011-06-21 @ 20:32 in Thông tin tổng hợp

HOÀI KHÁNH: Trong 2 ngày 10 và 11-6-2011, tại Thái Nguyên, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức Hội nghị quán triệt những nội dung cơ bản và mới về văn hóa, văn học nghệ thuật trong các văn kiện Đại hội 11. Kết thúc Hội nghị, một số cán bộ, văn nghệ sĩ của thành phố Hải Phòng tham dự Hội nghị đã phát biểu chia sẻ, làm rõ hơn ý nghĩa của việc học tập, quán triệt Nghị quyết và nhữHng thay đổi nhận thức về vai trò, vị trí của văn hóa dẫn tới những tác động trong quá trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể từ định hướng tư tưởng tới quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật. Báo Hải Phòng số ra ngày hôm nay 21-6-2011 đã trích đăng những ý kiến đó.

Làm rõ vị trí, vai trò, xây dựng văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh trong phát triển đất nước

altNhà thơ HOÀI KHÁNH – Phó chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng: Mở rộng không gian sáng tạo của văn nghệ sĩ

Quán triệt nội dung về văn hóa, văn học nghệ thuật trong các văn kiện Đại hội 11 của Đảng, đội ngũ văn nghệ sĩ có thêm điều kiện xác định rõ trách nhiệm của mình là đóng góp tích cực vào việc phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng; tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác. Vì một nền văn học nghệ thuật Việt Nam dân tộc, hiện đại, chúng ta trân trọng mọi tài năng.

Để tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao, có sức lan tỏa lớn, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc, rất cần sự khuyến khích tự do sáng tạo trong hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật. Chúng ta đang tích cực xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, coi trọng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc; nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Với văn học nghệ thuật, không ai thay thế ai về tài năng, nhưng rất cần sự nồng ấm và cộng hưởng về khát vọng và tâm huyết của văn nghệ sĩ. Không thể xem nhẹ việc xây dựng và thực hiện các chính sách, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ những người hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Sự hợp sức và gắng gỏi của cả một đội ngũ đông đảo gồm nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, là để phấn đấu cho một nền văn học nghệ thuật như thế.

altBiên tập viên Tạp chí Cửa Biển DƯƠNG THỊ NHỤN: Vận dụng hiệu quả vào thực tiễn công tác và hoạt động sáng tác

Các văn kiện Đại hội XI của Đảng chỉ rõ, xây dựng và phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, sẽ không có chủ nghĩa xã hội nếu không xây dựng được một nền văn hóa đích thực với những giá trị văn hoá đáp ứng và phù hợp với khát vọng cao quý của con người, của dân tộc. Thực tế phát triển đất nước ta hiện nay, độ chênh giữa phát triển kinh tế và văn hoá là khá lớn. Các mối quan hệ bị phá vỡ (con người, gia đình, xã hội...), vì vậy nhiệm vụ của người làm công tác văn hoá, văn học nghệ thuật thực sự khó khăn và nặng nề.

Qua học tập, quán triệt Nghị quyết, đội ngũ cán bộ làm xông tác chỉ đạo, quản lý văn hóa, văn học, nghệ thuật, các văn nghệ sĩ, nhà báo, nắm cững những vấn đề cơ bản, cốt lõi, những điểm mới và các chủ trương, quyết sách lớn xác định trong các văn kiện, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật. Trên cơ sở đó vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn công tác và sáng tác những tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của công chúng, góp phần từng bước cụ thể hoá mục tiêu xây dựng văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

LÊ HỒNG CHÂM thực hiện

Một cuộc Hội thảo thú vị và gợi mở

2011-06-16 @ 13:15 in Tác phẩm và dư luận

altHOÀI KHÁNH: Cuộc Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn đã được Chi hội Nhà văn Vệt Nam tại Hải Phòng, Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng phối hợp với Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công tại Hải Phòng ngày 15-5-2011. Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - tới dự và có bài phát biểu kết thúc cuộc Hội thảo. Bài phát biểu đã được các nhà nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ và bạn yêu thơ có mặt tại Hội thảo quan tâm lắng nghe, đánh giá cao về chất lượng học thuật, tính khái quát, độ mở, nhằm định hướng cho thơ đương đại... Trong dịp tới dự Hội nghị tập huấn nghiên cứu, quán triệt “Những nội dung cơ bản và mới về văn hóa, văn học - nghệ thuật trong các Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng" do Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương tổ chức tại Thái Nguyên trong 2 ngày 10 và 11-6-2011 vừa qua, trong cuộc gặp gỡ thân mật, nhà thơ Hữu Thỉnh đã đồng ý cho phép Hoài Khánh công bố sớm toàn văn nội dung bài phát biểu này trước khi in trong cuốn sách kỉ yếu của Hội thảo mang tên Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn - khác biệt và thành công (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2011) in xong. Blog Hoài Khánh xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài phát biểu của nhà thơ Hữu Thỉnh có giá trị thiết thực dành cho những người quan tâm tới văn học Việt Nam hiện nay cùng những ai đang yêu thích và sáng tác thơ.

Một cuộc Hội thảo thú vị và gợi mở

altChiều tối qua, ngay sau khi tới đây, tôi đã tranh thủ đọc tập tham luận. Cả ngày hôm nay, lại được nghe thêm 20 bản tham luận nữa. Như vậy, cơ bản đã tiếp cận được toàn bộ nội dung của Hội thảo. Cuộc Hội thảo đã được chuẩn bị tốt, tận tình và có tính nghề nghiệp cao. Ấn tượng của tôi về tất cả những gì diễn ra tại đây là hoàn toàn dân chủ, giàu trí tuệ, thoải mái và chân tình. Hội thảo là hoạt động tập trung của công tác lý luận, phê bình, lĩnh vực khó nhất trong những lĩnh vực khó nhất. Hơn ở đâu hết, để xử lý những vấn đề như thế này, cần rất nhiều hiểu biết, tinh tế và trân trọng nhau. Còn phải tính đến đặc điểm  lớn của tình hình hiện nay là sự thay đổi hệ giá trị, kéo theo biết bao thay đổi khác về nhu cầu, sở thích, tâm lý, thói quen. Đa dạng hoá trong sáng tác đòi hỏi đa dạng hoá trong tiếp nhận, thẩm định và đánh giá. Trong bối cảnh nền văn học đang vận động mạnh mẽ, việc có ý kiến khác nhau là rất bình thường.

Tôi tán thành ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều là Hội thảo đã thành công. Ở Hải Phòng, còn có gì khác nhau hơn Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn! Hai giọng điệu, hai phong cách, với những thao tác như đẩy xa về hai cực. Vậy mà cả hai đều có cống hiến, đều có chỗ đứng trong dòng chảy của thi ca. Hoá ra, khi anh thực sự có gì riêng, anh sẽ có đóng góp cho cái chung.

Còn nhớ, vào một ngày đầu tháng 4 năm 1992, các anh Vân Long, Trịnh Hoài Giang và chị Dư Thị Hoàn đến thăm tôi ở Tạp chí Văn nghệ quân đội mang theo một vị khách mới. Vị này, trông cổ quái và hoang dã, vai rộng, mắt xếch, giọng nói vang to. Tôi được giới thiệu đó là Đồng Đức Bốn ở Hải Phòng, đã có thơ đăng ở đâu đó khá lâu, nhưng vì đông con phải lo kiếm sống, nay muốn trở lại công việc viết lách. Tôi là trưởng ban Nhà văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam, thấy vậy là hồ hởi ngay. Câu chuyện rôm rả đến xế trưa, các bạn ra về, Đồng Đức Bốn ở lại. Tôi nói ở lại hoàn toàn theo nghĩa đen, nghĩa là ở với nhau như trong gia đình. Tính Bốn dễ dãi, có gì ăn nấy, chỉ ngặt có mỗi một chiếc giường cá nhân, Bốn nhường tôi, còn anh ngủ trên bàn làm việc và vào giấc rất nhanh, mặc kệ đôi chân có thừa ra chút ít. Cứ thế, khi thì dăm ba ngày, có lúc về quê, tôi giao hẳn phòng cho Bốn. Anh em trong đơn vị có người cự nự tôi tại sao đưa một người dân sự về sống hẳn ở doanh trại quân đội. Tôi bảo anh ấy tốt, cứ yên tâm. Còn tôi thì nhắc Bốn gặp ai nhớ chào hỏi cho cẩn thận. Thoắt ẩn thoắt hiện, đến và đi đều đột ngột, nhiều khi Bốn còn kéo thêm một số bạn mới nữa, cũng là dân yêu thơ và cũng đang tập viết. Vui vẻ ồn ào nhưng nhiều khi đến khổ. Những ngày đó, chúng tôi nói với nhau không thiếu một chuyện gì. Thời gian Bốn ở với tôi đến tháng 10/1994 là khi tôi chuyển về ở tại quận Thanh Xuân. Tôi kéo Bốn về với đồng quê, với dân ca ca dao. Và để cho Bốn yên tâm, tôi dẫn một câu nói của một học giả phương Tây: “Thành thị có thể xác, thôn dã có linh hồn”. Trở về với dân gian là trở về với hồn quê. Hồn quê sẽ sống mãi. Chị Bùi Kim Anh buổi sáng khen hình ảnh bàn tay héo trong thơ Bốn và hỏi không biết vì sao Bốn lại có thể viết được như thế. Tôi nhớ có lần hỏi Bốn có biết câu đố này không:

