Phu nhân của Chủ tịch Lê Quang
Đạo - từ cô nũ sinh đến nhân vật tiểu thuyết
Nhà văn Nguyệt
Tú không chỉ được biết đến với tư cách là nhà văn, tác giả nhiều truyện ký gây
xúc động, mà còn là ái nữ của nhà danh họa Nguyễn Phan Chánh và phu nhân của
Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo. Hai ông bà biết nhau từ năm 1946, khi ấy ông là
Bí thư Thành ủy Hà Nội, còn bà là một thiếu nữ yêu nước được quê hương Hà Tĩnh
gửi ra học tập và tham gia công tác cách mạng ở Thủ đô. Buổi sáng, bà học văn
hóa ở trường Phan Chu Trinh, một trường có khuynh hướng tiến bộ, buổi chiều và
tối, đến giúp việc cho cơ quan Thành ủy đóng tại trụ sở của Tự vệ chiến đấu, ở
103 phố Gambetta (nay là phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Lần đầu gặp ông, một người
có vẻ ngoài trẻ trung nho nhã và nhất là có ánh mắt rất hiền sau cặp kính
trắng, bà không thể ngờ đấy là ông Bí thư Thành ủy, người đứng đầu tổ chức đảng
của cả một thành phố lớn như Hà Nội, đang nắm giữ trọng trách tổ chức cho Thủ đô
chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bà còn nhớ hôm
17-12-1946, theo hẹn, bà đến Thành ủy nhận công tác mới, một nhiệm vụ đặc biệt
mà bà hình dung là sẽ phải "nằm gai nếm mật". Bấy giờ tình hình đã
căng thẳng lắm rồi, quân Pháp không ngừng gây hấn, khiêu khích ta. Bà đến từ
sáng sớm, sợ lỡ hẹn, nhưng đợi mãi đến hai giờ chiều mới thấy ông ở phòng họp
đi ra. Ông không thanh minh giải thích gì về việc để bà phải chờ lâu, mà còn
bảo: "Chị ngồi chờ cho một lát". Ra là nhiệm vụ đoàn thể định giao
cho bà là công tác cơ yếu, cần người tuyệt đối trung thành mà lại phải có trình
độ văn hóa (bậc Thành chung). Ông sẽ trực tiếp đưa bà sang cơ quan cơ yếu của
Thành ủy, nhưng ô tô bị hỏng, chữa mãi không được. Không kìm được sốt ruột, ông
hỏi anh bảo vệ: "Xe sửa xong chưa?" - "Thưa anh, độ nửa tiếng
nữa", anh bảo vệ đáp. Những tưởng ông sẽ tức điên lên, nhưng chỉ nói hài
hước: "Thế mà cũng đánh Tây được đấy", và cười giòn tan. Thái độ bình
tĩnh của ông khiến bà quên đi nỗi bực mình, không những thế, càng thêm cảm mến
người cán bộ lãnh đạo. Thế rồi qua công tác, hai người có dịp tìm hiểu nhau.
Tháng 9 năm 1948, quân Pháp nhảy dù xuống Vân Đình đúng lúc bà đi công tác qua,
suýt chút nữa thì bị bắt. Thoát khỏi vòng vây, bà tình cờ gặp ông cùng cơ quan
Thành ủy sơ tán về vùng Hà Đông. Gặp nhau mừng mừng tủi tủi, ông lại một lần
nữa đặt vấn đề với bà và lần này thì bà đã nhận lời cầu hôn của ông... Từ đó
hai ông bà nên vợ nên chồng, bà trở thành phu nhân của tướng Lê Quang Đạo, rồi
phu nhân của Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo... Sáu
mươi năm sau lần đầu gặp ông, nhớ về người chồng đã khuất bóng, bà kể lại mối
tình của hai ông bà trong bài hồi ký cảm động "Chủ tịch Quốc hội Lê Quang
Đạo và tôi", in trong cuốn Chuyện tình của các chính khách
của Nhà xuất bản Phụ nữ do chính bà biên soạn...
Cũng những năm
đầu kháng chiến, cha tôi hay có dịp gặp bà Nguyệt Tú. Cha tôi là nhà văn Nguyễn
Huy Tưởng, một người lãnh đạo công tác văn nghệ. Công việc khiến cha tôi hay có
dịp làm việc với các cấp chính quyền, các cơ quan, đoàn thể... không chỉ riêng
trong lĩnh vực văn nghệ. Chỉ trong ít ngày cuối tháng 10 đầu tháng 11-1947,
không lâu sau khi mở màn trận Việt Bắc, có tới dăm ba lần cha tôi nói đến
Nguyệt Tú trong nhật ký, khi thì qua câu chuyện với các bạn văn về mấy người
cán bộ phụ nữ, khi thì sau những lần gặp trực tiếp, trong khung cảnh thân tình.
Nhật ký ngày 25-10-1947
của ông ghi: "Mua vịt, mời Nguyệt Tú về, cùng làm cơm với Lành, Tô, vợ
Lành. Đêm trăng đưa họ về" (Lành là Tố Hữu, Tô là Tô Hoài). Hai mươi ngày
sau, ông lại ghi: "Tiễn Tuyết Minh về Nhã Nam.
Gặp Thanh Thủy, Nguyệt Tú. Có cả bộ Tham mưu của Liên hiệp phụ nữ. Toàn tụi tí
nhau, thế mà đều là những lãnh đạo phong trào..." (Bấy giờ cha tôi 35
tuổi, Nguyệt Tú 21 tuổi, nếu ông có dùng chữ "tí nhau" thì cũng là
theo lối nói thân mật của một bậc đàn anh, trong đó có cả sự cảm phục trước
những người đầu xanh tuổi trẻ mà đã lãnh đạo phong trào!) Nhưng theo tôi, ngoài
lý do là chỗ "cán bộ" với nhau, cha tôi gặp Nguyệt Tú còn vì một việc
khác. Lúc bấy giờ, ông đang soạn vở kịch Những người ở lại, tái
hiện cuộc kháng chiến của quân dân Thủ đô qua những nhân vật là học sinh, trí
thức Hà Nội. Nguyệt Tú, như trên đã nói, là một học sinh Hà Nội, lại từng trực
tiếp tham gia cuộc chiến đấu. Chắc chắn cha tôi đã tranh thủ hỏi bà rất nhiều
điều qua những lần gặp gỡ ấy.
Với phu quân bà
Nguyệt Tú, ông Lê Quang Đạo, cha tôi cũng từng có sự gắn bó qua công việc. Hồi
ông tham gia nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật, ông Lê Quang Đạo là Bí thư Thành ủy
Hà Nội (khi ấy gọi là Bí thư ban cán sự), trực tiếp phụ trách hoạt động của Văn
hóa cứu quốc thông qua đầu mối là tổ ba người của Vũ Quốc Uy, Như Phong, Tô
Hoài. Trong những cuộc hội nghị mở rộng, có đông anh em, chắc chắn cha tôi đã
có dịp được làm việc với đồng chí Bí thư. Tình cảm của anh em văn hóa, trong đó
có cha tôi, đối với đồng chí Bí thư đã được nhà văn Tô Hoài gói gọn trong mấy
chữ đầy trìu mến: "Ông Đốc lý Đỏ"... Cách mạng, rồi kháng chiến, rồi
hòa bình trở lại, cha tôi sẽ còn có nhiều dịp gặp gỡ, làm việc với ông Lê Quang
Đạo qua những công việc có liên quan về văn hóa - tư tưởng...
Năm 1956, cha
tôi bắt tay viết tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô. Cuốn tiểu
thuyết cùng đề tài với vở kịch Những người ở lại ngày nào - tái
hiện cuộc kháng chiến của Thủ đô - lại khiến ông bắt lần sang những người trong
cuộc - những người từng trực tiếp tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô, trong
đó có lớp người trí thức - tiểu tư sản. Ngẫu nhiên nào đã khiến tôi, gần đây
nhất, tìm ra những trang ghi chép của cha tôi về bà Nguyệt Tú!
