Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
HOÀI KHÁNH
Lịch
« September 2010 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Khúc suy tưởng

2010-09-05 @ 10:36 in Thơ

HOÀI KHÁNH: Nhà thơ Trịnh Anh Đạt là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Ông sinh năm 1946, quê gốc Thanh Hóa, hiện sống và làm việc tại Hải Phòng. Trịnh Anh Đạt vốn mê thơ và làm thơ từ thuở học trò. Thơ ông có cái nhìn khá sâu sắc, nhiều suy tư, trăn trở trước cuộc sống nhưng cũng đậm đà chất trữ tình, hóm hỉnh. Ông từng đoạt Giải thưởng Cuộc thi Thơ lục bát do báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2002-2003, Giải thưởng Cuộc thi thơ cuối thế kỉ của Tạp chỉ Xứ Thanh năm 1999-2000. Nhiều bài thơ của Trịnh Anh Đạt được giới thiệu trên các báo và tạp chí có uy tín ở Trung ương và địa phương.

Tập thơ Lục bát Trịnh Anh Đạt vừa được Nhà xuất bản Văn Học cho ra mắt bạn đọc. Blog Hoài Khánh đã đăng bài của nhà thơ Vương Trọng giới thiệu tập thơ này và được đông đảo bloggers và bạn đọc gần xa chia vui. Tác giả Trịnh Anh Đạt và blogger Hoài Khánh xin trân trọng gửi tặng 10 cuốn thơ tới những bloggers và bạn đọc có tên sau:

1. Hồ Văn Thiện

2. Vũ Thu Huế

3. Nguyễn Thị Kim Liên

4. Gió Phương Nam

5. Nguyễn Minh Tuấn

6. Thynguyên

7. Lương Thế Phiệt

8. Đinh Thường

9. Lê Trường Hưởng

10. Vũ Thị Minh Hằng

Vào hồi 8 giờ 30 phút sáng chủ nhật 12-9-2010, tại Khách sạn Hoa Thành Đạt (15 phố Lí Thánh Tông, quận Đồ Sơn - Hảo Phòng), Hội Nhà văn Hải Phòng tổ chức Tọa đàm Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt. Ban tổ chức trân trọng kính mời anh chị em hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng và những người yêu thơ trong và ngoài thành phố về dự. Nhân đây, Blog Hoài Khánh xin giới thiệu 2 bài tbơ lục bát của Trịnh Anh Đạt trong tập thơ mới xuất bản này.

Khúc suy tưởng

Căng nưng nức ngực đồi Vung*

Xiêm y lơ đễnh buông trùng gió mây

Núm hồng biệt thự nây nây

Cho bao nhiêu kẻ run tay si cuồng...

 

Trượt chân tỉnh giữa đời thường

Lại lơ ngơ lạc quãng đường xé đôi!

Đồ Sơn, Xuân 2000

--------------------------------------------------

* Đồi Vung nơi có biệt thự của Bảo Đại ở Đồ Sơn

Phút bình yên Văn Miếu

Tặng Phạm Đức Nhì -Nhà thơ Mỹ gốc Việt

Anh từ Tecxas về đây

Bạn thơ dang rộng vòng tay đón chào

Bỏ qua thủ tục ngoại giao

Toàn thằng lính trận thuở nào choảng nhau!

 

Người mẻ trán, kẻ sứt đầu

Trở trời trái gió thầm đau một mình

Duyên thơ nối nhịp ân tình

Buông tay súng, chẳng phải rình rập ai.

 

Giữa nơi trọng dụng hiền tài

Qua Khuê Văn Các sánh vai cùng người

Thơ hay thả đỏ lên giời

Rưng rưng ánh mắt rạng ngời lửa thiêng!...(*)

 

Vượt trên giông bão trăm miền

Quê hương ơi!

Phút bình yên diệu kì!

Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Nguyên tiêu Canh Dần 2010

TRỊNH ANH ĐẠT

-----------------------------------

 (*) Lần đầu tiên Đại lễ hội Thơ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội rước lửa thiêng từ đền Hùng về thắp ở đài lửa Văn Miếu

Hải Phòng xanh mãi trời thu

2010-09-02 @ 00:20 in Thông tin tổng hợp

Hải Phòng xanh mãi trời thu

Cứ mỗi độ thu sang, trong tâm trí người dân nước Việt lại nhớ về sự kiện trọng đại của dân tộc diễn ra cách đây 65 năm. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử của thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nư­ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nư­ớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày này là một dấu son chói lọi, mở đầu kỉ nguyên mới của lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám khôi phục tên tuổi Việt Nam trên bản đồ thế giới. Còn ngày Quốc khánh Việt Nam tạo một bước ngoặt vĩ đại trên con đường đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.

Mùa thu nay, người dân Hải Phòng vẫn tự hào kể cho con cháu nghe về những ngày sục sôi khí thế cách mạng 65 năm trước. Mờ sáng ngày 23-8-1945, hơn một chục vạn nhân dân, có lực lư­ợng tự vệ hỗ trợ, từ nhiều ngả đư­ờng, giương cao cờ đỏ sao vàng, nh­ư những dòng thác lớn đổ về quảng trường Nhà hát Lớn. Lực lư­ợng vũ trang của chiến khu Trần H­ưng Đạo chia làm 2 cánh, hoà vào đoàn ng­ười từ các vùng ven, rầm rập tiến vào nội thành. Cùng lúc, một trung đội tự vệ của Kiến An tập kết ở Niệm Nghĩa kéo vào. Tại cuộc mít tinh khổng lồ diễn ra trọng thể từ 10 giờ sáng, trong không khí trang nghiêm, xúc động, mọi ng­ười hư­ớng lên lá cờ đỏ sao vàng cỡ lớn được treo lên từ trước ở mặt tiền Nhà hát Lớn. Bài "Tiến quân ca" vang lên hùng tráng. Ngư­ời dân thành phố Cảng đư­ợc chứng kiến giờ phút lịch sử trọng đại nhất của đời mình. Đồng chí Vũ Quốc Uy, thay mặt Uỷ ban khởi nghĩa, tuyên bố xoá bỏ chính quyền tay sai của phát-xít Nhật, thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời Hải Phòng, giữa tiếng reo hò vang dậy của nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Hải Phòng nổ ra đã cùng cả nư­ớc đập tan xiềng xích nô lệ, giành độc lập, tự do. Vui sướng biết bao lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân thoát khỏi áp bức, bóc lột, đứng lên giành chính quyền về tay mình, làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước.