Cái cây mà có năm cành
Dấp nước thì héo để dành thì tươi

là cái cây gì? Bốn ngắc ngứ không nói được. Tôi bảo, cậu là người nhà quê như thế à. Đó là cái bàn tay. Bàn tay đi cấy, ngâm trong bùn lạnh, nó tím tái lại, teo quắt đi, đó là tay héo. Xong việc lên bờ, ấm lại, thì nó nở ra, nó tươi hồng lại. Có lẽ là hình ảnh tay héo của Bốn có gốc gác từ đó chăng? Những ngày sau, mỗi lần đến thăm tôi, Bốn lại xùy ra một vài bài thơ mới, nhờ tôi đọc và sửa cho; đọc và sửa và tìm nơi đăng cho nữa. Tôi vui vẻ làm thứ dịch vụ công cho Bốn. Và mừng là thấy Bốn lớn lên rất nhanh. Chỉ trong khoảng 8 năm, Bốn làm một cú vươn vai ngoạn mục trong thơ.

Bốn làm thơ đầy bản năng, biết tận dụng khai thác triệt để cái bản năng ấy, thâm canh ở đó. Anh không chỉ trở về mà là biết chưng cất hồn cốt dân gian, đẩy trực cảm thành một cuộc lên đồng. Câu thơ của anh trở nên có phù phép, lộng lẫy, quen mà lạ, xa mà gần, và chủ yếu là rất gợi. Có gì đâu, vì anh biết đánh thức con người nhà quê tiềm ẩn đâu đó trong mỗi chúng ta. Trong muôn phím đàn, anh biết chọn một, mà chọn đúng, là cảm giác dìu dịu mênh mang của tiếng ru nâu sồng xa lắc. Bốn thành công nhất trong lục bát. Lục bát của anh dễ say như một hơi men. Vì nó không tả, mà là thốt lên, là hát, là tự nở hoa trong tâm hồn, cảnh tình bấm bện, ma mị, như một cuộc gọi hồn.

Nhưng suýt nữa thì anh trở thành véo von. Bởi ngoài cái hồn và cái cảm, anh ít quan tâm đến chiều sâu của tư tưởng. Anh mải hát, mải đuổi bắt cái do chính tiếng hát anh tạo ra, nên thơ có sự lỏng lẻo về cấu trúc. Người ta bảo, cấu trúc là trí tuệ. Thơ Bốn có nhiều câu văng ra khỏi bài, có một cuộc sống riêng. Đó là cả một sự tài tình, người làm thơ biết dồn nhan sắc cho các câu thơ hay. Được là thế, nhưng thua là xổng xểnh, xổng xểnh trong bố cục. Nhưng Bốn là thế. Có xổng xểnh và có thăng hoa mới là Đồng Đức Bốn.

Còn Mai Văn Phấn là tất cả những gì ngược lại. Ấn tượng đầu tiên của tôi, đó là một chàng nho nhã, khiêm cung và khá chững chạc ngay từ giai đoạn đầu. Thơ ấy, người ấy, hứa hẹn một người lãnh đạo văn nghệ tương lai. Tôi đặt nhiều hy vọng ở Phấn. Và trong Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ IV năm 1994, tôi mời anh tham gia Chủ tịch đoàn. Một năm sau, anh đoạt giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi thơ của báo Văn nghệ. Bỗng, anh ngoặt sang một lối rẽ khác, thay đổi hoàn toàn. Một chàng quần jeans và áo phông, nền nã một cách hiện đại. Đây là một bước ngoặt có chuẩn bị, quyết không phải là sự bốc đồng hay cuộc chơi xổ số đầy may rủi. Phải nói là Mai Văn Phấn có lợi thế cho cuộc cách tân này, đó là lợi thế tiếp xúc trực tiếp với các nền thơ nước ngoài. Anh lặng lẽ trong tự tin. Kết quả, một thời gian sau, người ta gặp một Mai Văn Phấn khác hẳn, Phấn phức hợp và kỳ khu, Phấn cầm roi ra lệnh cho các con chữ, Phấn đáo để chống lại sự nông cạn, cùn mòn. Chàng thử sức cả thơ ngắn và trường ca. Từ cách đặt tên bài, đến chia đoạn, vắt câu, chỗ nào cũng tuân theo phương châm cách tân triệt để. Có ý kiến thơ Phấn ở chặng sau này hay ở từng mảng, từng câu, chưa kết lại những bài hoàn chỉnh. Tôi nghĩ khác, thơ Phấn có những bài khá hoàn chỉnh, hoàn chỉnh một cách mới mẻ, mới mẻ mà hay. Anh biết sốt ruột một cách bình tĩnh. Bởi vấn đề ở đây là tài năng và văn hoá. Không tài năng và văn hoá, chỉ biết sốt ruột không thôi dễ trở thành những kẻ đốt đền. Một người dám từ bỏ những tiếng vỗ tay quen thuộc để ngoặt sang một chặng đường hoàn toàn khác hẳn, phải là người có chí có gan. Phấn có ý thức phấn đấu cho thơ thật giản dị, tôi muốn thêm hai chữ tự nhiên. Thơ anh có nhiều thể nghiệm, quyết liệt cho cái mới. Vì ham thể nghiệm, có chỗ chưa nhuyễn, có chỗ còn sượng và còn vướng nhiều phụ tùng quá. Anh còn kể nhiều, thiếu ma lực, ít khi đạt được chót đỉnh những khái quát. Anh thành công ở chiến thuật nhiều hơn ở chiến lược. Chiến lược của nhà thơ là từ trường đồng cảm, nói một cách khác, đó là công chúng. Nếu nhà thơ lấy thơ hay là mục đích, thì công chúng là mục đích của mục đích. Trong những bài viết về Mai Văn Phấn, tôi chú ý đến sự tinh tường và cảm động của Thi Hoàng.

Từ hai trường hợp cụ thể, Đồng Đức Bốn và Mai Văn Phấn, như vẫn thường thấy, Hội thảo cũng đề cập đến những vấn đề chung của thơ ta hiện nay. Quả là thơ ta hiện nay đang có nhiều vấn đề thật. Người làm thơ rất đông, nhưng công chúng thơ thì teo lại. Trên báo chí, chúng ta gặp một cánh đồng bất tận những lời khen, trong thực tế công chúng lại chẳng mấy mặn mà. Sự thật ở đâu? Tôi cho rằng chúng ta đang lạm phát những lời khen. Sự dễ dãi của những lời khen thực chất đang che giấu một sự thật. Đó là nỗi sợ hãi, sợ hãi đưa ra những lời chê, những góp ý thẳng thắn, sợ mất lòng. Như thế là không bình thường. Trong cuộc Hội thảo này đã xuất hiện những cố gắng khắc phục sự bất bình thường đó. Chúng ta nói về Mai Văn Phấn rất thẳng thắn, chân tình, khen chê xác đáng, nhưng anh Phấn bước lên diễn đàn thật lịch lãm và tôi đọc được những xúc động chân tình. Như thế là có bản lĩnh, báo với ta rằng anh còn có thể đi bền trên đường thơ. Tôi chờ đợi sự nhuyễn, sự trong lắng của anh. Và tôi muốn không khí thảo luận vừa chân tình vừa thẳng thắn của cuộc Hội thảo này được nhân rộng ra nữa.

Trở lại vấn đề chung, tôi thấy thơ ta hiện nay có hai trọng bệnh, một là véo von, hai là xa-lông hoá. Véo von là tự bằng lòng, lặp lại mãi giai điệu cũ, lười biếng, dễ dãi, nghe cứ phào phào mà ít thơ và ít tài. Xa-lông hoá là rơi vào sự nhấm nháp cá nhân, ngắm vuốt xiêm áo, tuyệt đối hoá hình thức, bịt kín mọi mối giao cảm với công chúng. Cách chữa thì có nhiều, nhưng trước hết cần trở lại truyền thống nhập thế của cha ông. Nhập thế để cấp dưỡng khí cho tài năng.