Trong cuốn sổ
công tác của ông bắt đầu từ cuối năm 1955 đến đầu năm 1957, ông dành một số
trang ở mặt sau để ghi tư liệu cho cuốn tiểu thuyết đang soạn, trong đó có 8
trang ghi lời kể của Nguyệt Tú. Bà kể với ông (hay ông hỏi để bà kể thì cũng
thế) về đủ chuyện, từ những nét chung trong cuộc sống của bà từ khi ở Hà Tĩnh
ra học trường Phan Chu Trinh, rồi tham gia công tác, rồi gặp ông Lê Quang
Đạo... cho đến những kỷ niệm hồi còn đang học, Bác Hồ đến thăm trường, Người
dừng lại đọc tờ bích báo trên ấy có bài của bà, hay ký ức về tiếng rao của
những hàng quà trước cổng trường, hình ảnh cây bàng trước phòng ông giám đốc
thả lá rơi trên sân, thậm chí là cả lời tâm sự của hai cô bạn học về cảm tình
mới chớm với một cậu bạn trai nào... Tóm lại, có quá nhiều điều thú vị mà cô
cựu học trò đã kể lại và nhà tiểu thuyết đã chớp lấy trong ghi chép của mình.
Vấn đề là ở chỗ, liệu cha tôi đã sử dụng những tư liệu ấy trong tác phẩm của
mình ra sao?
Câu hỏi này lại
dẫn tôi đến một bất ngờ khác. Hóa ra, cha tôi đã đưa rất nhiều chi tiết trong
lời kể của Nguyệt Tú vào tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô, không phải một
mà nhiều trang, không chỉ một chương mà nhiều chương, trong đó tập trung nhất ở
các chương 2 và 17, qua một nguyên mẫu là Quyên, cô nữ sinh trường Phan Chu
Trinh. Chương 2 kể về một số học sinh trở lại thăm trường và họ đã tình cờ gặp
nhau ở đấy, chỉ hai ngày trước Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Chương 17 dành
một phần lớn số trang kể về chuyến xe đưa Quyên đi nhận nhiệm vụ mới, sau trọn
một đêm đông lạnh đứng đợi người cán bộ cấp trên đã hẹn gặp để giao nhiệm vụ
cho mình. Tình tiết có thể khác - như Quyên người Hà Nội gốc, trong khi nguyên
mẫu người Hà Tĩnh, Quyên phải đợi trong đêm, trong khi nguyên mẫu đợi từ sáng
đến hai giờ chiều... - nhưng về đại thể, cha tôi đã khai thác tối đa lời kể của
Nguyệt Tú cho tác phẩm của mình. Thậm chí đến cả ngoại hình của nguyên mẫu cũng
được giữ nguyên: Nguyệt Tú, trong ký ức của chính ông Lê Quang Đạo như bà đã
ghi lại về lần đầu gặp gỡ, là một cô cán bộ phụ vận "trẻ măng và tròn như
một hạt mít", còn trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô,
"Quyên mũm mĩm, không đẹp, nhưng tươi vì cái miệng nhỏ có duyên" (cha
tôi có ghi trong sổ tay Nguyệt Tú có hai lúm đồng tiền, lúc nào cũng như ngậm
kẹo). Hay một lời nói gây ấn tượng cũng được dẫn gần như nguyên văn. Bạn đọc
hẳn còn nhớ câu nói của đồng chí Bí thư trong hồi ký của Nguyệt Tú, khi xe chữa
mãi không xong: "Thế mà cũng đánh Tây được đấy". Trong ghi chép của
cha tôi, câu ấy, trong ngữ cảnh gấp gáp ấy là: "Mình đánh nhau mà thế này
cũng buồn cười, đánh cái chó gì". Còn trong tiểu thuyết, ông để nó phát ra
từ miệng một cán bộ chỉ huy quân đội có phong cách hơi "lính tẩy" một
chút: "Đánh nhau đến nơi mà xe cộ thế này thì đánh cái chó gì"...
Đặc biệt nhất,
cha tôi dành sự chăm chút cho đoạn hồi ức của người kể về lần Bác Hồ đến thăm
trường. Trong ghi chép của cha tôi về sự việc ấy có hai câu ở hai chỗ khác
nhau: Lần đầu ông ghi, "Bác đến thăm một lần, đọc bích báo. Giờ ăn cơm,
vẫn ngồi viết", và lần sau, "Tiếc không được gặp Bác. Không ăn cơm.
Nghe nói Bác khen báo, chắc Bác xem bài mình". Có thể hình dung, khi ghi
câu đầu xong, cha tôi nhận thấy đây là một chi tiết cần đặc biệt lưu tâm. Sau
đó ông đã hỏi lại cho kỹ và ghi thêm câu sau. Trong tiểu thuyết Sống mãi
với Thủ đô, toàn bộ đoạn văn được phát triển thành: "Quyên và Loan
có khuynh hướng văn chương, là biên tập viên chính của tờ báo. (Nguyệt Tú sau
cũng làm báo Phụ nữ Việt Nam
- NHTh.) Tưởng như mới hôm qua, hình ảnh những ngày say sưa làm báo, những anh
chị em tấp nập gửi bài cho tòa soạn, những phút chờ đợi tờ báo treo lên. Và cái
vui Hồ Chủ tịch đến thăm trường. Cụ đứng đọc tờ báo rất lâu. Sáng hôm ấy, Quyên
vắng mặt, buổi chiều đi học mới biết. Tối về, Quyên khóc không ăn cơm, đêm trằn
trọc không ngủ".
Đã hơn nửa thế
kỷ kể từ ngày cha tôi gặp bà Nguyệt Tú để hỏi chuyện cho tiểu thuyết Sống
mãi với Thủ đô. Cũng đã gần nửa thế kỷ kể từ ngày cha tôi qua đời,
trước khi cuốn sách được in ra. Ông đã không được chứng kiến tác phẩm của mình
ra đời. Ông cũng không được chứng sống để viết tặng người kể một cuốn làm kỷ
niệm. Không biết bà Nguyệt Tú có biết chuyện này không, rằng bà, hay nói đúng
hơn, những trải nghiệm của bà đã hiện diện trong tác phẩm của cha tôi - điều mà
như tôi giờ mới được biết. Liên tưởng đưa tôi đến với chương trình truyền hình
"Như chưa từng có cuộc chia li". Chương trình đã kết nối được biết
bao người biệt li tái hội trong sự gặp lại đầy cảm động. Vẫn biết mọi sự so
sánh đều khập khiễng, nhưng sự thật là tôi, trong quá trình tìm lại nguyên mẫu
của cha mình và nhân vật của ông trong tiểu thuyết Sống mãi với Thủ đô,
cũng đã có cảm giác bàng hoàng y như thế....
Nhà thơ Hồ Anh Tuấn: "Tôi
sáng tác thơ, nhưng lại nhiều kỉ niệm liên quan đến tập truyện đồng thoại"
Gặp lại nhà thơ
Hồ Anh Tuấn dịp này, tôi chợt nhớ đến tập truyện đồng thoại của ông do NXB Kim
Đồng phát hành cách đây vài năm có tên Chàng dũng sĩ dưới đáy biển.
Tập truyện viết về những chiến sĩ phá thủy lôi do máy bay B52 của Mỹ thả xuống
cửa biển Hải Phòng. Ngày đó, ông tặng tòa soạn Báo Hải Phòng vài cuốn. Và tôi
cũng chính là người giới thiệu tập sách ấy. Nói đến Chàng dũng sĩ dưới
đáy biển, Hồ Anh Tuấn "à" lên một tiếng rồi dồn dập nhắc lại
những kỉ niệm về tập truyện đồng thoại duy nhất mà ông từng sáng tác cho đến
nay.