Trong tiết trời dịu mát của mùa thu thơm nồng hương biển, chúng ta hân hoan đón mừng những thành tựu quan trọng của Hải Phòng đạt được trong những năm vừa qua. Đảng bộ, quân và dân thành phố Cảng đoàn kết, năng động, sáng tạo, nỗ lực, quyết tâm cao trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 13 Đảng bộ thành phố; đảm bảo đúng quan điểm, định hướng do Nghị quyết Đại hội đề ra; đồng thời gắn chặt, đồng bộ với thực hiện Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị bằng nhiều biện pháp chủ động, sáng tạo. Các chủ trương, giải pháp có tính đột phá được tập trung thực hiện có hiệu quả cao. Hải Phòng cơ bản hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, một số chỉ tiêu hoàn thành vượt mức. Đảng bộ có bước trưởng thành cả về chính trị, tổ chức, phương thức lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu. Vị thế, vai trò của thành phố được nâng cao, đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước; tạo nền tảng vững chắc để Hải Phòng tự tin phát triển trong những năm tiếp theo, cơ bản trở thành thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020.

Mùa thu nay, ta càng thấy vui hơn vì có thêm hàng chục cây cầu mới, con đường mới hiện đại, khang trang, thênh thang, thẳng tắp. Những cửa ô xoè rộng như những cánh hoa. Đường ra Đình Vũ được nâng cấp. Cầu Khuể vừa được hợp long và chỉ mấy chục ngày nữa được chính thức thông xe, sừng sững vắt ngang qua sông Văn Úc. Các huyện ngoại thành Hải Phòng bừng lên sức sống mới, tạo đà cho việc xây dựng một sân bay quốc tế ở Tiên Lãng, mở tuyến đường bộ ven biển và những công xưởng mới ở nơi đây. Đường ô-tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng đang hiện dần ra ở An Lão, Kiến Thụy, nối Đất Cảng thêm gần với Thủ đô ngàn năm văn hiến. Chúng ta lại tiếp tục trù liệu cho việc thiết kế những cây cầu hoặc đường ngầm qua sông Cấm, bắc những cầu cượt biển ra các đảo Cát Hải, Cát Bà. Những siêu thị, những khách sạn lớn, những toà nhà cao hàng chục tầng, đang nối nhau mọc lên. Những con đường lớn, hàng loạt khu đô thị hiện đại khác sắp hoàn thành, điểm tô cho bức tranh thành phố những gam màu tươi sáng. Hải Phòng nhiều năm nay là cái nôi nuôi dưỡng tài năng trẻ, hàng trăm học sinh, sinh viên đỗ đạt cao ở trong nước và quốc tế, là mảnh đất lành cho văn chương, báo chí lớn mạnh, cho các ngành khoa học - công nghệ, văn hóa - thể thao phát triển. Quốc phòng - an ninh được bảo đảm, có chuyển biến tốt. Hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, củng cố, hoạt động tích cực, hiệu quả hơn. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh có chuyển biến tích cực. Người dân đất cảng được cải thiện đáng kể về đời sống, tin tưởng hơn vào bước đi lên của thành phố. Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng đang phát huy toàn diện, đồng bộ các yếu tố tiềm năng, lợi thế, tập trung cao mọi nguồn lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo bước phát triển đột phá; phấn đấu để Hải Phòng cơ bản trở thành thành phố công nghiệp văn minh, hiện đại trước năm 2020 từ 2 đến 3 năm; có kinh tế phát triển nhanh, bền vững; đô thị phát triển xứng tầm là đô thị loại 1, trung tâm cấp quốc gia; phát triển văn hóa thật sự là nền tảng tinh thần của xã hội; quốc phòng - an ninh được tăng cường và củng cố vững chắc; năng lực lãnh đạo, bản lĩnh chính trị, sức chiến đấu của toàn Đảng bộ và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị tiếp tục được nâng cao; đảm bảo tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội; tiếp tục cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.

Trời thu vẫn xanh mãi trong hiện tại vinh quang và tương lai xán lạn của các thế hệ người dân nước Việt trên chặng đường đi tới. Thời cơ và thách thức đang gọi mọi tấm lòng người Việt Nam cùng đoàn kết, bảo vệ vững chắc thành quả Cách mạng Tháng Tám, đưa đất nước vững bước tiến lên, "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" như Bác Hồ kính yêu hằng mong đợi. Và chúng ta sẽ mãi mãi không bao giờ quên buổi sáng mùa thu Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, làm rạng rỡ non sông Việt Nam.

HOÀI KHÁNH

Nhớ Vương Tùng Cương - Phạm Lãi...

2010-08-27 @ 00:58 in Trang viết gần xa

Nhớ Vương Tùng Cương - Phạm Lãi... 