Câu chuyện cũng khá rôm rả trong Hội thảo này là các trường phái, thi pháp, các "chủ nghĩa" nghệ thuật. Cái này có gốc gác từ thuyết các Trung tâm. Với đà tiến bộ và thành tựu trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ, đem đến những bước tiến lớn về kinh tế, quân sự, châu Âu tự coi mình là Trung tâm của thế giới. Châu Á cũng chẳng chịu lép, cũng tự coi mình là Trung tâm (Trung tâm “dĩ Âu”, Trung tâm “dĩ Á”). Phải thừa nhận bán kính ảnh hưởng châu Âu là rất rộng. Cho nên trong nghệ thuật phương Tây có loại thuyết gì, "chủ nghĩa" gì thì các vùng ảnh hưởng cũng lặp lại những cái đó. Nhưng cũng có những vùng họ cứng cổ, thay vì bắt chước châu Âu, họ quay về đánh thức yếu tố bản địa. Vì thế mới có chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của Mỹ la tinh, thơ haiku của Nhật và tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc. Tiếp thu thế giới là tiếp thu các tinh hoa, điều không nên là họ có lãng mạn, tượng trưng, siêu thực, tân hình thức, hậu hiện đại, ta cũng phải lặp lại y chang. Cái chủ nghĩa nghệ thuật là một phạm trù mỹ học đồng thời là một phạm trù lịch sử. Nó xuất hiện rồi lại bị thay thế. Có thể xem đó như những chặng đường, những bước đi để đến ngôi đền thơ ca. Mà nhân loại thì có biết bao những chặng đường như thế. Nói cho cùng, các trường phái không thể thay thế được tài năng; trong thơ không có tài, thì còn làm nên được cái gì?

Nhân nói về vấn đề này, tôi nghĩ đến cuộc phê bình thơ không vần của anh Nguyễn Đình Thi. Lạ lùng là những người phản đối anh Thi đều là những người có Tây học. Anh Thi cũng học Tây, muốn bỏ vần để nhập vào với hơi thở kháng chiến. Anh bỏ vần để:

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.

Hoá ra cách tân không phải là cắt đứt với truyền thống, mà để nghe truyền thống rõ hơn, nhân cái truyền thống ấy trong hiện đại. Ở trên tôi có nói thơ ta hiện nay có xu hướng rút lui vào hình thức, tuyệt đối hoá hình thức. Để minh hoạ, cho tôi kể một câu chuyện nhỏ. Năm 2000, tôi đến thăm thành phố Chicago, Hoa Kỳ, và gặp một nhà thơ cách tân bậc nhất của Mỹ là Paul Hoover. Anh là giáo sư, phụ trách Khoa Sáng tạo nghệ thuật ở một trường Đại học của thành phố. Paul Hoover làm thơ hiện đại như sau: Thoạt đầu, anh viết những bài thơ son-nê rõ ràng, tề chỉnh trên máy tính. Sau đó anh thực hiện một thao tác làm cho bài thơ nổ tung ra như một đám hoa cà hoa cải. Rồi anh in ra, tuyên bố đã làm xong một bài thơ hiện đại. Làm thơ mãi theo kiểu đó, chẳng gây ấn tượng gì, chán trò, anh trở lại làm thơ theo thể son-nê cổ điển. Paul Hoover có sang thăm Việt Nam hai lần. Tôi tiếp anh ở báo Văn nghệ thật vui vẻ. Thời gian đó tôi và anh Nguyễn Trọng Tạo đang làm Phụ trương Thơ, tiền thân của Tạp chí Thơ ngày nay. Rút lui vào hình thức, tuyệt đối hoá hình thức dễ đi vào tắc tị. Nếu tuyệt đối hoá hình thức mà có tiền đồ thì nhóm Xuân Thu Nhã Tập đã thành một dòng thơ lớn rồi. Nhưng nó đã biến mất và chỉ để lại một tấm biển báo nguy hiểm bên cạnh đường thơ: Chủ nghĩa hình thức cẩn thận, có mìn. Nói như thế không có nghĩa là coi nhẹ việc học hỏi thế giới. Ngược lại, càng phải học, học để hiểu, để chắt lấy cái tinh hoa. Là bộ phận của nhân loại, sao dại gì mà không học lấy cái tinh hoa của nhân loại. Tôi muốn nói là học cái tinh hoa. Học cái tinh hoa là cả một quá trình tiếp biến văn hoá nhọc lòng và công phu, để biến những yếu tố ngoại sinh thành hồn thành máu chứ không phải là sự sao chép vụng về. Càng không phải thiên hạ có gì ta cũng phải lặp lại một cách máy móc. Những chỗ thành công của Mai Văn Phấn là một ví dụ. Anh đã tạo ra vùng “tiểu khí hậu” trong thơ.

Thời gian một ngày đi nhanh quá. Tiếc có ít thời gian để thảo luận và tranh luận. Nhưng bằng tất cả những gì đã diễn ra tại đây, hôm nay, chúng ta có thể xem là một cuộc hội thảo thú vị và gợi mở.

Hải Phòng, 15-5-2011

HỮU THỈNH

Liễu ven hồ

2011-06-10 @ 02:18 in Truyện ngắn

Liễu ven hồ

Nhà chỉ còn hai anh em. Em gái ba mươi nhăm còn anh trai cũng đã gần năm mươi. Căn nhà rộng thênh thang được xây theo kiểu biệt thự trông ra một hồ nước khá rộng. Chiều chiều người qua đường thấy một người đàn bà có ánh mắt dài dại đứng trong ô cửa có vòm cong chạm trổ cầu kì nhìn ra hồ.

Mùa hè nước hồ trong vắt có thể nhìn tận đáy lớp rong rêu đang lập lờ. Vài con cá nhỏ xíu chui ra chui vào. Chỉ có lũ cá bé tí đó mới dám tận hưởng sự nhàn hạ để mà rong chơi giữa chốn thị thành người khôn của hiếm này chứ các đàn anh của chúng đâu dám thế. Hàng ngày cũng có đến ba bốn chiếc thuyền thả lưới và dăm bảy người ngồi tư lự cạnh chiếc cần câu.

 Người đàn bà trong ngôi biệt thự nhìn ra hồ đó tên là Huyền. Chị có thể đứng bên ô cửa nhà mình cả tiếng đồng hồ mỗi ngày. Chị thích tiếng gõ vui tai của anh thuyền chài dồn cá, thích cả mấy cây liễu phất phơ in bóng xuống mặt hồ.  Người qua lại nhà chị lúc nào cũng đông. Tiếng còi xe đủ loại thỉnh thoảng lại rú lên. Nhà chị ở đúng vào chỗ ngoặt của con đường nên sự ồn ào là không tránh khỏi. Anh trai chị bảo chị có đôi tai lọc âm thanh thật tuyệt vời. Trước đây anh hay gọi chị vào gian trong cho khỏi nhức đầu nhưng chị không chịu. Chị cố gắng loại bỏ mọi thứ ồn ào của các phương tiện hiện đại để nghe tiếng gõ lanh canh của anh chàng thuyền chài. Chị chắc chắn rằng đó là tiếng gõ của một người đàn ông khoẻ mạnh và cường tráng. Chỉ có thể như thế tiếng gõ nghe mới đều và rền.

Ngày nào vắng tiếng gõ trên mặt hồ là chị đứng ngồi không yên. Chị chờ đợi, mắt hướng xa xăm. Những lúc tỉnh táo đôi mắt chị như có một vệt sương lướt qua, đen mướt, long lanh và dịu dàng. Hình như sự chờ đợi quá lâu làm chị không chịu nổi. Tiếng còi xe từ đường  đập vào tai, vào đầu như đâm muôn vàn mũi kim. Chị rú lên man dại. Tiếng rú của chị dội đi dội lại trong  nhà mãi không dứt. Khi lên cơn, trên người chị không còn chút vải che thân. Khuôn mặt dài, mũi thẳng, da trắng, mái tóc bồng bềnh như sóng, cả người chị rực lên như thách thức. Cơ thể chị là sự nhào nặn hoàn hảo của tạo hoá. Nó đã làm cho Vọng, người đàn ông lao động bảy năm ở Đức về phải mê mẩn. Anh ta chỉ định về nghỉ phép. Gặp Huyền anh ta bỏ hết. Dẫu vậy, với tài tháo vát, anh ta cũng mang về được kha khá. Thời ấy mấy ai có dịp tiếp xúc với đồng Mark, đồng dolla bao giờ. Thế mà anh ta có một đống trong cái samslai. Qua giới thiệu của người bạn, đến nhà thấy một cô gái đẹp trong ngôi biệt thự ven hồ, làm sao Vọng không chết. Đám cưới của người bị tiếng sét ái tình nhanh như  mưa rào mùa hạ.