-Hồ Anh Tuấn:
Tôi là nhà thơ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
sinh hoạt trong mảng thơ, cũng đã phát hành nhiều tập thơ. Nhưng "Chàng
dũng sĩ dưới đáy biển" lại là tập truyện đồng thoại duy nhất để lại trong
tôi nhiều kỉ niệm.
-Thùy Linh:Kỉ niệm đó là...
-Hồ Anh Tuấn:
Tôi trở thành kẻ "nợ nần" với bạn bè cũng chính vì tập sách này.
-Thùy Linh:Phải chăng có liên quan đến kinh phí in ấn?
-Hồ Anh Tuấn:
Không phải là vấn đề tiền. Chỉ là anh em quý nhau thôi. Sau bài giới thiệu trên
Báo Hải Phòng, nhiều bạn bè của tôi của tôi biết tôi có xuất bản tập
truyện này đến Hội Liên hiệp hỏi. Gặp một vài người, chào nhau, mắng nhau. Sách
có bao nhiêu cũng dần dần tặng hết. Đến khi không còn sách, anh em có hỏi đành
phải trốn. Nói dối là đi vắng. Hoặc nếu gặp cũng lại lảng tránh đi việc khác.
Nhiều người bảo tôi thay đổi, rồi có người lại trách rằng không nhớ đến bạn bè.
Đâm ra có tội...
-Thùy Linh:Hóa ra, phóng viên Báo Hải Phòng cũng mắc tội nhỉ?
-Hồ Anh Tuấn(cười to): Không phải.... Tôi chỉ tiếc mình không có nhiều sách để tặng
anh em bạn bè. Nhà xuất bản Kim Đồng in 3000 cuốn phát hành đi khắp nơi. Mình
có giữ cũng chỉ một ít. Mọi người hỏi là mọi người quan tâm đến sáng tác của
mình, nhớ đến mình. Hạnh phúc và tự hào lắm phóng viên ạ.
-Thùy Linh:Nhà thơ nói có nhiều kỉ niệm với tập truyện này, đó mới chỉ là một?
-Hồ Anh Tuấn:
Kỉ niệm thứ hai cũng với "Chàng dũng sĩ dưới đáy biển" là ở một nhà
sách của thành phố Vũng Tàu. Năm 2006, tôi cùng một số anh em văn nghệ sĩ Hải
Phòng tham gia trại sáng tác tại đây. Tranh thủ thời gian, tôi rủ nghệ sĩ nhiếp
ảnh Lê Bội ra hiệu sách Vũng Tàu thăm quan. Bất ngờ, tôi thấy trên giá có bày
chừng chục cuốn "Chàng dũng sĩ dưới đáy biển". Tôi reo lên như bắt
được vàng. Lê Bội thấy vậy bảo: "Có phải tập sách mà anh vẫn nói với anh
em không?" Tôi gật đầu. Lê Bội nói: "Vậy thì mua hết đi! Vừa có
"của ăn, của để". Anh em hỏi vẫn có sách mà tặng..." Nhặt hết
chỗ sách ấy ra quầy thanh toán, cô thu ngân nhìn chúng tôi ngạc nhiên, hỏi tại
sao lại mua nhiều đến vậy. Lê Bội giải thích tôi là tác giả sáng tác tập truyện
này. Cô thu ngân reo lên rồi bảo, nhiều bạn đọc mua cuốn truyện và rất thích.
Ngay cả cô khi đọc cũng thích. Thanh toán xong, cô nằng nặc xin được tôi tặng
cho một cuốn có đề tặng hẳn hoi. Mang sách về trại sáng tác Vũng Tàu, tôi tặng
anh em bạn bè vài cuốn. Vẫn còn dăm cuốn để vào hành lí mang về Hải Phòng.
-Hồ Anh Tuấn:
Ấn tượng và đáng nhớ nữa. Ngay từ khi còn là bản thảo cũng đã có kỉ niệm với
tập sách này. Tôi vẫn nhớ hôm mang bản thảo "Chàng dũng sĩ" lên Nhà
xuất bản, biên tập viên nhận với thái độ khá thờ ơ, còn không nghe tôi giới
thiệu qua về tác phẩm. Nhưng đến khi in xong, phát hành rồi, gặp lại tác giả
mới rôm rả trò chuyện. Sau này, chính chị gọi điện lại cho tôi thông báo về
việc NXB tái bản tập sách với số lượng in kỉ lục - 3 vạn 2 nghìn 100
cuốn. Tập sách được tái bản theo đơn đặt hàng của Bộ Giáo dục - Đào tạo cung
cấp cho học sinh vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo. Số tiền nhuận bút lần 2
mà NXB trả tôi khi ấy lên tới vài triệu đồng. Nhưng tiền không giá trị bằng
việc sáng tác của mình được nhiều người đón nhận và yêu thích. Đó mới là món
quà vô giá.
-Thùy Linh:Xin chúc mừng nhà thơ! Đúng là trong cuộc đời sáng tác, ai cũng muốn có được
một tác phẩm nhiều kỉ niệm như vậy. Đặc biệt hơn với "Chàng dũng sĩ",
đó lại là một sáng tác "tay ngang"...
Tiểu thuyết Sóng
chìm của nhà văn Đình Kính được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
Nhân dịp này, báo Đất Việt có trao đổi ý kiến với một số nhà văn về những nội
dung xung quanh tác phẩm trên. Đây là ý kiến trả lời của nhà văn Phạm Thanh
Khương về những nội dung mà phóng viên báo Đất Việt đã trao đổi.
Điều gì ở Sóng
chìm làm nhà văn Phạm Thanh Khương phải dừng lại, nhìn lại và suy ngẫm về
cuộc sống đang trôi đi quá vội vã này?
Trong rất nhiều
người cầm bút hiện nay, đề tài chiến tranh cách mạng vẫn luôn là một thách
thức. Sự thách thức này không chỉ với ngay những người đã trải qua cuộc chiến,
từ cuộc chiến trở về. Mà tôi cũng chủ quan tin rằng. Sự thách thức về đề tài
này sẽ còn dài với cả những người cầm bút mai sau. Chiến tranh đã lùi xa, đã đủ
độ lùi của thời gian để nhìn nhận về những năm tháng chiến tranh vệ quốc. Trước
cuộc sống đang trôi đi quá nhanh, quá vội vã trong một số người, khi chỉ nhìn
thấy cái đòi hỏi của cuộc sống hiện tại, không chỉ những người bình thường mà
với những người cầm bút càng phải có sự nhìn lại quá khứ lịch sử của dân tộc,
suy ngẫm về những gì đã qua trong chiến tranh mà các thế hệ cha, anh, bản thân
đã qua. Tôi là người cầm bút song cũng là người công dân và tôi cũng đang là
người lính. Vì thế, tôi cũng như mọi người, khi đọc Sóng chìm
phải biết dừng lại, nhìn lại và suy ngẫm.
Nhân vật Năm
Hồng là nhân vật thành công trong Sóng chìm, nhưng xét ở một góc độ nào
đấy, con người như Năm Hồng không dễ chấp nhận trong cuộc sống bình thường. Ông
có ý kiến gì về vấn đề này không?
Trong đời sống
xã hội, vốn mỗi người mỗi vẻ. Ở đời, có ai biết được, định được cái gì sẽ xảy
ra, sẽ đến. Với nhân vật Năm Hồng trong Sóng chìm cũng thế. Có
thể ai đó cho rằng con người như Năm Hồng không thể chấp nhận trong cuộc sống
cũng là điều bình thường. Nhưng tôi chỉ xin khẳng định, đây là con người, là
nhân vật của nhà văn, trong bối cảnh của câu chuyện mà nhà văn viết ra. Vì vậy,
với tôi, có thể ai đó cho rằng, con người như Năm Hồng, người mà "bản năng
sống" lớn hơn tất cả cũng là điều bình thường. Nhưng đây cũng là nỗi đau
của con người trong chiến tranh, là khát vọng sống đến tận cùng của con người.