Về Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, có chút buồn, gặp một số người thân quen đau yếu. Hà Đức Toàn, học Đại học cùng nhau ba năm, một lớp nói chuyện với anh đến nửa giờ anh mới nhớ ra, anh bị bệnh tai biến máu não, đi phải chống gậy, đầu gậy ba choạc; gặp Trúc Thông, anh, anh cũng bị bệnh như Hà Đức Toàn, nói khó khăn, rất ít nói; anh Phan Xuân Hạt đã lúc nhớ lúc quên, hai lần quên cái ghế đã ngồi (nơi anh có để hai chồng sách); Nguyễn Quang Hà từ Huế ra, mới mổ cắt ruột, lần thứ sáu, ngồi bên, thấy anh mở hộp thuốc lạ ra uống, lại chiêu bằng ngụm nước trong chai nhựa có sẵn trong túi; Lê Lựu càng thảm hơn, người nhà dìu đến, để cho anh ngó vào Hội trường một hai phút rồi dìu về, mắt khi mở khi nhắm, chân lúc bước lúc dừng, dáng run rẩy, thị lực phiêu lãng... 

Vui, cũng rất vui, gặp được Nguyễn Phan Hách, Vũ Từ Trang, Nguyễn Hồng Hà, Phạm Trọng Thanh, đoàn Hải Dương, Thái Bình, Hưng Yên: Hà Cừ, Đặng Văn Sinh, Đỗ Thị Hiền Hoà, Trọng Khánh, Lê Hồng Thiện... và đoàn Hải Phòng hùng hậu: Đình Kính, Bão Vũ, Hoài Khánh, Lưu Văn Khuê, Phạm Xuân Trường, Vũ Thị Huyền... ,mấy phút giải lao, cùng Nguyễn Thanh Kim, Nguyễn Anh Thuấn, Anh Vũ... được Trần Ninh Hồ (đồng hương), chiêu đãi bia, trò chuyện tít mít, chàng bảo: "Cứ để cho hai lão kia nói, có nói cũng chẳng ra sao đâu, vì đã giận thì mất khôn"; nhớ giọng Phạm Thị Minh Thư, Vi Thuỳ Linh "đòi" được nói, nhớ nhiều lúc Đại hội nóng lên, trên 90% tham luận "bị" vỗ tay nhiều đợt (đuổi xuống?),  Chủ tịch đoàn mềm dẻo, điều khiển. Nhìn chung, rất hốt. .

Kiểm lại trong số thân quen, Vương Tùng Cương, vắng.  

Với Cương, quen biết đã lâu, từ hồi anh còn ở Ty văn hoá Hà Bắc, nhà ở gần quán Ba Giao, thị xã Bắc Giang... những ngày, gia đình anh đầm ấm, hạnh phúc. Sau, anh chuyển về Hà Nội, làm việc tại văn phòng Hội Nhà văn. Anh gặp bất hạnh, bỗng cô đơn, trơ trọi!

Thơ Vương cũng chuyển mạch, nhiều câu thơ khởi sắc, trong bài Chùa Bổ Đà: Cây gạo trầm tư tay dâng lửa/ Hoa như đổ phẩm lối sau chùa, thơ anh nhiều bài buồn, đọc bài Viết ngày giỗ con của anh khôn cầm nước mắt: bạn bè con vẫn thường đến nhà chơi/ cùng trang lứa đã nên chồng nên vợ/ gió hiu hắt cứ thổi về một phía/ bạc phận con/ trắng tóc mẹ cha rồi/ thăm mộ con/ chỉ có nói cùng cha/ lời xanh ấy ru giấc con yên nghỉ/ xin tự chắp mảnh đời cha còn lại/ thắp câu thơ hương khói gọi con về (8/ 1997).

Từ nỗi đau riêng, anh đã cảm thông với nhân quần, bè bạn; một lần sau khi gặp nhau, về Hà Nội, nửa đêm, Vương đã gọi điện thoại đọc cho nghe bài anh mới viết, Gửi bạn sông Thương, tặng Duy Phi: :

   Từng qua nghìn dặm đất/ Lại neo về sông Thương/ Chắt câu thơ bạc tóc/ Bút xới nhàu đêm trường.

   Chữ thánh hiền đa mang/ Miền khai tâm trăng sáng/ Tìm bạn văn thưa vắng/ Lánh chợ đời bon chen.

   Dẫu biết là đục trong/ Ngàn năm sông vẫn chảy/ Hồn nương cõi Thần Minh/ Đường thi nhân không mỏi.

   Nâng chén thơ run rẩy/ Dốc cạn cùng hoàng hôn/ Lặng ngấm men thi sĩ/ Chịu ơn cả nỗi buồn.

Qua trải nghiệm, Vương thi sĩ chia xẻ.

Tri âm, nhớ lắm. 

Nay Vương có mối tình mới, có người bạn là một nữ hoạ sĩ. Hôm Vương thi sĩ và nữ hoạ sĩ ấy về Bắc Giang, tôi có được kiến diện. Vương thi sĩ gọi điện, mời ra quán Cây Xanh. Có cả Chủ tịch Hội Bắc Giang: Tuấn Khương, Giám đốc Thư viện: Đỗ Thái... Chúng tôi mừng, thấy nữ hoạ sĩ nền nã, xinh đẹp. Nàng còn đọc thơ nàng cho chúng tôi nghe. Người thơ, giọng thơ, hồn thơ đáng mến lắm. Vương thi sĩ nói, đã có nhau hai năm, giờ có lầu riêng, trên một hồ trong xanh gần Thiền viện Đà Lạt... 

Nói đến đó, không mấy người không nhớ đến Tây Thi, Phạm Lãi. Mọi người đều mừng cho anh, đúng là hết BĨ lại THÁI.