 Hai vợ chồng sống với nhau được gần chục năm thì Vọng dở chứng. Là giám đốc công ty tư nhân nên anh ta có quan hệ rất rộng. Anh ta còn là môi giới quan trọng của các doanh nghiệp với một số quan chức có cỡ. Vọng có điều kiện đi lại nhiều, gặp gỡ nhiều và tất nhiên, tiền thì vô kể. Từ chỗ chỉ có ý định à ơi cho vui lúc vắng vợ, với cô Thu thư kí. Nhưng trò đời khi đã ăn được con cá bé thì lại muốn được nhấm nháp con cá to hơn, ngon hơn. Vọng và Thu quấn lấy nhau như đôi sam. Dù sao anh ta cũng phải công nhận, Thu sắc sảo năng động chứ không lả lướt và mềm yếu như Huyền. Anh ta chê Huyền nhạt nhẽo, nhàm. Khi Huyền biết chuyện thì họ đã mua nhà ở với nhau. Thảo nào mà những chuyến công tác cứ dài thêm. Huyền không nghi ngờ chồng bao giờ nên khi biết chuyện chị bị xốc ngay lập tức. Chị nằm vật ra hàng tháng trời, không ăn, không uống, chỉ sống được nhờ truyền dịch. Vợ chồng anh trai  phải dọn về ở cùng để chăm sóc ba mẹ con chị.

Khi gượng dậy được thì chị không còn nhanh nhẹn như trước. Người chị thẫn thờ, mắt nhìn xa xăm vô định. Hàng ngày chị ngồi rất lâu trên cái ban công nhìn ra hồ, không nói gì. Đêm đến chị tha thẩn quanh cái vườn nhỏ không chịu đi ngủ. Vọng về qua nhà thấy  con ngơ ngác như gà con mất mẹ liền giấu chị đưa con đi. Hai đứa con không muốn xa mẹ. Bị bố kéo, chúng gào lên: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”  vang cả nhà. Lúc ấy Huyền như bừng tỉnh. Chị chạy tới và nhoai vào trong xe lôi con ra. Hai tay chị cố sức túm lấy bàn tay bé bỏng của các con mà không được. Vọng xuống xe hằm hằm lôi thốc chị vào nhà rồi đóng sập cổng lại. Chị cũng gào lên gọi con. Nếu như phải chứng kiến cảnh ấy chắc một người sắt đá cũng phải mềm lòng. Thanh đã khóc nức lên trên cửa sổ tầng hai. Một mình anh không thể kham được ba mẹ con. Anh còn phải làm việc. Vợ anh không chịu được cảnh phải hầu hạ mấy “của nợ” nửa điên nửa dại đã đay nghiến  anh rất nhiều rồi đem con về nhà ngoại từ tháng trước. Từ lúc các con bị cướp đi Huyền cứ rú lên. Chị bị điên từ đấy.

        Thanh đưa chị vào bệnh viện tâm thần chữa mấy tháng liền. ở bệnh viện chị như bông hoa rực rỡ nở giữa một vùng cỏ cháy. Những bệnh nhân tâm thần khi tỉnh táo cứ sán lấy chị. Họ có nhu cầu tình cảm như người bình thường nên Huyền luôn bị quấy rầy. Anh chàng bác sĩ điều trị cũng bị chị hút mất hồn luôn. Anh ta ở bệnh viện cả ngày đến nỗi cô người yêu đến mắng Huyền té tát. Nhưng Huyền có biết gì đâu. Chị còn nghĩ gì đến yêu với đương mà cô ta nỡ thế. Mắng chị chán cô ta nhìn chị chằm chằm, mắt vằn lên: “ Này! Tôi biết chị không điên đâu nhá! Chị phải buông ngay anh Bảo ra! Lúc nào anh ấy đến gần thì chị nhảy vào cào cấu cho anh ấy sợ. Anh ấy không dám gần chị nhiều nữa.” Cô ta nói xong thì Huyền cười khanh khách. Lúc ấy chị tỉnh táo lắm. Chị không ưa gì mấy thằng đàn ông bạc tình. Chị sẽ cho hắn ra bã. “Cô yên tâm đi! Tôi sẽ cho hắn vài cú. Tôi hiểu người bị phản bội như thế nào rồi. Những thằng đàn ông như thế thì phải diệt!” Cô người yêu của tay bác sĩ  nhìn chị cười hình như cũng hoảng. Cô ta lùi dần ra cửa rồi biến mất.

Đêm ấy trong bệnh viên tâm thần đột nhiên yên ắng lạ. Có lẽ thời tiết dễ chịu nên ai cũng ngủ ngon giấc. Huyền đang thiu thiu thì một bàn tay lướt trên da thịt chị. Từ lâu chưa có người nào tỏ tình yêu vuốt ve mơn trớn chị như thế. Bàn tay mềm và ấm nóng cọ vào da thịt làm chị thấy rạo rực. Chị nắm lấy bàn tay ấy và bóp nhẹ. Chị thấy như Vọng đang trở về. Hình như cử chỉ rất đàn bà của chị làm người đàn ông lầm tưởng. Anh ta cúi sát xuống người chị, bàn tay mạnh dạn hơn. Huyền thấy mình như bồng bềnh trên sóng. Chị thấy dễ chịu vô cùng. Người chị quằn lên ôm riết lấy người đàn ông. Khi chỉ còn một cái cúc áo chưa kịp cởi thì chị bừng tỉnh. Vọng của chị không như thế. Anh ấy luôn thì thào với chị những lời yêu thương say đắm chứ không câm lặng thế này. Chị mở bừng mắt. Anh chàng bác sĩ vẫn con ngây ngất trong tay chị. Chị rú lên thất thanh và đạp thốc anh ta xuống đất. Không chịu buông tha, anh ta chồm lên. Huyền chợt nhớ tới vẻ hăm doạ của người phụ nữ hôm nào, chị xông vào đấm đá, cắn xé. Vừa trút căm giận chị vừa hét lên:

- Mày là thằng đểu. Mày có người yêu rồi mà còn làm trò bẩn thỉu!

Tiếng kêu la trong đêm tối làm mọi người thức dậy rất nhanh. Mọi người đổ xô tới. Anh chàng bác sĩ đang tả tơi như người vừa chui vào bụi gai. Huyền vẫn điên cuồng lao vào. Hai anh bảo vệ phải khoẻ lắm mới lôi được chị ra. Mấy bệnh nhân cùng phòng chị cười hô hố. Họ chỉ trỏ, có người che mặt xấu hổ. Anh chàng si tình lồm cồm bò dậy. Anh ta đang thanh minh với mọi người. Anh ta bảo lần đầu tiên bị một con điên hành hung. Rằng anh ta chỉ đến khám cho nó mà nó lại lên cơn: "Sợ quá! Sợ quá! Sợ đến chết khiếp!”

*

Hai anh em sống trong ngôi biệt thự rộng thênh thang. Anh Thanh có một phòng vẽ tương đôi rộng ở mé bên trái.  Khi Huyền nghe xong tiếng lanh canh của anh thuyền chài thì chị vào phòng. Chị cứ ngồi câm lặng xem anh làm việc. Anh vừa hoàn thành một bức vẽ và ngắm nó với vẻ rất hài lòng. Chợt thấy em gái đang ngồi im lặng ở góc phòng, anh đến gần, nắm lấy tay chị dắt đến giá vẽ:

- Em thấy đẹp không? Cô gái trong ảnh là em đấy! Đôi mắt này, cái mũi cao này, vầng trán mịn màng này! Trông em như một nàng tiên. Đúng không?

Huyền nhoẻn miệng cười. Chị đưa tay lướt nhẹ lên bức tranh. Anh Thanh vẽ rất nhiều chân dung em gái, tất nhiên là những lúc chị tỉnh táo. Huyền như hút hồn vào bức tranh chị đang ngồi bên cây liễu. Mấy cành liễu phất phơ trước gió. Một bông hoa nhẹ nhàng đậu trên mái tóc chị. Huyền chỉ vào bông hoa:

- Cái này không đúng. Em không thích hoa này. Cả màu xanh của lá liễu nữa, nhạt quá!

- Nhưng đây là cây liễu mới lớn, nó không thể xanh đậm được. Còn bông hoa, nó làm cho em xinh lên rất nhiều.

- Nhưng em không thích thế. Em có bao giờ cài hoa lên đầu đâu!

- Anh biết thế! Nhưng đã là nghệ thuật thì phải khác tả thực một chút. Có lúc nó phải rực rỡ lên, cũng có lúc nó u tối đi. Nó...