Và theo tôi, nhân vật Năm Hồng được bạn đọc nhớ đến nhiều, bàn cãi nhiều, phải
chăng cũng là vì thế.
Có một số ý
kiến mổ xẻ ngôn ngữ trong tác phẩm Sóng chìm bị lẫn lộn giữa ngôn ngữ
địa phương của tác giả với ngôn ngữ "vùng miền" của nhân vật. Ông có
ý kiến gì về vấn đề này?
Theo tôi, sự mổ
xẻ tác phẩm của bạn đọc với tác phẩm viết ra là điều mừng. Vì chỉ khi nào tác
phẩm được mổ xẻ thì có lẽ người ta mổ xẻ tác phẩm là do tác phẩm đó đã lưu lại
trong người đọc. Mổ xẻ để hiểu tác phẩm hơn, hiểu những điều tác giả viết ra
hơn, chả hơn khi tác phẩm viết ra, bạn đọc cầm lên rồi để lại trên bàn hay sao?
Cũng vì thế, việc có một số ý kiến mổ xẻ ngôn ngữ trong tác phẩm Sóng
chìm cũng là điều dễ hiểu. Bạn đọc luôn có quyền đặt yêu cầu với người
viết, tác phẩm nên thế này, kết nên thế kia, nhân vật này phải thế này, nhân
vật kia phải thế kia. Còn nhà văn, bao giờ cũng thế, luôn biết lắng nghe.
Năm 2008 ghi
nhận dấu hiệu chuyển động của Văn học thiếu nhi với những sự kiện có ý nghĩa
nổi bật:
1 Cuộc Gặp
gỡ mùa xuân của các nhà văn viết cho thiếu nhi (Tháng 3-2008). Đây là
một hoạt động do Ban Văn học thiếu nhi - Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức và được
sự ủng hộ của Nhà xuất bản Kim Đồng, Báo Thiếu niên Tiền phong, Báo Nhi đồng,
Hãng phim Hoạt hình Việt Nam. Cuộc gặp mặt đã thu hút hơn 80 nhà văn quan tâm
đến thiếu nhi tham dự (Măc dù hôm đó thời tiết xấu). Nhà văn Tô Hoài ở tuổi 90
vẫn nhiệt tình phát biểu những ý kiên tâm huyết khích lệ sự quan tâm của toàn
xã hội với văn học thiếu nhi. Nhà thơ Hữu Thỉnh tham dự cuộc họp đã tặng hoa
chúc thọ các nhà văn lão thành viết cho thiếu nhi: Tô Hoài, Vũ Tú Nam, Nguyễn
Kiên, Hồ Phương, Văn Linh, Nguyễn Quỳnh, Định Hải, Vân Thanh, Viết Linh...Nhà
thơ Hữu Thỉnh đã phát biểu hứa hẹn sự quan tâm của Ban chấp hành Hội Nhà văn
Việt Nam với mảng văn học thiếu nhi đang có nhiều chuyển biến.
2 Trại
sáng tác văn học thiếu nhi tại Trung tâm văn học - Hội Nhà văn Việt Nam
(Quảng Bá- Tây Hồ) và các Trại sáng tác văn học thiếu nhi được tổ chức trong
mùa hè năm 2008. Đây là một Trại sáng tác đầu tiên dành cho các nhà văn
viết cho thiếu nhi do Hội Nhà văn Việt Nam
tài trợ hoàn toàn. Mằc dù số lượng các tác giả tham dự còn khiêm tốn (22 nhà
văn) và thời gian của Trại cũng không dài (10 ngày), nhưng Trại đã thu hút sự
quan tâm của các cơ quan báo chí truyền thông (Báo Văn Nghệ, Báo Nhi Đồng, Nhà
sách Thương Huyền, Báo Thiếu niên Tiền phong, Đài phát thanh Tiềng nói Việt
Nam, Tạp chí "Văn học và tuổi trẻ" của Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà
xuất bản Kim Đồng... đã tổ chức các cuộc gặp gỡ trao đổi với các nhà văn dự
trại). Trại sáng tác do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội đã tạo ra một
sự khích lệ các hoạt động Trại sáng tác được tổ chức ở các địa phương:
Trại sáng tác cho thiếu nhi được tổ chức tại tỉnh Quảng Nam thu hút các cây bút
nhỏ tuổi ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên do Trung tâm sách Kim
Đồng miên Trung (Đà Nẵng) tài trợ. Trại sáng tác văn học thiếu nhi tỉnh Nam
Định do Hãng phim hoạt hình Việt nam phối hợp với Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh
Nam Định tổ chức. Hội đồng trung ương Đội Thiêu niên tiền phong Hồ Chí Minh lần
đầu tiên tổ chức Trại sang tác cho các cây bút thiếu nhi với sự tham gia của 13
tỉnh thành phố từ bắc miền Trung đến các tỉnh miền núi phía Bắc.
3 Văn học
thiếu nhi trên internet. Lần đầu tiên có một nhóm bút trẻ mang tên Nhiệt
đới đã sủ dụng blog Nhiệt Đới là nơi giao lưu gặp gỡ và đăng tải các
sáng tác mới , của các cây bút trẻ, các thông tin về mọi hoat động văn học
thiếu nhi. Các trang web và blog của các nhà văn: Trần Nhương, Phong Điệp, Hoài
Khánh,... Đã thường xuyên cập nhật những tin tức và bài vở ghi chép
"nóng" về các hoạt động văn học thiếu nhi.Trang web Sách hay.com đang
có hoat động quảng bá cho các tác phẩm văn học thiếu nhi để giúp trẻ em có định
hướng "văn hoá đọc" bổ ích.
4 Tác phẩm Tôi
là Bê tô của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh được giải thưởng của Hội Nhà văn thành
phố Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh trao
giải thưởng cho một tác giả chuyên viết cho thiếu nhi. Trong năm 2008, nhà văn
Nguyến Nhật Ánh còn có tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ
gây sôi động Hội chợ Sách thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2008 cũng là năm ghi nhận
sự xuất hiện nhiếu tác phẩm viết cho thiếu nhi của các cây bút nữ thành phố Hồ
Chí Minh, nhu: Lý Lan, Lưu Thị Lương, Trần Thị Hồng Hạnh,... Năm 2008 cũng là
năm tác giả Nguyễn Ngọc Thuần được nhận giải thưởng quốc tế Peter Pan với tác
phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Những tác phẩm của các tác giả
viết cho thiếu nhi ở thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận rõ ràng hiện nay thành
phố Hồ Chí Minh đang trở thành Trung tâm văn học thiếu nhi sội động nhất cả
nước.
5 Cuộc thi
Một ngày kỳ lạ và Chuyến tàu kể chuyện của Dự án hổ trợ văn học
thiếu nhi Việt Nam
- Đan Mạch đươc tổ chức thành công. Tiếp theo các hoạt động của Dự án hổ
trợ van học thiêu nhi do Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Đan Mạch và Nhà xuất
bản Kim Đồng tổ chức trong các năm 2006 và 2007, trong năm 2008 này, các hoạt
động của Dự án đã có một bước tiến đang ghi nhận. Với chủ đề văn học giả tưởng,
một loại hình văn học được các em thiếu nhi yêu thích, nhưng chưa được các nhà
văn Việt Nam đi sâu tìm hiểu phương pháp sáng tác, cuộc thi Một ngày kỳ
lạ hy vọng đổi mới Văn học thiếu nhi Việt Nam. Cuộc thi đã nhận được sự
hưởng ứng nhiệt tình của nhiều cây bút có tâm huyết với thiếu nhi như các nhà
văn Trần Hoài Dưong, Trần Quốc Toàn, Lưu Văn Khuê, Viết Linh, Nguyễn Quỳnh,
Lương Sỹ Cầm, Thu Trân, Quế Hương,... Cuộc thi đã nhận được sự hưởng ứng
của đông đảo các cây bút trẻ ở khắp mọi miền đất nước và giải nhất đã
thuộc về tác giả Nguyễn Thị Bích Nga (thành phố Hồ Chí Minh) với truyện ngắn Thày
lang hai mặt. Hoạt động Chuyến tàu kể chuyện là một cuộc
đi thực tế lớn của các nhà văn và hoạ sĩ của cả hai nước Việt Nam - Đan Mạch.