Đại hội vắng Vương, hẳn là anh vẫn khoẻ?  Nhớ hai câu thơ của anh: tự nguyện đêm đêm ngọn đèn gác xép/ thi sĩ lặng trầm lam lũ trang thơ, chắc là anh đang lam lũ? Không gian Đà Lạt, các bạn văn chương Chu Bá Nam, Lê Công, Đặng Thanh Liễu, Vũ Dậu... và nàng Tây Thi hẳn giúp anh vui lên nhiều?

Nghiệp văn chương thật khắc nghiệt, các thi sĩ văn sĩ nay đầu bạc đã nhiều, thường vẫn phải vượt lên hoàn cảnh, như Chế Lan Viên nói, "hãy kiến trúc thời gian thành hạt muối"... 

DUY PHI

Lời giới thiệu tập thơ Lục bát Trịnh Anh Đạt

2010-08-22 @ 07:16 in Bàn về văn chương

Lời giới thiệu tập thơ Lục bát Trịnh Anh Đạt

Trong cuộc thi thơ của Tạp chí Xứ Thanh cách đây chừng mười năm, là một thành viên Ban Chung khảo, tôi cảm thấy thật thú vị khi gặp bài thơ nhan đề Rau má mà Ban Sơ khảo đưa lên xét giải. Bởi cây rau má đối với người Thanh Hoá chẳng khác gì con cá gỗ đối với dân Nghệ Tĩnh quê tôi, nó là đề tài thường làm cho những người mới xa quê cảm thấy bị xúc phạm, có thể sinh ra cãi nhau, thậm chí choảng nhau, nhưng lại gây thích thú cho những ai từng trải, thành đạt. Bản thân tôi cũng đã từng nổi giận cách đây nửa thế kỷ khi có bạn sinh viên gọi tôi là dân cá gỗ, nhưng vài chục năm nay đã bao lần tôi viết bài ca ngợi con cá gỗ. Với cây rau má Thanh Hoá cũng vậy, ai là người làm thơ ca ngợi "đặc sản" này là "sâm", dù đi xa đến đâu, thì : "Vị riêng rau má em ơi. Vẫn còn ngai ngái trong người Xứ Thanh", và kết luận đầy tự hào với cây rau má:

Vĩ nhân và các đời vua

Cũng từ rau má, ốc cua nên người.

Tôi phỏng đoán tác giả bài thơ phải là một người Thanh Hoá khá từng trải, sống xa quê và được Ban Tổ chức cuộc thi cho biết cụ thể hơn: Tác giả bài thơ, Trịnh Anh Đạt là một doanh nhân hiện đang sinh sống và kinh doanh ở Hải Phòng!

Bài thơ Rau má lần ấy trúng giải cuộc thi, và nhiểu người Thanh Hoá chuyền tay nhau chép sổ.

Quê Hà Trung (Thanh Hoá), Trịnh Anh Đạt thuộc thế hệ học sinh tốt nghiệp phổ thông đúng vào thời kỳ cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan ra miền Băc, cầu Hàm Rồng, Đò Lèn là mục tiêu bom đạn. Giống như hàng vạn thanh niên khác, anh lên đường nhập ngũ, trực tiếp phục vụ công tác vận tải trên tuyến đường Trường Sơn. Vốn là người yêu thơ, làm thơ khá sớm khi còn ngồi trên ghế nhà trường, thực tế cuộc chiến chắp cánh cho tâm hồn thi sĩ. Từ buổi đầu ấy, sống trên đất Quảng Bình, anh cảm thông trước sự khắc khoải chờ chồng của biết bao người vợ đã thành bà mẹ:

Bao nhiêu bà mẹ chờ chồng

Núi không đủ đá để trồng Vọng Phu.

Nhưng những bài thơ chiến trận đầu tay ấy ít xuất hiện trong tập thơ lục bát này vì phần lớn viết bằng các thể thơ khác, hơn nữa, khi cuộc chiến đã lùi xa 35 năm, tự tác giả cũng khắt khe hơn khi tuyển chọn thơ mình. Trong tập thơ này, nếu có thiếu, là thiếu những bài thơ tả và kể các trận đánh, nhưng nỗi ám ảnh chiến tranh thì dai dẳng bám theo anh mỗi nơi mỗi lúc. Ngay khi bất chợt gặp một bông hoa chuối rừng, anh không chỉ nói được nét đẹp đặc trưng của loại hoa này:

Nồng say cháy cả niềm yêu

Úa tàn nguyên vẹn cánh diều nhẹ rơi

mà ký ức xui anh nhớ về thời trận mạc, phải kiếm tìm các loại rau rừng như tàu bay, môn thục...nên đối với người lính ngày ấy, chuối rừng đã mang "chức năng rau" là chính.

Trịnh Anh Đạt đến Đà Lạt khi "Chiều gom hết nắng trên từng búp thông", rồi đêm bắt đầu xuống, bạn đọc cứ nghĩ anh sẽ tả đêm Đà Lạt thơ mộng như bao nhà thơ khác, nhưng không, rừng Đà Lạt xui anh "Gặp thời chiến trận nỗi lòng nôn nao":

Cua tay áo, lại đèo cao

Pha đèn sương phủ hoá bao "đèn gầm"

Tiếng rừng vọng lại âm âm

Như tàu bay địch lượn gần đâu đây

Thế là, người cựu chiến binh này lên Đà Lạt không phải để du ngoạn, mà không gian và thời gian nơi đây lay nhớ lại thời chiến trận, nhớ đồng đội, làm lòng anh cất lên tiếng gọi:

Đồng đội ơi, đồng nghiệp ơi

Chạm rừng đêm có nhớ thời lửa bom?