Anh Thanh chưa kịp nói hết câu thì mắt Huyền đã loé lên, dại đi. Chị túm lấy bức vẽ, giơ lên rồi quăng vèo xuống sân. Cả bức tranh vỡ xoạc ra từng đoạn. Huyền bắt đầu la hét. Chị gọi con, gọi  tên Vọng, rồi lại xé tung quần áo. Anh Thanh không nói gì. Anh đã nhìn cảnh Huyền lên cơn nhiều lần. Anh nghĩ là Huyền đủ bình tĩnh nghe anh nói. Những lúc tỉnh táo, Huyền rất quý trọng anh, anh bảo gì cô cũng nghe. Nhà chỉ còn hai anh em, anh không ngại ngần việc chăm sóc em gái. Nhiều lần Huyền lên cơn đúng vào chu kì của người phụ nữ. Máu me bê bết ra quần  áo. Anh đã bao lần khóc vì thương chị. Anh gặp Vọng, kể cả việc cầu xin anh ta nghĩ lại. Nhưng một con người như Vọng làm gì có lương tâm. Nghe anh nói mà mặt anh ta cứ rắn đanh lại, mắt đỏ lên vì uống rượu liên tục: “Em bận lắm! Anh thông cảm!” Rồi anh ta đứng lên như muốn đuổi anh. Vừa làm việc anh vừa phải để mắt đến chị nên luôn bị gián đoạn. Có lúc anh đang đắm mình vào bức tranh, sự đồng điệu giữa con người và nghệ thuật đang hoà quyện thì Huyền lên cơn. Anh đành dừng lại chăm sóc, vuốt ve chị. Anh luôn nói chuyện với chị bằng giọng nói dịu dàng khiến vợ anh phải ghen tị: “Ông nói chuyện với em gái mà như nói với người yêu ấy! Tôi chả mấy khi được ông nói những lời âu yếm như thế!” Nhưng em gái anh như một đám mây nhè nhẹ trôi thì làm sao anh có thể gắt gỏng với cô ấy được. Anh chờ cho cơn tức giận của Huyền lắng xuống mới đến bên chị. Anh cúi xuống, vuốt mái tóc rối bời của chị:

- Anh xin lỗi! Lúc nãy mải vẽ anh quên không cho em uống thuốc. Giờ em giơ tay ra anh mặc quần áo cho.

Huyền ngoan ngoãn làm theo sự hướng dẫn của anh trai. Anh đưa cho chị nắm thuốc:

- Em uống đi rồi ngồi yên cho anh vẽ bức khác. Tiếc quá đi mất thôi. Anh vẽ lại thì không thể đẹp như trước được. Hay là bỏ không vẽ nữa?

Huyền đứng dậy nhặt bức tranh rách. Khuôn mặt trong bức tranh bị rách toạc trông nhem nhuốc như mặt người bị nhọ. Huyền cười khanh khách:

- Anh trông này! Mặt em như có sẹo ấy nhỉ? Khiếp quá! Hay là anh dạy em vẽ đi! Vẽ thế này thì có gì khó đâu!

- Thế thì em đứng ra đây. Để anh lấy màu cho.

- Không cần! Em tự làm được.

Thanh không ngờ Huyền lại  nhanh nhẹn đến như vậy. Anh dạy cho chị làm quen với những đồ vật quen thuộc hàng ngày, từ cái chén, lọ hoa đến cái bàn, cái ghế. Anh dạy chị sắp xếp bố cục bức tranh thế nào cho cân đối. Chị đứng bên giá vẽ, ngắm nghía những đồ vật quen thuộc, chọn màu rồi mải mê vẽ. Nét vẽ của một người không tỉnh táo nó thô vụng và ngờ nghệch. Nhưng không hề gì. Huyền thấy thích thú thực sự. Anh Thanh ngắm chị, thấy chị như một nghệ sĩ. Khi Huyền cúi xuống, mấy sợi tóc xoã ra che mất tầm nhìn làm chị phải đưa tay vén lên. Anh Thanh nhắc Huyền vẽ đã lâu, anh bảo chị nghỉ nhưng chị không chịu. Anh phải kéo chị ra khỏi phòng vì bên ngoài trời đã tối mịt. Chị vươn vai khoan khoái, mặt giãn ra. Đôi mắt chị nhìn ra xa mơ màng:

- Em thích vẽ được như anh. Em sẽ có tranh bán. Lúc ấy anh em mình có đầy tiền anh nhỉ!

Thanh cười vì Huyền ngây thơ như một cô bé lên mười. Anh đang ao ước Huyền sẽ khỏi bệnh. Hai anh em lại chuyện trò như ngày xưa. Những biến cố trong gia đình quá sức chịu đựng làm Huyền phát điên. Anh sẽ chữa bệnh cho em gái bằng tình thương yêu của anh trai. Anh sẽ dạy cho chị vẽ, chị chỉ chăm chú vào những bức vẽ để quên đi nỗi cô đơn đang đè nặng trong lòng. Một cơn gió lướt nhẹ làm tóc Huyền bay bay. Anh khoác tay lên vai chị:

- Em gái anh giỏi lắm. Mai anh lại dạy em vẽ tiếp. Em cố gắng lên thế nào cũng có ngày vẽ đẹp hơn cả anh ấy chứ.

Đêm trên mặt hồ lung linh huyền ảo. ánh điện hắt xuống  hồ làm cho mặt nước càng thêm sẫm lại. Huyền lơ đãng nhìn ra xa:

- Sao hôm nay nhiều sao thế anh nhỉ? Không biết thằng Hoàng con Ly bây giờ đang làm gì? Hôm nào anh đưa em đi thăm các cháu nhé!

Anh Thanh giật mình. Anh sợ Huyền lại lên cơn khi nghĩ đến con. Anh muốn chị tạm thời  quên những gì đã làm chị đau đớn. Nhưng tình cảm của người mẹ thì không thể. Anh nhẹ nhàng nắm tay chị:

- Mấy hôm nữa anh sẽ đón các cháu về chơi với em. Em chịu khó uống thuốc cho khỏi bệnh đã. Ngày mai anh sẽ dạy em vẽ cây liễu kia nhé. Em nhìn nó dưới ánh điện kìa! Cành lá nó đu đưa như đang múa ấy nhỉ?

Huyền không để ý đến lời nói của anh. Giọng chị vẫn thoang thoảng:

- Nhiều đêm không ngủ được em cứ nhớ con. Có lần em đã húc đầu vào tường vì tưởng chúng đang ở trước mặt. Em chạy ra bế chúng nó.

- Thôi vào nhà ăn cái gì đã. Anh đói rồi!

- Sao hôm nay anh thuyền chài không đánh cá nhỉ? Hay là anh ta bị ốm? Em thấy nhức đầu quá! Trong người em đang nóng ran lên đây này! ối giời ơi...

Cả người Huyền nhào xuống nước. Anh Thanh chỉ kịp túm lấy cánh tay của chị. Hai anh em vùng vẫy làm nước bắn tung toé. Huyền đưa một tay khua nước một tay cố giãy khỏi anh trai. Trông Huyền mảnh mai thế mà khi lên cơn như được tiếp sức. Cũng may anh Thanh túm được một cành liễu chứ không cả hai anh em bị chuồi ra chỗ sâu rồi. Anh dùng hết sức gọi mà không lại được với tiếng kêu của người đang lên cơn. Tiếng la hét điên dại vang cả mặt hồ. Mấy người hàng xóm nghe tiếng chạy ra. Họ góp sức cùng anh  đưa Huyền vào bờ. Khi vào được đến nhà người chị lả đi, mắt lờ đờ.

Anh Thanh ngồi chết lặng bên cây vạn tuế từ lúc thay xong quần áo cho em gái. Mấy sợi tóc dài loà xoà che kín khuôn mặt hốc hác của anh. Đã nhiều lần anh giơ tay lên trời cầu xin Thượng đế hãy thương xót lấy hai anh em. Anh cảm thấy mình không còn sức lực để mà vẽ, để mà sống nữa. Anh đã nhờ vả bạn bè quá nhiều về vật chất. Tranh vẽ ra nhiều nhưng cũng chỉ nhờ bạn bè kí gửi được một ít. Nỗi cô đơn tuyệt vọng xâm chiếm lấy anh. Phải chi lúc nãy mọi người không chạy ra cứu thì hai anh em đã cùng nhau chết dưới hồ để không còn lo toan, không còn phải đối mặt với những nỗi khổ. Hôm nọ anh đến nhà thờ lớn, Đức cha nói cho anh nghe rất nhiều về đức hi sinh, về tình cảm chan chứa của con người. Linh hồn anh được cứu rỗi, được an ủi rất nhiều. Nhưng bây giờ thì anh không thể chịu được nữa.