Năm nay "Chuyến tàu" đã đi về vùng sông nước Cửu Long với rất nhiếu
kỉ niệm đáng nhớ.
Năm 2008 đã khép
lại với nhiều điếu trăn trở của những người quan tâm với văn học thiếu nhi, năm
2009 đang đến với những dự báo "chông gai" của nền kinh tế thế giới.
Nhưng tình yêu trẻ em vẫn thôi thúc nhịp sống không phải chỉ riêng các nhà văn,
các bậc cha mẹ mà là của lương tri toàn nhân loại.
LÊ PHƯƠNG LIÊN
Chúc mùng sinh nhật các nhà văn trong tháng 1 nam 2009
Mỗi lần Nam
có tiền là rủ bạn đi uống rượu, nói chuyện tào lao văn thơ, cổ vật. Nam
hay đi cùng mẫn ra quán nước cô Mây ngồi ở đầu ngõ tận phố hàng Than. Nam
thích quán nước ấy không phải chè ngon, rượu ngon mà thích cô chủ quán có mẫu
người phụ nữ thời xưa: Mái tóc lưỡi trai trễ xuống trán, tóc cặp ngang lưng, áo
cánh nâu eo ong như nét văn hoá trên cổ vật mà Nam
thích tìm.
Vừa
thấy Nam Mây đã đon đả: "Hôm nay hai anh khao nhau món gì ?" Nam
hỏi " Có quốc lủi Hà Bắc không?". "Có ! ấy chết nói khẽ
kẻo..." Mây đưa mắt liếc xung quanh một lượt. Với hai chén sứ Hải Dương
rót đầy rượu đưa cho mỗi người một chén, chén hạt mít lạc rang đổ ra đĩa trên
bàn. Hai người khoái trí cạn ly, chuyện râm ran cả buối.
Nam
hay nói chuyện văn, thơ và giải thích thú chơi cổ vật. Từ xa xưa đồ Việt không
được giới chơi đồ cổ đánh giá cao. Những cánh văn thơ lại rất thích và hay sưu
tầm. Vì là nét đặc trưng văn hoá Việt và cũng một phần rẻ phù hợp với cảnh ít
tiền. Những thứ Nam mang về nhà toàn đồ cũ kĩ như bỏ đi: Đôi guốc mộc, cái nón
chuông rách, gẫy vành, chầy, cối các cụ giã trầu, đồ đá, đồ đồng, lọ,
bát, đĩa Lý, Trần, Lê, cái lành cái vỡ còn mảnh.
"Con
kiến tha lâu có ngày đầy tổ". Nhà Nam
chất đầy cổ vật đủ các loại. Nhiều lần vợ cằn nhằn, phàn nàn có tí tiền chả
giúp việc gia đình cứ mua những đồ bỏ đi xếp chật nhà, quần áo lôi thôi, đầu
tóc rối bù không chịu may cắt. Việc gì cũng nhận nhưng làm đâu bỏ đấy, tính Nam
là vậy. Mà rất lạ vợ nói gì thì cãi nhưng ca thán về chơi đồ cổ thì im như
thóc. Được vợ tốt tính chiều chồng, Nam
hay uống rượu, ngao du tối ngày.
Mới sáng
sớm Mẫn đã thấy Nam
đập cửa thình thình, kéo đi ăn bánh cuốn chấm nước mắm cà cuống. Ăn xong Nam
bảo : "Đến nhà thằng Sâm mua đồ, chịu nó nhiều rồi. Hôm nay trả tiền
ngay cho nó thích". Mẫn hỏi tiền ở đâu? Nam
cười "tiền nhuận bút, giấu vợ, mau lên không nó lại biến". Mẫn chở Nam
trên chiếc xe mi-pha cũ, gác-đờ-bu xọc xạch, xích líp mòn nhọn hoắt tuột xoành
xoạch. Cứ đi được một đoạn lại nhảy xuống lắp, bàn tay ngón nào cũng lem
nhem dầu mỡ.
Sâm chưa
ngủ dậy, gặp vợ Sâm đon đả khoe: "Nhà em hôm qua đi" "xứ" (
mua đồ)về khuya, mua được một sọt đồ còn để ở gầm giường, các anh ngồi
xơi nước đợi em vào gọi nhà em dạy. Một lát quay ra mời:"Các anh vào
đi". Vừa thấy Nam,
Sâm đã rên lên: " Con lạy bố, hàng tháng mới có ít đồ bố lại mua chịu con
sống làm sao được". Nói vậy chứ Sâm vẫn kéo ghế mời khách ngồi, pha trà,
rồi loanh quanh tìm cái điéu thuốc lào rít một hơi kêu sòng sọc, nhả làn khói
xanh như mây lên trần nhà bằng liếp rồi bô bô: "May cho anh đấy, hàng mới
mang về tối qua anh xem đi lắy được gì thì lấy, không bọn thợ nó đến bây
giờ".
Nam cúi xuống
gầm giường ba xà gỗ thông lôi ít đồ ra cái nào cũng gói bằng giẻ quần áo, dỡ ở
trong cái áơ vá chằng vá đụp ra một cái bình giọt lệ vẽ chim, trên búp măng,
dưới cánh sen, men lam nhạt, một cái ghè vỡ đôi vẽ rồng màu tam thái, một số
bát đĩa gốm hoa nâu, gốm xanh ngọc bên trong vẽ hoa cúc đời nhà Lý. Sâm bảo :
"Đi xứ hai ngày mới tìm mua được của người đào móng nhà. Một chum đầy
nhưng vỡ gần hết, chọn mãi mới được mấy cái này. Anh thích cái nào em để cho".
Nam chép
miệng:"Thứ nào cũng thích, chỉ tội ít tiền quá. Thôi mày để cho anh cái
nào cũng được. Hôm nay anh có ít tiền , rủ bạn đi ăn sáng còn có bằng
này". Nam
vừa nói vừa chìa tiền ra khoe như người có nhiều tiền và hào phóng lắm. Sâm đã
biết gu của Nam,
đam mê ít tiền mua không bằng giá thợ chạy. Nhưng bán cho Nam
đôi lúc còn được nhìn thấy đồ, chứ bán cho các cửa hàng Hà Nội, nó chạy ra nước
ngoài, tiếc lắm .
Năm tháng trôi
đi, những món đồ Nam
sưu tầm tự dưng có giá. Vì phong trào chơi cổ vật phát triển, nhiều đại gia có
tiền hiểu ra giá trị văn hoá của cổ vật thích mua đồ về chơi, nhất là những món
đồ có hồn có sắc, có xuất sứ nguồn gốc. Nhà chơi, nhà buôn... chạy đến đòi mua
món đồ này 200 USD, đồ kia vài ngàn USD. Nếu tính giá những đống đồ như
bỏ đi ngày xưa thì bây giờ khá nhiều tiền. Đến lúc này người vợ mới hiểu ra giá
trị những đồ trong nhà mình lại không muốn cho chồng bán, khuyên giữ lại chơi.
Mỗi hiện
vật là một tác phẩm, mỗi điển tích là một câu chuyện, Không có đồ nào giống đồ
nào, mỗi hình mỗi vẻ, mỗi màu một men, mỗi thời kì một nét văn hoá,bình phẩm cả
ngày không hết chuyện, lý thú lắm.