Về thời hậu chiến, Trịnh Anh Đạt khá thành công ở những bài viết về thân phận những người phụ nữ. Chúng ta nhớ rằng, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước thành công, thì giới tính ở nước ta bị chênh lệch, cụ thể là nữ giới nhiều hơn nam giới một triệu sáu trăm ngàn người. Với luật Hôn nhân một vợ một chồng của chúng ta thì tất nhiên có đúng một triệu sáu người phụ nữ sẽ không có chồng. Lẽ dĩ nhiên những người con gái đã đem tuổi xuân phục vụ chiến trận, hoà bình đã lỡ thì, sẽ nhận lấy những số phận hẩm hiu đó. Phần lớn các chị trở về quê tiếp tục công việc ruộng đồng, nhiều chị là công nhân nhà máy, xí nghiệp sống ở các khu chung cư, nỗi cô đơn khép hờ cánh cửa nhưng chẳng có ai vào, may chăng còn ngọn gió:

Lách qua khe cửa khép hờ

Gió trăng thuở ấy bây giờ vẫn...suông!

(Cánh cửa khép hờ)

Có chị thấy mình lạc lõng giữ cõi đời trần tục, đã tìm đến cõi thiền, nhưng cõi thiền cũng khó bề an ủi khi lòng người vẫn chìm đắm trong kỷ niệm một thời:

Bạn bè con bế, cháu bồng

Trầu em vàng úa, vôi nồng bạc tay

Cửa thiền cầu chút vận may

Chỉ màu thương nhớ xếp đầy nếp nhăn...

Với tấm lòng nhân ái, thông cảm trước nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh, lục bát Trịnh Anh đạt là lời sẻ chia, có nhiều khổ thơ làm người đọc rưng rưng. Thế mạnh này cũng giúp anh thành công ở những bài thơ viết về gia đình, nhất là người mẹ. Anh thương mẹ vì một đời sống vì người khác, một đời chờ đợi những đứa con:

Quạnh hiu dột nát mái nhà

Hương trầm vẫn thắp thơm xa xóm làng.

Đó là thời chiến tranh gian khổ, đến khi hoà bình, con cái khá giả, mẹ vẫn quen cái tính chịu thương, chịu khó:

Phố đông, dâu thiết tha mời

Thật thà mẹ chẳng thích nơi ồn ào

Lụi lầm thân cuốc bờ ao

Cọng rơm, cái tép...thế nào cũng xong

(Mẹ)

Nhà thơ, chủ doanh nghiệp, chủ nhà này tỏ ra tinh tế khi dùng hai chữ dâu thiết tha mời chứ không phải con mời vì ông thấu đáo cái chuyện muôn đời quan hệ mẹ chồng nàng dâu, từ xưa đến nay hai "ngôi" ấy thường kỵ nhau, bởi vậy "dâu mời" bao giờ cũng có ý nghĩa hơn "con mời". Khổ thơ này không chỉ nói về một người mẹ cụ thể của tác giả, mà là ý nghĩ, tâm trạng chung của các bà mẹ Việt Nam quen sống ở làng quê. Ý nghĩa Riêng- Chung trong thờ là vậy.

Thơ tặng các em, Trịnh Anh đạt viết từ mặt trận "Trong tầm pháo kích trắng trời Thừa Thiên", vào đêm trung thu bất chợt thấy vầng trăng sáng:

Lòng càng thương nhớ các em

Thu này liệu có đốt đèn, trông trăng?

Hay là "Bé bé bằng bông"

Theo đi sơ tán phòng không nơi nao?

(Gửi về chùa Sét)

Liên tiếp những câu nghi vấn nối nhau vì tác giả không thể xác định được việc làm, nơi ở của những đứa em của mình trong hoàn cảnh ấy. Và dù không đề thời gian bài thơ ra đời thì những chi tiết của hai câu cuối khổ cũng mách chúng ta chuyện thời chiến tranh chống Mỹ. Tính thời sự có khi vô thức nhập vào tác phẩm là vậy.

Về người vợ, Trịnh Anh Đạt có những câu thơ cảm động:

Anh vào tuyến lửa xa xôi

Thương em nẫu cả khoảng trời nhớ nhung

Anh "ghi công" vợ những ngày mình đi xa:

Hậu phương không quản ngại ngần

Cha già, mẹ yếu xoay trần đàn em

(Đang chín mà em)

Đó cũng là cảm nghĩ của anh khi thấy vợ sắm sửa quần áo nâu sồng để tìm niềm vui chốn cửa phật, thương cho vợ, thương cho mình và cho bao lứa đôi thời xuân trẻ phải xa nhau, khi được gần nhau thì tuổi đà đứng bóng.

Chuyện thời cuộc, thế thái nhân tình trong tập thơ này có nhiều bài chạm tới. Khi khai thác khía cạnh bi hài của cuộc đời, tính dí dỏm của anh được huy động. Anh kể chuyện một ông lão cạnh nhà, tuổi già "nghèo răng", mắt "giàu thêm số kính", tuy nhà cao nhiều tầng nhưng bị nghèo đi bao thứ:

Cạnh bà nào có được đâu

Mấy thằng cháu ngoại chia nhau đón về!

Đọc câu này tôi nhớ lại chuyện vui của bác Thanh Tịnh. Đó là lần có một cán bộ trong cơ quan hí hửng khoe với bác rằng vợ mình vừa mới sinh con trai. Sau khi nghiêm túc bắt tay chúc mừng bạn, nhà thơ lão thành nói đùa: "Vợ sinh con trai chưa hẳn là niềm vui, vì khi nó ( con trai) có vợ mình mất con, nó có con thì mình mất vợ". Nhưng kể cho cùng, bà bận trông cháu ngoại, đối với ông còn "mất" hơn nhiều, vì còn phải đi xa, và chuyện này không lạ. Lạ hơn, vui hơn là ở chi tiết này:

Dăm ông bạn học ở quê

Tranh nhau xí chỗ nằm kề nghĩa trang!