Một bàn tay rất nhẹ, rất mát ôm vòng lấy cổ anh. Một cảm giác tê tê trên mái tóc rối. Cái cằm nhỏ xinh xinh của Huyền đang lướt trên mái tóc anh. Thường thường sau khi lên cơn Huyền rất tỉnh táo và dễ thương. Chị se sẽ ngồi xuống cạnh anh trai:

- Em xin lỗi! Hình như lúc nãy em quậy phá lắm thì phải? Em làm khổ anh nhiều quá! Phải chi em chết đi cho anh đỡ khổ. Vì em mà anh mất tất cả, cả gia đình, cả sự nghiệp.

- Em không được nói thế. Em là em gái anh, là một phần máu thịt của anh. Anh thương em nhiều lắm. Rồi em sẽ khỏi bệnh. Em sẽ vẽ được. Em sẽ có tất cả.

Anh đưa tay ra khoác vai Huyền. Hai anh em cứ ngồi im lặng như thế rất lâu, mặc cho đêm sẫm lại. Từ bụi cây bên kia hồ có tiếng chim lợn gào lên những âm thanh ghê rợn.

*

Chiều nay nóng kinh khủng. Trời không một gợn mây. Mọi người ngại ra phố nên con đường trước cửa nhà Huyền không ồn ào như mọi khi. Huyền bồn chồn nhìn ra hồ. Người đánh cá từ sáng tới giờ vẫn không thấy đâu. Chị thèm được nghe tiếng gõ lanh canh biết mấy. Tiếng gõ rộn ràng làm chị thấy dễ chịu. Cả người chị bỏng rát lên. Chị muốn la hét, muốn đập phá bất cứ thứ gì. Từ lâu chị đã phần nào biết được những gì xảy ra trong con người mình. Thấy khó chịu trong người là chị ngừng vẽ, chạy lại chỗ anh trai:

- Anh nhốt em vào trong phòng đi. Em thấy muốn nhảy xuống hồ rồi đấy.

Biết trước được bệnh tình của mình nên hai anh em cũng đỡ được phần nào. Một mình trong phòng, Huyền cào cấu, đạp vào tường thình thịch vì trong phòng chẳng có một thứ đồ đạc nào. Đầu tóc xã xượi, người ngợm lấm lem cũng là lúc cơn điên bắt đầu dịu xuống. Chị ngồi xụp xuống chân tường thở dốc, mắt lờ đờ. Anh Thanh mở cửa phòng dìu chị ra. Mỗi lần như thế, lòng anh quặn lại. Nhưng anh không thể để em gái nhìn thấy mắt mình đang đỏ hoe. Anh vui vẻ chuyện trò và hướng chị vào công việc. Cũng may mà những cơn bốc hoả thưa dần. Chị lại mải mê vẽ. Tranh chị vẽ đã bắt đầu có hồn. Xem tranh của chị, người trong giới đã bắt đầu có những nhìn nhận chân thành. Nét vẽ đầy nữ tính, bay bổng và nhất là chị đem những gam màu từ thiên nhiên vào tranh một cách tự nhiên nên người ta thấy nó chân thực và tràn đầy sức sống mà vẫn lãng mạn. Đã có người đến phòng tranh của hai anh em.

Một người đàn ông ăn mặc xoàng xĩnh đến bên Huyền. Ông đã già, tóc trên đầu gần như bạc trắng. Thấy chị bồn chồn, tay lần từng cái thanh sắt cổng thì tần ngần định quay ra. Huyền phải gọi ông lại:

- Ông ơi! Anh cháu có ở nhà đấy! Ông vào mà xem tranh.

Ông già chậm rãi lách mình qua khe cửa. Ông thấy ngợp trước sự sang trọng của ngôi biệt thự. Ông không dám ngó nghiêng nhiều, cứ đứng như trời trồng bên cây sứ nở hoa đỏ ối. Lúc lâu Huyền chạy vào phòng trong. Ông nghe tiếng la hét của chị vọng ra. Âm thanh ấy làm ông thấy rợn người. Ông định quay ra thì anh Thanh nhìn thấy:

- Kìa ông Đậm! Sao hôm nay ông không đánh cá? Em gái tôi không thấy tiếng dồn cá của ông nên bốc hoả lên kia kìa! Ông có nghe tiếng la hét của nó không?

Ông Đậm bất giác lùi lại. Ông đã tỏ mọi chuyện. Anh họa sĩ thuê ông chỉ vì em gái anh ta muốn nghe tiếng gõ dồn cá của ông thôi sao?

- Thế còn cá của tôi? Tôi vẫn tự hỏi không biết ông làm gì mà ăn cá khiếp thế!

- Tôi ăn cá của ông làm gì? Ai nấu cho mà ăn. Tôi đem thả hết xuống hồ rồi. Có thế ông mới có cá mà đánh chứ.

Mặt ông già nhăn lại. Sự mệt mỏi trong người ông chùng xuống. Đành rằng anh ta trả ông rất hậu hĩnh, đằng nào cũng là một cách kiếm tiền. Nhưng ông không được nghỉ ngày nào. Nếu ông không ra hồ, anh ta đến tận nơi tìm, cho tiền nhiều hơn, thậm chí van nài ông hãy cố gắng. Ông có phải là thằng hề đâu mà đi mua vui cho một con điên? Ông Đậm cố lấy sức đứng lên. Ông nhìn anh Thanh chằm chằm:

- Tôi già rồi. Tôi không thể làm theo yêu cầu của anh được nữa. Anh đi tìm người khác!

Anh Thanh bước nhanh theo chân ông già. Anh nắm tay ông:

- Ông thương anh em cháu với! Cháu không bao giờ quên ông. Em cháu khổ lắm! Nó bị mất chồng mất con nên mới hoá điên hoá dại như thế! Nó sắp khỏi bệnh rồi. Lúc ấy ông nghỉ cũng được.

- Nhưng tôi không còn sức. Tôi ốm mấy ngày nay rồi. Tôi cũng khổ lắm! Không vợ, không con. Nắng cũng như mưa, tôi ở luôn trên thuyền. Chiếc thuyền của tôi cũng rách lắm rồi. Tôi đang định lên bờ. Tôi muốn nương nhờ cửa Phật. Lúc chết tôi muốn được siêu thoát.

Huyền đứng lặng nhìn người đánh cá già. Chị đã đứng sau lưng hai người đàn ông từ nãy. Chị không ngờ người thuyền chài lại già nua đến nhường ấy. Thế mà chị cứ nghĩ đó là một người khỏe mạnh đầy sức sống. Lưng ông già khòng xuống, bàn tay đen đúa nhăn nheo đang mân mê chiếc mũ cói. Ông bước đi chậm chạp. Chị biết ông đang bị tổn thương. Chị đã lợi dụng ông già quá nhiều. Chị muốn chạy lại phía ông, quỳ xuống bên ông tạ lỗi. Anh Thanh đứng như trời trồng. Hình như anh vừa nói nhỏ với ông điều gì đó. Ông bước ra cổng đứng lặng một hồi rồi tần ngần đi thẳng.

Giữa buổi chiều nóng bức hôm ấy mặt hồ xanh mướt đến lạ kì, đám cá nhỏ đang nhẩn nha rong chơi giữa đám rong rêu thì tiếng dồn cá bất chợt vang trên mặt hồ. Cả không gian như sống động hẳn lên. Mấy nhà gần hồ ngó nghiêng ra cửa. Hình như họ cũng thấy lạ lẫm cho một người nào đó dám bất chấp ánh nắng chói chang để phơi mặt ra ngoài. Chỉ có hai người đang lặng lẽ khóc. Họ biết đây là những âm thanh cuối cùng họ có được. Huyền chạy lại chỗ anh Thanh. Chị nói gần như quát với anh trai:

- Anh bảo ông ấy đừng gõ nữa. Em thấy nhức đầu lắm!

- Nhưng ông ấy chỉ gõ lần này nữa thôi mà. Ông ấy muốn chia tay với chiếc thuyền nan đã gắn bó với ông ấy bao lâu nay. Ông ấy muốn từ biệt anh em mình.

- Nhưng em không muốn nghe một tí nào nữa. Anh ra gặp ông ấy, mời ông ấy về nhà. Em muốn nói với ông ấy vài lời.

Khi anh Thanh đi về phía bên kia hồ để tìm ông già thì ông đã đi đâu. Chiếc thuyền nhỏ như cái bồn tắm trong nhà anh đang quay quay theo gió. Hai thanh tre dồn cá đã mòn vẹt và đen bóng. Chiếc mũ cói vẫn nằm ở trong thuyền. Anh ngó nghiêng khắp nơi nhưng không thể tìm thấy ông. Ngày mai anh sẽ cùng Huyền đi tìm ông.