Mẫn đi với
Nam nhiều
rồi cũng sinh ra mê đồ từ bao giờ không biết. Thỉnh thoảng đến đâu cũng hay
nhìn bàn thờ, tủ kính xem chủ nhân có thứ gì là cổ không. Một lần về quê
đến nhà bạn chơi tình cờ Mẫn thấy có cái thớt dưới cây đèn Trần vứt bên bờ dậu
cây Muồng tơi. Mẫn cầm mang ra cầu ao rửa, các lớp hoa văn dần hiện ra còn
nguyên ven. thích quá Mẫn bảo bạn: " Cậu bỏ phí món đồ, bao nhiêu tiền để
cho mình mang về chơi". Ông ban xua tay: "Thích cầm về mà chơi mấy
lần tớ định vứt đi mà chưa kịp vứt". Mẫn thích quá vì biết nhà Nam
có một cái thớt trên để ở xó nhà từ lâu.
Bây giờ thì Mẫn
mê đồ thực sự nhưng hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn. Mẫn hay đến nhà Nam
mê mẩn xem đồ, hết nhìn cái này lại ngắm cái kia, lần nào cũng dừng lâu bên
thớt trên cây đèn Trần vì ở nhà có thớt dưới. Nếu hai phần lắp vào nhau thì
thành cây đèn (đèn đốt dầu lạc bằng sứ đời nhà Trần) tuyệt đẹp. Một lần Mẫn bảo
Nam: "Nhà
cậu nhiều đồ quá, để cho mình phần trên cây đèn Trần về ghép chúng lại với nhau
để chơi, nhà chưa có thứ gì ra hồn, bây giờ sưu tầm đã muộn. Đồ đẹp đắt qúa lại
vào các nhà đại gia cả, lấy tiền đâu ra mua, mà họ đâu có bán"? Thông cảm
với hoàn cảnh của Mẫn, Nam
bảo: "Cậu thích cứ cầm về mà chơi, mình mua có đáng bao nhiêu".
Mẫn dẫy nẩy: "Không được! cậu cứ bán cho mình rẻ một chút là được ai lại
lấy không của nhau. Ngày xưa thì rẻ đấy nhưng bây giờ đắt lắm , ngàn đô chứ chả
rẻ đâu. Cậu cứ lấy một nửa là được". Nam
cười xuề xoà: "Mình không bán, tặng cậu một thứ làm kỷ niệm . Anh em chơi
với nhau, đều là người đam mê cổ vật, cậu thích chơi mình mừng lắm". Mẫn
dứt khoát: "Nếu anh không nhận tiền thì tôi không dám cầm về". Hai
người đều trọng nghĩa trọng tình, đưa đẩy nhau nhiều lần không ai chịu ai.
Đột nhiên Mẫn bị
cảm tai biến mạch máu não không nói được, nằm liệt giường, mắt thường đưa nhìn
những bức tranh và món đồ mới sắm. Riêng chỗ bày thớt dưới cây đèn Trần, Mẫn
hay nhìn nhất. Nam
đến thăm, nắm bàn tay lạnh giá của bạn, các ngón cử động yếu ớt, chỉ biết gật
cái đầu. Nam
quay ra mở túi sách lấy thớt trên cây đèn từ từ tiến về chiếc bàn cuốn
bày phần dưới của cây đèn, nhẹ nhàng chồng chúng lên nhau. Hai phần khớp lại
tạo thành tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Mẫn nằm trên giường chăm chú theo rõi.
Sau khi đặt ngay
ngắn cây đèn Trần, Nam
quay lại, nói vừa đủ Mẫn nghe:"Cây đèn đặt ở đây đẹp quá, anh chơi cũng
như tôi chơi. Hôm nay anh nhận dùm cho". Nhìn cây đèn vẽ màu tam sắc lung
linh 15 tầng hoa văn, hoạ tiết rồng bay, phượng múa trên lớp men rạn bóng,
trắng ngà. Mẫn như muốn trở mình ngồi dậy, ôm ghì lấy Nam,
đôi môi mấp máy, mắt đỏ hoe trào lệ. Nam
hiểu ý bê cây đèn đặt xuống giường cho Mẫn được đặt tay lên con rồng như đang
uốn mình phun ngọn lửa lung linh.
Điều tôi kể sau
đây là hoàn toàn chính xác, nghĩa là nguyên mẫu như nó đã có, tuyệt đối không
thêm dấm thêm ớt như người ta thường nói.
Năm 2002, con
trai út của tôi làm việc tại Hà Nội, gọi điện thoại cho tôi , nói rằng, cháu đã
bị ung thư giai đoạn cuối, đã di căn, khối ung thư khá to ( có số gam kèm theo
), xung quanh đã có các tia máu hình nan quạt. Nghĩa là thời gian chỉ còn tính
tháng. Cháu nói đã thông báo cho người yêu và đã quyết định dừng không tổ chưc
cưới để tránh cho người bạn gái sự lỡ dở. Cháu nói bằng giọng rất điềm nhiên
như là thông báo việc của ai khác, chứng tỏ cháu đã phải tự vượt qua thử thách
này như thế nào. Tôi hỏi chính xác không ? Cháu bảo, bác sĩ đã chia sẻ nguy nan
với con sau khi đã chuyển cho con các kết quả chiếu chụp, với chữ kí. Con tôi
còn nói, bác sĩ là một người quen, rất quí con và rất tốt.
Tôi bàng hoàng
cả người, lặng lẽ ra Quĩ tiết kiệm bưu điện, rút 30 triệu vừa gửi từ tiền gom
các sổ lẻ, rồi cùng vợ về Hà Nội ngay. Trên xe đò, tôi bàn với nhà tôi rằng,
nên bán cái nhà mình đang ở Hạ Long, sẽ được 1 tỉ rưỡi, cho con gái 100 triệu,
300 triệu mua một căn nhà sâu trong xóm thợ, 100 triệu gửi tiết kiệm, đề phòng
sự cố bố mẹ già yếu, còn 1 tỉ chạy chữa cho con, cố tát đến gầu nước cuối cùng.
Nhà tôi đã đồng ý.
Khi về Hà Nội,
con trai tôi đưa cho tôi xem các phiếu chiếu chụp và kết luận của bác sĩ trưởng
khoa, tất cả đều in trên giấy vi tính rõ ràng sáng sủa. Tôi nén một tiếng thở
dài, và cố giấu sự tuyệt vọng của mình. Tôi nói điều vợ chồng tôi đã bàn với
con. Con tôi rất bình tĩnh bảo : Bố yên tâm. Con biết mình sẽ phải ứng xứ mọi
việc như thế nào. Nếu bệnh này ở giai đoạn đầu, thì có khả năng chữa được, hoặc
kéo dài thời gian có thể được 10 hoặc 20 năm. Chứ còn bây giờ... Con cảm ơn bố
mẹ, nhưng hãy để cho con suy xét.
Nhà con tôi ở
chung cư trên tầng 5 có 1 gian chia làm 3 phòng hẹp. Phòng giữa làm phòng
khách. Đêm ấy, vợ chồng tôi giải thảm, nằm ở phòng ngoài cùng, dưới bàn thờ
đóng rất cao trên tường. Tôi rất khó ngủ.
Rồi tôi chợt
thấy một ông già chống gậy đến gặp tôi. Ông này mặc quần nâu, áo nâu, hình như
đi chân đất, gương mặt hơi gầy, râu trắng và thưa. tóc muối tiêu, nhác trông
quen quen nhưng tôi không biết là ai. Ông bảo, anh đang lo con anh bị bệnh hiểm
nghèo không qua khỏi phải không? Vâng thưa cụ. đúng thế, nhưng sao cụ biết? Cụ
bảo, tôi biết mà. Vì thế, tôi mới đến đây để nói cho anh hay, là anh cứ yên tâm
mà về đi. Con anh không việc gì đâu. Không việc gì ! Tôi mừng quá, nói: Trời
ơi, nếu được như thế thì nhà con không có gì vui hơn. Con đội ơn cụ. Ông cụ
bảo, chả cần. Tôi chỉ cần anh cấp tiền tàu xe cho tôi về thôi.