(Tuổi đời nghèo khó)

Là người kinh doanh dịch vụ ngành du lịch ở Hải Phòng, Trịnh Anh Đạt chứng kiến không biết bao nhiêu kiểu xuất ngoại mà anh gọi chung là "thân phận những chuyến bay", bao gồm xuất khẩu lao động, làm dâu ngước ngoài, làm Ô Sin...Nói về mặt kinh tế, những đối tượng này đã đem về cho gia đình và đất nước một lượng ngoại tệ đáng kể, nhưng xét về mặt "thể diện quốc gia", rõ ràng mất nhiều hơn được, nên tác giả buồn là điều dễ hiểu:

Áo cơm bạc mặt kiếm tìm

Đành lòng làm suất Ô Sin xứ người.

Cũng như vậy, việc phải lấy chồng nước ngoài, nói chung chả mấy hay ho, là điều bất đắc dĩ, nên tác giả cảm thấy khó chịu với những ả "dâu Tây" chưa hiểu được thân phận mình:

Tóc đen nhuộm tím, nhuộm nâu

Vênh vang lườm nguýt ra dâu nước ngoài

Bữa nào xó bếp nướng khoai

Mà giờ ngọt giọng "bai bai" điệu đàng!

Tác giả ác cảm rồi quá lời chăng? Cũng có thể, nhưng cũng vì những đứa con gái ấy không hiểu được nỗi lòng của những người mẹ:

Máu tim mẹ ứa thành lời

Ngày mai con đã bay rồi... Ới con!

Nhưng đau buồn nhất là người ra đi với bao ước mơ, hy vọng thì trở về bằng một nhúm tro than hài cốt, chuyện đó trong đời ta đã từng nghe nói và gặp lại với nỗi xót thương trong tập thơ này.

Không điểm qua một số câu thơ viết về tình yêu sẽ là một điều thiếu sót, bởi bản thân tác giả là người đa tình, tinh tế và thể thơ lục bát là công cụ thuận lợi cho anh trang trải sự đa tình, tinh tế ấy. Ở đề tài này, nhiều cặp lục bát của anh thật chuẩn, ngọt ngào, có khi thấm đẫm chất dân gian:

Vào thu gặp rét bể khơi

Để anh mong nắng phía trời em yêu

(Rét thu)

Xa nhau chín nhớ mười mong

Gần nhau im lặng như không có gì

(Hẹn em)

Nhớ nhau đến rỗng không mình

Đèn em khêu bấc tìm hình bóng ai?

(Bìm bịp kêu chiều)

Bây giờ người của người ta

Khát khao chỉ biết xót xa phận mình

(Gương kia cứ ngự trên tường)

Đã trầu phải tỏ vân cau

Dậy hương cốm mới lụy tàu lá sen...

 (Thư và tem)

Kể từ cuộc thi thơ lục bát đầu tiên của báo Giáo dục và Thời đại tổ chức cách đây chừng mười lăm năm, nhiều cuộc thi thơ lục bát của các báo đã diễn ra, nhiều tuyển thơ lục bát của nhiều tác giả, một tác giả xuất hiện. Nghĩa là thơ lục bát đang được mùa. Phải chăng tập thơ này của Trịnh Anh Đạt góp thêm bông lúa vàng vào MÙA THƠ LỤC BÁT?

Tháng 6- 2010

VƯƠNG TRỌNG

Hải Phòng triển khai hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014

2010-08-20 @ 17:58 in Thông tin tổng hợp

Hải Phòng triển khai hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014 

Chiều hôm qua, ngày 19-8-2010, Liên đoàn Lao động thành phố Hải Phòng mở Hội nghị triển khai kế hoạch hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam phát động. Các nhà văn Cao Năm, Lưu Văn Khuê, các nhà thơ Phạm Ngà, Kim Chuông, Hồ Anh Tuấn, Tô Ngọc Thạch, Hoài Khánh, Vũ Thị Huyền,... cùng nhiều hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng đã tới dự.

Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010-2014 được triển khai trong cả nước. Cuộc bận động này nhằm phát huy trí tuệ, tiềm năng văn học nghệ thuật của người lao động, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp và những đóng góp to lớn của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời giới thiệu với mọi người về tấm gương những người lao động và cán bộ công đoàn tiêu biểu trong cả nước. Đối tượng được tham gia Cuộc vận động là tất cả các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp và không chuyên, đặc biệt khuyến khích công nhân, viên chức lao động và cán bộ công đoàn cơ sở trong cả nước. Thể loại dự thi có thể là tiểu thuyết, bút ký, truyện ngắn hoặc thơ viết về các chủ đề liên quan tới công nhân và công đoàn. Thời gian nhận tác phẩm dự thi từ cuối năm nay đến hết ngày 31-3-2013 (tính theo dấu bưu điện). Ban Tổ chức sẽ tổ chức lễ tổng kết và trao 1 giải đặc biệt, 1 giải A, 3 giải B, 5 giải C và 15 giải khuyến khích vào dịp kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 - 28/7/2014) tại Hà Nội. Đây là dịp để nhân dân, đặc biệt là người lao động và cán bộ Công đoàn trong cả nước thể hiện tài năng sáng tác văn học của mình.