Ngày hôm sau dân quanh hồ bàn tán về một ông già chết ở hiên chùa Đông. Ông nằm chết trên một cái chiếu hoa mới tinh, trên người đắp chiếc chăn dạ Trung Quốc còn mới. Khi nhà chùa khiêng ông vào quan tài thì thấy ở dưới lưng ông có bọc tiền. Một tờ giấy mỏng viết những dòng chữ nguệch ngoạc. Ông nhờ nhà chùa làm phúc lo ma chay cho ông và thắp cho ông mấy nén hương để hồn ông khỏi bơ vơ nơi chín suối.

Ở chùa Đông có một người phụ nữ ăn mặc sang trọng nhưng nét mặt đượm buồn ngày nào cũng đứng rất lâu trước bát hương không di ảnh, không tên tuổi. Đó là bát hương của ông già đánh cá. Người phụ nữ đó là Huyền.

DƯƠNG THỊ NHỤN

Nước mắt cỏ - tập thơ thứ 3 của Vũ Hiển

2011-06-03 @ 00:00 in Tác phẩm và dư luận

Nước mắt cỏ - tập thơ thứ 3 của Vũ Hiển

altNhà xuất bản Văn Học vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ Nước mắt cỏ của Vũ Hiển - một trong những hội viên cao tuổi của Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng. Qua 40 bài trong tập thơ này, Vũ Hiển muốn trải lòng mình cùng cảm xúc và bao trăn trở về tình người, tình đời, trên những câu chữ tưởng như sơ giản mà lại ẩn chứa nhiều ngữ nghĩa đa diện, đa thanh.

Ngay những bài thơ xếp đầu tập như: Sen, Bàn tay và nòng súng, Lê-nin, tác giả cũng không thiên về ngợi ca các lãnh tụ, mà thông qua cảm quan riêng để tạo những góc nhìn độc đáo của thơ mình. Vũ Hiển có thế mạnh về thơ thế sự. Ông chịu khó thâm nhập thực tế đời thường, quảng giao thân thiện, cố gắng cập nhật thông tin thời sự qua nhiều nguồn thông tin, luôn gắn mình vào cuộc sống sôi động trên khắp hành tinh, chứ không bó buộc tâm trạng theo kiểu tức cảnh sinh tình hoặc ứng tác thù tạc mà không ít người cao tuổi đang dùng thơ như một thú vui tiêu khiển. Một nhà văn bị kết án treo cổ ở Ni-giê-ri-a, một câu chuyện tình ở Sa-ra-je-vô,… ùa vào thơ Vũ Hiển mang theo thông điệp của trái tim yêu thương, chia sẻ và đồng cảm.

Tập thơ Nước mắt cỏ là tập thơ thứ 3 của Vũ Hiển, với những bài thơ được sáng tác trong vòng 15 năm qua. Ở cái tuổi ngoài bảy mươi xuân, Vũ Hiển vẫn chẳng chịu thua kém gì với những tác giả trẻ. Ông sung sức sáng tác thơ và làm bạn với nhiều trang thông tin điện tử về văn học có uy tín trong cả nước. Những bài thơ tình của Vũ Hiển cũng ít nhiều tạo được ấn tượng trong lòng bạn đọc. Đề tài tình yêu được tác giả lồng ghép trong những đề tài thế sự. Những miền đất ông qua chỉ là cái cớ để từ đó viết thành thơ thế sự mà chan chứa yêu thương, như trong các bài thơ: Viết bên dòng Châu Giang, Người lau nước mắt cho cỏ, Cô gái phơi rơm trên sân nhà Trạng, Hang Luồn,... Tác giả rất chú ý khai thác những góc cạnh thô nháp ở đời mà từ đó đưa những con chữ gọi mời cảm xúc người đọc thơ. Có khi chỉ là một cuộc trò chuyện với sợi tóc bạc, rạo rực mùa hè sang, có khi lang thang trên phố Trạng Trình hay ngồi uống rượu trong quán nhỏ chợ Cấm,… tất thảy cứ giúp ông bộc bạch tâm sự về thói đời, bày tỏ những yêu ghét khảng khái.

Tập thơ Nước mắt cỏ đủ chứng minh bút lực cồn phong độ của Vũ Hiển. Dường như càng về cuối tập, càng có điều kiện tiếp cận đến những bài thơ hay của Vũ Hiển, nhất là những bài thơ: Người đàn bà và 12 con chó, Người đàn bà tắm, Người đàn bà làm thơ, Người đàn bà ngoại tình, Cái chết của con kiến gió, Trò chuyện cùng viên đá cuội,… Tác giả vững tay với thể thơ cách luật và thơ tự do, nhưng lại mạnh dạn tìm đến thể thơ văn xuôi mà cũng đã cho thấy vẻ đẹp của loại thể thơ thiên về ý tưởng.

Trong thời buổi thơ được in ra khá tràn lan, nhưng có một cuốn thơ như tập Nước mắt cỏ của Vũ Hiển thì thật mừng và tin rằng thơ vẫn là cái đẹp và cao cả mà mỗi tâm hồn chúng ta hôm nay đang hướng đến.

HOÀI KHÁNH

Người đàn bà mang thai

2011-05-28 @ 00:13 in Truyện ngắn

Người đàn bà mang thai

- Cô N. đã mang thai rồi. Mẹ ơi! Mang cái gì cũng không tốt trừ mang thai phải không? Điều càng tồi tệ là, không biết cô ả mang thai với ai cơ!

Cô N. chu cái môi mỏng đỏ mọng, hai tay đỡ má đỏ hây hây, soi vào gương, vừa tận hưởng vừa kinh hãi, vừa phán đoán xem ăn nằm với người đàn ông nào mới có khả năng này.

Thị trưởng Ngưu, Trưởng ban Mã, Cục trưởng Chu, Đội trưởng Tuần, Tổng giám đốc Dương… Những con dê cụ ấy đều có khả năng.

Cô N. nhíu lông mày, trong đầu bỗng lóe lên câu hỏi: Đàn bà xinh đẹp là phúc hay họa?

Thậm chí cô hồi tưởng lại, trong cái văn phòng khách sạn mà cô kinh doanh, những người đàn ông này đã chơi đùa vui thú với cô như thế nào.

“Oa! Oa!” Đứa con gái chưa đầy tuổi tôi khóc réo làm đứt quãng dòng hồi ức của cô.

Người giúp việc câm trẻ tuổi vội vàng ấn bình sữa vào miệng đứa bé, chặn đứng tiếng khóc lại.

- Bọn đàn ông đều không tốt đẹp gì, đi tìm bọn chúng đi!- Cô N. đứng phắt dậy, lẩm bẩm một mình.

Cô gỡ cái cặp tóc con bướm, lau sạch son môi, tẩy rửa phấn son trên mặt, làm cho thân hình tiều tụy, thay vào một cái áo khoác vừa dày vừa rộng, gọi điện thoại kêu chị gái đến. Trước khi đi còn nhét vào tay chị một cái cặp công văn lớn thật chắc chắn.

Những bông tuyết ngoài trời rơi càng mau, trên mặt phố đã đọng đầy tuyết trắng. Cô N. gọi một chiếc xe taxi cao cấp, chạy đến tòa thị chính.

Cửa phòng của Thị trưởng Ngưu đóng chặt, cô N. gõ hai cái thật to.

- Ai đấy?- Một tiếng nói khàn khàn vọng ra, rồi cánh cửa mở rộng.

Cô nàng mấp máy môi, ra hiệu bảo chị gái đứng ở ngoài cửa chờ, sau đó bước thẳng vào phòng.

- Ôi! Cục trưởng!

- Đưa hàng đến ư? - Thị trưởng Ngưu trên năm mươi tuổi đóng cửa lại, hai con mắt hau háu sáng lên, ông ôm ghì cô N. vào lòng.

Cô N. lấy hết sức đẩy ông ta ra xa:

- Anh còn ham hố như vậy sao, người ta đã mang thai đấy!... Em sắp sinh con cho anh đây!

- Sao? Cô nói gì ?! - Trán thị trưởng Ngưu lập tức vã mồ hôi hột, im lặng mãi không nói được lời nào.

Ông ta châm một điếu thuốc, đi đi lại lại trong phòng mấy vòng, rồi rút ngăn kéo ra lấy một xấp tiền, không thèm đếm, nhét vào trong bụng cô N.:

- Đi, mau mau nạo đi! Đừng có sinh đẻ làm gì đấy! - Giọng khàn khàn của Thị trưởng pha chút run rẩy.

Cô N. giắt tiền vào trong bụng, tỉnh bơ nói:

- Số tiền này em cầm tạm trước, nếu không đủ em lại đến tìm anh đấy!