Vâng, con sẵn
sàng, thưa cụ, thế bao nhiêu ạ? Cụ bảo, 12 ngàn. Tôi móc trong túi, không hiểu
sao có đúng 15 ngàn, tôi đưa cả cho cụ. Cụ đếm lại, cầm đúng 12 ngàn, còn 3
ngàn đưa cho tôi và bảo: tôi chỉ cần thế này thôi. Rồi cụ đi.
Tôi bừng tỉnh,
bèn lay vợ nằm bên và thuật lại toàn bộ câu chuyện cho nhà tôi biết. Nhà tôi
dậy, bật ngọn đèn nhỏ trong phòng. Lấy chân gạt bớt tấm thảm, rồi chuyển ra cái
ghế gỗ rất cao, lặng lẽ trèo lên thắp hương trên bàn thờ. Trong nhà tôi, từ lúc
cưới nhà tôi cho đến tận bây giờ, việc hương khói trong nhà, đều do một mình vợ
tôi lo toan. Sau khi thắp hương và khấn vái xong, vợ tôi đếm số giấy vàng
để trên bàn thờ của con trai tôi có đúng 12 tờ giấy vàng. Vợ tôi chuyển xuống
cho tôi xem và chúng tôi vô cùng kinh ngạc. Vợ tôi cầm giấy vàng và bao diêm,
ra ngoài cửa, xuống tận gốc cây, trước sân nhà chung cư mà đốt. Lúc ấy, con
trai tôi vẫn ngủ ở phòng trong cùng. Vợ tôi lên, tôi bật đèn sáng, lúc đó là
đúng 5 giờ sáng.
Khi ăn sáng, tôi
hỏi con, sao trên bàn có giấy vàng con chưa đốt? Con tôi bảo, à , con nhớ rồi,
hôm mùng 1 con thắp hương, quên chưa đốt, nhưng sao bố biết. Tôi thuật
lại chuyện cho con nghe. Nó bảo, ồ lạ nhỉ? Thế bố mẹ đếm có đúng 12 tờ giấy
vàng à?
Vợ chồng tôi ở
với con chừng 1 tuần, giục con đi chụp lại, làm sinh tiết theo yêu cầu ở
3 bệnh viện lớn ở Hà Nội. Sau đó lại về kiểm tra lại tại Quảng Ninh, nơi bác sĩ
có phòng khám tư với thiết bị hiện đại. Tất cả đều xác nhận là không phải. Một
vị bảo tôi, chỉ cần nộp các phiếu xác định này lên cơ quan chủ quản của bác sĩ
trưởng khoa kia, bác sĩ nhất định sẽ bị kỉ luật. Tôi bảo, không bao giờ nên làm
điều đó, mình được thế là có phúc rồi, làm khổ người khác mà làm gì. Nhưng tôi
bảo con tôi thông báo lại cho bác sĩ biết là kíp làm việc trong trường hợp của
con, đã có sự nhầm lẫn đáng sợ, cần phải rút kinh nghiệm.
Sau đó, đám cưới
của con tôi được tổ chức. Bây giờ, vợ chồng nó sống rất hạnh phúc,
đã có cháu trai đầu lòng hơn 1 tuổi. Và 30 triệu đồng, mà tôi nghĩ là ứng với 3
ngàn đồng trong giấc mơ kia, tôi lại mang về Hạ Long, gửi lại vào Quĩ tiết kiệm
bưu điện, như nó đã có mặt ở đó từ 10 ngày trước. Còn cụ già đến trong giấc mơ
tôi, căn cứ vào vóc dáng mà tôi còn nhớ, tôi đoán ra 1 người mà tôi rất kính
trọng, ở Hà Nội. Trước khi cụ mất, cụ viết thư cho tôi lên thăm cụ. Tôi ân hận
đến tận bây giờ, là cả 2 lần lên thăm cụ ở phố Lý Thường Kiệt, năm 1972 và lúc
cụ sắp mất, năm 1973, tôi đã không mua được cho cụ một cân đường, hộp sữa. Lúc
bấy giờ, kể cả đến thăm người ốm, cũng không có quà cáp gì. Không phải vì nghèo
mà vì thới đó, không ai làm thế, chứ tôi đâu có tiếc. Tôi đã viết kỉ niệm về cụ
và điều ân hận này, đăng báo, nhưng trong việc của con tôi, với sự phỏng đoán,
thì tôi nghĩ là không nên viết tên cụ ra đây. Nhưng trong thâm tâm, tôi vẫn đội
ơn cụ.
Thử bắt chước
người xưa, cuối năm làm cuộc "lược thuật" những nổi bật trong năm,
qua đó có thể gợi ra cái gì cho năm mới chăng. Với làng văn Hải Phòng, năm 2008
cũng là một năm khá ồn ào, hiểu theo cả nghĩa mừng vui và nỗi buồn phiền.
Trước hết là mừng vui.
Đầu tiên là đại
hội lần thứ ba Chi hội nhà văn Việt Nam
tại Hải Phòng. Chỉ có 22 hội viên, lại đại hội theo thông lệ, kể ra cũng không
có gì để ồn ào. Nhưng vì là tròn 10 năm thành lập Chi hội (1998- 2008), nên đại
hội trở nên có ý nghĩa. Nhất là kỷ niệm 10 năm thành lập và đại hội lại diễn ra
giữa lúc giới nhà văn nói riêng, văn nghệ sĩ nói chung phấn khởi học tập và
thực hiện Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng về văn học nghệ thuật,
nên Hội Nhà văn Việt Nam và Thành uỷ, UBND thành phố đã tạo thuận lợi cho Chi
hội nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập và đại hội
khá chu đáo. Từ đầu năm việc chuẩn bị đại hội đã được tiến hành, trọng tâm là
xuất bản một số ấn phẩm mang tính tổng kết sáng tác 10 năm của Chi hội. Quý 3/
2008, tập Tuyển tập thơ văn 1998-2008 in giấy tốt, bìa
cứng, Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành. ra mắt bạn đọc. Tiếp đến tập thơ văn Sóng
bạc đầu, Nhà xuất bản Văn học ấn hành, giới thiệu sáng tác chọn lọc của
22 hội viên Chi hội. Đây là một cách làm thiết thực và có hiệu quả, nhằm thực
hiện một trong những nhiệm vụ ghi trong Nghị quyết 23 của BCT là quảng bá rộng
rãi tác phẩm văn học nghệ thuật đến với công chúng.
Năm 2008 cũng là
năm Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Hải Phòng kết thúc nhiệm kỳ, tất cả 9
hội chuyên ngành trong Hội liên hiệp đều tiến hành đại hội. Hội Nhà văn Hải
Phòng là 1 trong 9 hội chuyên ngành, ngay từ giữa năm hai chi hội trực thuộc
Hội Nhà văn Hải Phòng là Chi hội Thơ và Chi hội Văn xuôi lần lượt Đại hội. Lẽ
ra, Đại hội của hai Chi hội thơ, văn cũng không có gì đáng nói nhiều, nhưng lại
đáng nói vì, thay vào việc bàn định phương hướng hoạt động thế nào cho văn thơ
đất Cảng bứt ra khỏi tình trạng nghiệp dư sơ cứng và hời hợt để đi vào chuyên
nghiệp hơn, theo nội dung Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, thì cả hai Đại hội
đều bàn hướng giải tán hai chi hội thơ, văn. Vậy là từ nay, Hội Nhà văn Hải
Phòng không còn hai Chi hội chuyên sâu thơ, văn nữa. Có lẽ bớt tính chuyên sâu
chăng mà Đại hội Hội Nhà văn Hải Phòng diễn ra đầu tháng 11 cũng không có gì
đáng nói nhiều, ngoài việc số uỷ viên ban chấp hành từ 3, khoá trước, nâng lên
5 khoá này.