Các nhà thơ Kim Chuông, Vũ Thúy Hồng, Hồ Anh Tuấn, các nhà văn Vũ Hoàng Lâm, Cao Năm, Lưu Văn Khuê, Huy Liệu đã bày tỏ niềm tự hào về Hải Phòng là địa phương có đội ngũ sáng tác văn học khá mạnh về đề tại công nhân và công đoàn, có những tác giả tiêu biểu trưởng thành từ thực tiễn lao động trên thành phố Cảng, nhiều lần đoạt các giải thưởng văn học về đề tài công nhân. Mới đây, trong số 20 tác phẩm trong toàn quốc đoạt giải thưởng văn học về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 1999-2010, Hải Phòng đoạt được 3 giải C với tập truyện Đảo Áng Vàng của Trần Tự, tập thơ Bước nắng của Tô Ngọc Thạch và tập thơ Gai hồng trong mưa của Trần Huy Tản. Các ý kiến đè xuất với Ban tổ chức ở Trung ương và thành phố nên quan tâm mở các trại sáng tác, tổ chức các chuyến thâm nhập thực tế sáng tác, triển khai đầu tư chiều sâu cho các tác giả đã đăng kí đề cương tác phẩm, tổ chức cho các nhà văn được hiểu biết kĩ hơn về hoạt động công đoàn, về giai cấp công nhân hiện nay, tiếp cận với những tấm gương điển hình tiến tiến trong công nhân lao động và các tổ chức công đoàn cơ sở trên địa bàn thành phố.

Phát biểu tại Hội nghị, các đồng chí Ngô Kim Vinh - Phó trưởng ban Ban Dân vận Thành ủy, Nguyễn Văn Hưng - Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố và họa sĩ Quang Ngọc - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng - mong muốn các nhà văn, nhà thơ Đất Cảng tiếp tục phát huy thành tựu văn học của Hải Phòng, tiếp tục sáng tạo nghệ thuật văn chương, sáng tác được nhiều tác phẩm có chất lượng, tích cực hưởng ứng Cuộc vận động viết về đề tài công nhân và công đoàn giai đoạn 2010 - 2014 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam phát động.

HOÀI KHÁNH

Những thách thức với người viết cho thiếu nhi hiện nay

2010-08-17 @ 17:58 in Bàn về văn chương

Những thách thức với người viết cho thiếu nhi hiện nay

Nước ta hiện nay số dân đã gần 86 triệu người. Với sự phát triển của hệ thống giáo dục khắp toàn quốc đến tận vùng sâu vùng xa, tổng số học sinh phổ thông theo con số của Tổng cục Thống kê là trên 15 triệu, trong đó gần 7 triệu học sinh tiểu học, trên 5, 5 triệu học sinh trung học cơ sở và gần 3 triệu học sinh trung học phổ thông.

Trong khi đất nước đạt rất nhiều thành tích về phát triển và hội nhập thế giới, hàng năm nền kinh tế luôn luôn tăng trưởng thì số lượng các nhà văn viết cho thiếu nhi ở nước ta càng ngày càng sụp giảm. Cho đến thời điểm năm 2010 này, số lượng các nhà văn viết cho thiếu nhi còn đủ sức khỏe sáng tác và có tác phẩm mới công bố chắc chỉ còn ở hai chữ số .

Phải chăng hiện nay người viết cho thiếu nhi đang đứng trước nhiều thách thức lớn?

Trước hết chúng ta đều thấy rõ sáng tạo của các nhà văn được công bố và phổ biến trong xã hội chủ yếu là nhờ việc xuất bản Sách. Bạn đọc thanh thiếu nhi và cả nhi đồng và mẫu giáo đều rất ham đọc sách. Có lẽ trong đời người thời gian tuổi thơ, tuổi đi học chính là thời gian đọc sách nhiều nhất. Ở tuổi thơ, dường như ta đọc sách cho cả quãng đời bận rộn về sau . Hồi kí, tự truyện của tất cả các nhà văn hoá lớn Việt Nam và thế giới đều nói về một tuổi thơ say mê đọc sách.

Nhưng, từ hơn hai mười năm qua, sách đã bị các hình thức truyền thông ( còn được gọi là văn hóa nghe nhìn) từ ti vi, video đến internet và trò chơi điện tử trực tuyến (game online) càng ngày càng lấn lướt vào thời gian quý giá của tuổi thơ.

Việc dạy và học ở nhà trường với các hình thức dạy thêm, luyện thi cùng áp lực điểm số thi cử cũng đã lấy đi của tuổi thơ rất nhiều thời gian vàng bạc nữa . Thời gian đọc sách của trẻ em càng ngày càng bị co hẹp lại. Đó là thách thức đầu tiên của các nhà văn.

 Từ khi đất nước đổi mới, các nhà xuất bản đã chuyển đổi hoạt động theo sự vận hành của cơ chế thị trường, do đó "văn hóa đọc" của trẻ em đã đón nhận một "phát minh thời đại" đó là "truyện tranh hiện đại, khôi hài và liên hoàn" (quốc tế gọi là comic hoặc manga) được dịch và du nhập từ nước ngoài. Là thành tựu văn hóa trẻ em của thế giới nhiều bộ truyện tranh có ích đã trở thành người bạn thân thiết của trẻ em Việt Nam. Có thể nói rằng đó là một thành công lớn của ngành xuất bản nhưng lại lại một thách thức lớn với các nhà văn, đặc biệt là nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam.