- Vâng! Vâng! - Thị trưởng Ngưu gật đầu lia lịa, y hệt một tân binh vừa nhập ngũ đứng trước mặt tướng quân đã dày dạn chiến trường.

Cô N. nhét tiền vào trong cặp công văn, tiếp tục đến phòng làm việc của Trưởng ban Mã.

Trưởng ban Mã ngoài bốn mươi tuổi vội đón cô vào phòng, dậm chân dậm cẳng trách:

- Không gọi điện thoại trước lại vào ngay đây, tùy tiện, quá tùy tiện!

- Thật là một con quỷ hiếu sắc! - Cô N. vốn không ưa ông ta:- Chẳng rõ là đàn ông trên đời này chết tiệt cả rồi hay sao, mà tôi lại tìm đến anh? Nói cho anh biết, tôi đã mang thai rồi! Mà… tôi định đẻ cho anh một đứa đấy!

Cô N. quắc mắt nhìn anh ta.

Trưởng ban Mã chẳng nói chẳng rằng, nghĩ ngợi một lát, rút từ ngăn kéo ta một xấp tiền, ném lên mặt bàn, nói:

- Cầm lấy! Đi xử lý cái nợ trong bụng đi!... Không hiểu tại sao tôi lại quen cô chứ!

Cô N. cầm lấy tiền, đút vào trong bụng, mặt lạnh tanh dí tay vào mũi anh ta:

- Anh thật xui xẻo!

Nói xong, cô ả ưỡn ngực ra khỏi phòng làm việc của Trưởng ban Mã.

Cô N. lại dùng cách thức như thế, tìm đến chỗ Cục trưởng Chu, Đội trưởng Tuần… Trừ Tổng giám đốc Dương không có nhà nên mới lọt lưới, những người khác đều ngoan ngoãn moi tiền ra.

Cặp công văn của cô ta đã căng phồng tiền, chạng vạng tối hai chị em quay trở về nhà.

Cô N. nhoẻn miệng cười, vừa đếm tiền vừa tính toán sử dụng món tiền này: Đầu tiên sửa sang nâng cấp ngôi nhà, mua một chiếc xe cao cấp, sau đó đi Quế Lâm du ngoạn sơn thủy, số tiền còn lại sẽ gửi vào ngân hàng…

- Em ơi! Lúc nào em đi viện, báo cho chị một tiếng nhé!- Từ nãy đến giờ không nói gì, bà chị bỗng nói, giọng ồm ồm như tiếng đàn ông.

- Hô hô! Ha ha! - Cô N. cười ra nước mắt: - Sao chị ngố thế, em có mang thai đâu mà!

Cười rũ rượi đến mệt lử, cô N. cởi chiếc áo khoác rộng, gỡ miếng đệm bông quấn bụng ra, rồi vào phòng vệ sinh, lại chăm chú trang điểm kỹ lưỡng cho mình… 

CAO KHOAN (Trung Quốc)

VŨ PHONG TẠO dịch

Cuộc trở về tâm không trong tập Bầu trời không mái che của nhà thơ Mai Văn Phấn

2011-05-21 @ 13:52 in Tác phẩm và dư luận

Cuộc trở về tâm không trong tập Bầu trời không mái che của nhà thơ Mai Văn Phấn

altCó lẽ nhà thơ Mai Văn Phấn trong ý thức của mình không cố ý tự định ra những thách thức thi ca và thách thức ngay cả với chính mình. Cùng với tập thơ mới ra đời vào cuối năm 2010, Mai Văn Phấn đã liên tiếp ra trước công chúng và giới văn chương ba chiêu thức mới trong cùng một năm. Trước đó, hai chiêu thức tung ra vào giữa năm là hai tập thơ “Và đột nhiên gió thổi”, và “Hôm sau ”. Có người còn dụi mắt chưa kịp nhận diện đó là gì, thì nay lại xuất hiện “Bầu trời không mái che”  – một cuộc hoàn nguyên để tái sinh thật ngoạn mục, một cuộc lộn trở về với bản thể người trong bản thể của vũ trụ:

Anh nhào lộn giữa gió và nước
tôm cá và mặt trời
rong rêu và mây trắng
ký ức và mộng tưởng
(…)
Bên em hành lễ mặt trời
Ngọn thác, bờ sông lớn
Bóng anh trong tiếng nước chảy

(Hình đám cỏ - nhịp VIII)

Vũ trụ choàng áo đen lên con
Chỉ hở đôi mắt cầu nguyện
(…)
Co quắp con ngủ trong gió lạnh
Mơ thành bào thai
Cuống nhau nối mặt trời
(…)
Từng chồi chân tay bé xíu
Bật nhẹ trong cơ thể người
Con tỉnh giấc
(…)
Giọng nói rất gần
Dưới bình minh con hãy lột xác!
 
Hoa quả
Lửa đèn
Âm dương chén nước
 
Như trườn qua cơn chạng vạng
Rút dần cơ thể khỏi lớp vỏ bọc
Con hớp những giọt sương

(Cửa Mẫu)

Ta nhận thấy một cảm giác mạnh trong cuộc trở về, theo như các giai đoạn Luận vãng sinh (tử thư Tây Tạng) thì cuộc trở về này của nhà thơ Mai Văn Phấn nằm ở giai đoạn Sipa-Brado và tiếp sau Sipa-Brado:

Chân trời càng gần
Bóng tối càng trôi khủng khiếp
Nhanh hơn cảm xúc
(…)
Họ đã dừng lại dưới mưa
Bất ngờ phóng thích con
Gần chân sóng
Con biết ơn trận mưa
Sóng to và gió mát

(Cửa Mẫu)

Đó phải chăng là những ảo giác hiện ra từ cuộc tái sinh. Nơi dưới bình minh con lột xác, chân trời càng gần, bóng tối càng trôi khủng khiếp nhanh hơn cả cảm xúc. Hoa quả, lửa đèn, âm dương chén nước, trườn qua cơn chạng vạng, rồi rút dần cơ thể khỏi lớp vỏ bọc, và một cơ thể sống mới bắt đầu hứng những giọt sương đầu tiên. Trong niềm hoan ca của cuộc phóng thích dưới mưa gần chân sóng, trong niềm vui của một đời sống mới lại bắt đầu nhào lộn giữa gió và nước, tôm cá và mặt trời, rong rêu và mây trắng, ký ức và mộng tưởng. Đó phải chăng là cuộc trở về dạng thể nguyên nguyên của một cuộc tái sinh vùng dậy kiếm tìm tự do. Như vậy, theo như một triết gia đã từng đặt câu hỏi, phải chăng cuộc đời con người là một phương tiện có thể đạt đến cõi toàn giác và những mức độ cao nhất của tinh thần được chiếu dọi trong luồng ánh sáng của tính không, trong cái đời sống như những làn nước mang con người gần đích giải thoát. Vâng, con người cũng như mọi sự sống trên bề mặt trái đất và trong vũ trụ đều bắt đầu từ nước - khởi thủy là sự sống bắt đầu được sinh ra và qua triệu triệu năm sự sống luôn trong quá trình vận động tiến diễn và hoàn tất của mọi cơ thể sống trên mặt đất.

Trước ân huệ của cuộc sinh thành trong cơn mơ trở về và tái sinh thật kỳ vĩ, nhả thơ nhận thấy vũ trụ choàng áo đen lên con, chỉ hở đôi mắt cầu nguyện, co quắp ngủ trong giá lạnh, mơ thành bào thai với cuống nhau nối với mặt trời, trong một cảm nhận từ một sự sống đang dần dần hiện hữu với từng chồi chân tay bé xíu bật nhẹ trong cơ thể người.

Có lẽ vì vậy mà nhà thơ đã hân hoan trong niềm hoan ca của ngày sinh lại, của một cảm xúc tự do giữa một thiên nhiên rộng lớn mang biểu tượng của đời sống mới, một đời sống đã được tái sinh và hoàn tất “Bên em hành lễ mặt trời/…/ anh nhào lộn giữa gió và nước/…/ Ngọn thác, bờ sông lớn/ Bóng anh trong tiếng nước chảy”.

Trong tập thơ mới “Bầu trời không mái che” là sự dâng đặt cái hứng khởi trở về cuộc tái sinh đầu tiên của sự sống. Một cuộc tái sinh được nhà thơ thể nhập trong cảm nhận trực giác của cái toàn thể và cái nhất thể, một cái cá thể không phân chia, không tách rời. Đó có lẽ là cuộc giải phóng và từ quy của nhà thơ.

Cái ánh sáng của cuộc trở về cái nhất thể trong cái toàn thể bằng vào giấc mơ tái sinh đã tỏa lan vào cái nhìn của nhà thơ trong toàn bộ các bài thơ tro