Nhưng với người
sáng tạo nghệ thuật thì tổ chức, dẫu cần, vẫn chỉ là hình thức, còn nội dung
thiết thực, công việc trọng tâm, vẫn là do chính mỗi người làm, chứ không tổ
chức nào làm thay công việc sáng tạo nghệ thuật của họ. Vì thế, nói về hoạt
động văn học đất Cảng năm qua không thể không nói tới đội ngũ sáng tác và tác
phẩm được công bố. Giống những năm trước, nhìn vào đội ngũ sáng tác năm nay vẫn
chưa có gì thay đổi, quanh đi quẩn lại vẫn những gương mặt quen thuộc trên văn
đàn Hải Phòng. Nhưng điều đáng nói là dường như bây giờ họ mới chuyển vào độ
chín, vào thời kỳ "tinh anh phát tiết", nên cả hai thế hệ: những
người đứng tuổi (từ 55, 60 trở lên) và người còn trẻ tuổi (trên, dưới 40) đều
có tác phẩm "để đời" ra mắt bạn đọc. Nếu năm 2007 Hải Phòng được mùa
tiểu thuyết, 7 cuốn, nhưng truyện ngắn lại không có cuốn nào, thì năm 2008, bên
cạnh 4 tiểu thuyết dầy dặn: Bão đồngcủa Cao Năm, Vòng
quay tăng gô của Đình Kính, Nó của Hoàng Thiềng, Biển
và chim bói cácủa Bùi Ngọc Tấn là 3 tập truyện ngắn chững chạc:
Người tìnhcủa Nguyễn Hoàng Lược, Mặt trời dưới lòng
sông của Nguyễn Quốc Hùng, Kiếp phù ducủa Dương
Thị Nhụn và gần 10 tập thơ, đáng chú ý là các tập Lộ trìnhcủa
Nguyễn Đình Di, Động hưởng của Công Nam, Gọi đất
của Minh Trí, Thu biển của Đoàn Thị Tảo được xuất bản trong năm.
Sáng tạo nghệ thuật rất cần độ chín, sự từng trải, nói cách khác là vốn sống;
đội ngũ sáng tác văn học đất Cảng nhìn chung có mặt bằng tri thức, vốn sống và
kinh nghiệm tương đối đồng đều, vững vàng và chắc tay nghề, chưa có sự bứt phá
rõ nét, nhưng cũng không có "tỳ vết" gì đáng kể.
Bây giờ đến nỗi
buồn phiền trong làng văn đất Cảng năm 2008.
Sự việc gây xôn
xao nhất trong năm có lẽ là việc một ông nhà thơ ra thăm Cát Bà đã "máy
tay" vẽ bừa hàng chục bài thơ của mình (và cả của người) lên vách đá Cát
Cò 2. Sau đó, một blog tung tin và rồi cứ thế truyền đi, chả mấy loang ra khắp
"làng blog", lên cả mặt báo viết. Sự việc lẽ ra không đến thế, nếu
người trót gây "vết nhơ" trên vách đá Cát Bà ngay từ đầu nhận lỗi,
thực sự việc làm đó rất đáng nhận lỗi, thì sự việc không xôn xao đến vậy. Nỗi
buồn thứ hai là việc một bà nhà thơ đi đạo thơ của một nữ sĩ Hà Thành. Việc đạo
thơ diễn ra cách đây mấy năm, ở Hải Phòng cũng có người biết, nhưng mãi quý 3,
một số báo ở trung ương mới đưa rộ tin này, đầu quý 4 năm 2008 trên báo Văn
nghệ, bà nhà thơ kia mới chính thức nhận mình đạo thơ và có lời xin lỗi bạn đọc
và tác giả. Hai sự việc trên đáng để nhắc nhở người sáng tác nói riêng, những
ai quan tâm đến văn hoá, văn nghệ nói chung, về sự trung thực và tính cộng
đồng-xã hội. Trước hết là trung thực với chính mình, với chính những dòng mình
viết ra, sau là trung thực với bạn đọc, với mọi người và toàn xã hội. Bởi dẫu
là nhà thơ nhà văn gì gì chăng nữa, trước hết, và trên hết, hãy là một công dân
có ý thức cộng đồng và biết tôn trọng pháp luật. Biết rằng, con sâu không thể
làm rầu nồi canh, nhưng nhắc lại hai nỗi buồn phiền trong làng văn đất Cảng
2008 cũng là không thừa, khi giới văn nghệ Hải Phòng đang triển khai thực hiện
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về văn học nghệ thuật, mà rèn luyện phẩm chất,
đạo đức người cầm bút là một vấn đề luôn được đặt ra.
Dẫu vẫn biết
lịch sử có những ngày, những tháng, những năm chói sáng, hoá thân, đột biến; và
lại cũng không ít những khi tối tăm, trì trệ, đau buồn... nhưng ai nghĩ năm qua
lại là năm đầy sóng gió: đầu năm rét, cuối năm thì lũ lụt. Đã vậy, thế giới lại
không hề yên ổn, vừa ngớt đạn bom, sóng thần, động đất, nhân loại lại bàng
hoàng như trên tàu lênh đênh trong bão táp, biết bao nền kinh tế hùng cường lâm
vào khủng hoảng... Không thể tựa vào đâu - một lần nữa ta lại vịn chính
mình mà đứng dậy. Như đã từng hướng về Pắc Bó - nơi thay mặt non sông mừng vui
đón Bác, để cho ta chỗ tựa ở hồn thiêng sông núi; như bao nhiêu năm bảo vệ miền
Bắc, vượt Trường Sơn giải phóng miền Nam ta tựa vào niềm tin chiến thắng;
như những tháng năm khó khăn tựa vững vào con đường đổi mới Đảng đã vạch ra.
Tựa vào mình, ta tìm ra sức mạnh, tìm được lòng tin, mở hướng đến tương lai.
Ta từng lấy trận
Bạch Đằng xưa để so sánh với chiến thắng Điện Biên, lấy Điện Biên để đặt tên
cho chiến công "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 đánh máy bay Mỹ
trên bầu trời Hà Nội... Mấy nghìn năm trường chinh dân tộc không biết bao nhiêu
lần đánh giặc, nên đâu khó lấy chiến công để so sánh với chiến công. Còn hôm
nay đổ mồ hôi trên trận mới chiến thắng đói nghèo lấy gì để gọi? Lấy hào quang
nào so sánh với hào quang?
Có đấy: Đó là
khi Lý Thái Tổ từ Hoa Lư ra nơi rồng phục hổ ngồi định đô ở Thăng Long để thiên
hạ bốn phương quần tụ, xây cơ nghiệp non sông bền vững muôn đời; đó là lúc Lý
Nhân Tông lập Quốc Tử Giám cho sĩ tử trăm miền ăn học để chọn lấy hiền tài
nguyên khí quốc gia; lúc Lê Thánh Tông lập Hội Tao Đàn cùng nho sĩ đại thần tới
gác Khuê Văn làm thơ và luận bàn văn học; đó là những năm Kinh Kì, Phố Hiến,
Hội An tấp nập thương thuyền, Gia Định, Sài Gòn đón khách thập phương tới đây
buôn bán.
Có đấy: Đó là
khi chốn hoang vu bạt ngàn lau sậy trở thành An Biên trang, trở thành nơi Hải
Tần Phòng Thủ, nữ tướng Lê Chân tay gươm đao tay trồng lúa nước; đó là lúc dòng
Tam Bạc bắt đầu sục sôi trên bến dưới thuyền, khói nhà máy Xi măng cuồn cuộn,
tiếng còi tàu trên sông Cấm âm vang mỗi sớm mỗi chiều. Đó là đầu những năm 60
thế kỉ XX của ước mơ dựng xây và mở mang mãnh liệt, những năm cuối thế kỉ XX
dạt dào cảm xúc...
Hào quang của
những năm quá khứ với hào quang hôm nay, hào quang nào cũng đẹp bởi không có
hôm qua chẳng thể có ngày nay: những năm Hải Phòng vươn sức vươn Phù Đổng.