 Với tinh thần trách nhiệm với thế hệ trẻ, không đặt lợi nhuận lên trên hết, các nhà xuất bản trong đó có nhà xuất bản Kim Đồng đã duy trì định hướng thẩm mỹ cho bạn đọc thanh thiếu niên với những Tủ Sách Vàng, Tủ sách Thơ với tuổi thơ... Những cố gắng duy trì tình yêu văn học bằng cách tái bản liên tục các tác phẩm cổ điển cũng đã lưu giữ bạn đọc trẻ với những giá trị thẩm mỹ có ý nghĩa bồi dưỡng nhân cách. Nhưng việc ấy lại tạo ra một sức ỳ trong sáng tạo các tác phẩm mới, đó là một thách thức không nhỏ với những nhà văn đặc biệt là với người viết trẻ lần đầu tiến cầm bút hoặc với những người viết chưa có may mắn thành công ngay từ cuốn sách đầu tay.

Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển hội nhập sâu của đất nước với thế giới, hàng loạt các công ty sách mới ra đời cùng với sự xuất hiện của các dịch giả trẻ tuổi, sách thiếu nhi thế giới đủ các phong cách khác nhau được dịch và tuyên tuyền quảnh bá rầm rộ ở nước ta. Chưa bao giờ trẻ em nước ta, ( và cả bạn đọc lớn tuổi trong đó có tôi) được thụ hưởng những cuốn sách như những món đồ chơi, những loại bánh kẹo cao cấp, mầu sắc rực rỡ... trước đây chưa bao giờ được nếm thử, thế mà nay được mời chào tràn ngập và ê hề khắp nơi . Vâng, thực tế đó chính là thách thức lớn nhất hiện nay với các nhà văn Việt Nam.

Lòng khao khát viết cho thiếu nhi vẫn là lòng khao khát muốn hướng con trẻ đến vẻ đẹp của cái tâm hướng thiện . Nhưng ngay cả với trẻ em bây giờ các em cũng đã phải đổi mặt với thói "Đạo đức giả" và thói "vô trách nhiệm"( hai đề văn thi đại học vừa qua). Hành xử bạo lực đã nhiễm cả vào trò chơi con trẻ. Và hơn nữa con trẻ phải đối mặt với bạo lực và sự xâm hại. Tất cả những điều mắt thấy, tai nghe ấy là những nỗi đau nhức nhối tâm can khiến người viết cho thiếu nhi phải lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ khi cầm bút. Nhà văn Trần Hoài Dương trong dịp Hội sách thiếu nhi Hè 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh vừa qua đã từng phát biểu "Bảo tôi viết về chơi game chắc là tôi chịu chết!"

Trình bày những thách thức trên không có nghĩa là các nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam đã hoàn toàn "chịu chết!". Sách của anh Trần Hoài Dương vẫn được trẻ em đón nhận hàng nghìn bản. Anh Nguyễn Nhật Ánh vẫn làm sôi động các Hội chợ sách TP Hồ Chí Minh. Các anh Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn và nhiều anh chị em trẻ như Nguyễn Ngọc Thuần, Phan Hồn Nhiên... rồi cả những người "không có tuổi" như cụ Tô Hoài, anh Trần Đức Tiến, anh Bùi Chí Vinh, chị Quế Hương, chị Nguyễn Thị Bích Nga...(trong đó có cả tôi) liên tục trong các năm 2008, 2009, 2010 đều có sách mới .

Mỗi người một cách đều đã nuôi dưỡng trong mình một tâm hồn trẻ thơ để đến với trẻ thơ. Nhà văn Erich Kaestner, một nhà văn Đức viết theo tư tưởng hòa bình, ông nổi tiếng viết cho thiếu nhi và từng đạt giải thưởng Hans Christian Andersen đã nói : " Chỉ những người trưởng thành mà vẫn giữ được tâm hồn trẻ thơ, kẻ đó mới thật là một con người. "Tôi thiết nghĩ đấy là cách nói của nhà văn muốn cảnh báo sự vẩn đục của tâm hồn, sự tha hóa của nhân cách, thói gian trá trong hành xử...Những điều ấy đối lập với tư duy trong sáng và tình cảm chân thành nguyên vẹn của tuổi thơ.

Những cuốn sách văn học ( cả tác phẩm cổ điển và tác phẩm mới sáng tác)những mong đem đến cho trẻ em những cảm xúc tươi đẹp hiện nay đang đứng trước con số phát hành, phổ biến là: một, hai nghìn bản. Thật là "muối bỏ biển" so với số lượng trên 15 triệu học sinh cả nước.

Ở đây chúng tôi muốn bàn đến vai trò điều tiết của nhà nước và pháp luật, gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội.

Thời gian qua cứ sắp đến ngày Tết thiếu nhi (1-6) hay Tết Trung thu, với tư cách là một nhà văn viết cho thiếu nhi tôi thường bị các nhà báo "bao vây", chất vấn về Văn học thiếu nhi :Tại sao sách thiếu nhi Việt Nam lại thiếu, lại yếu thế? Tại sao sách ngoại át sách nội ...v. . v

Trong một cuộc họp Văn học thiếu nhi năm 2008, nhà văn Tô Hoài đã nói : "Nếu giải thưởng văn học thiếu nhi là 1 tỷ, thì tôi cho rằng tình hình văn học thiếu nhi sẽ khác" (Câu nói này đã được nhiều phong viên báo chí nhắc lại trên các phương tiện truyền thông). Nhà văn Võ Quảng trong một bài viết để lại cho thế hệ sau có nói đại ý : "Phải có một cơ quan lo cho thiếu nhi (đặc biệt là về văn học) phải to ngang với một Bộ!". Tôi thiết nghĩ rằng trước hết đây là cách nói hóm hỉnh của các nhà văn. Các ông đã dùng cách nói ấy để thể hiện tâm huyết của các nhà văn lớn lo lắng cho tương lai văn họcViệt Nam. Và, hơn nữa đấy cũng là nhu cầu hội nhập quốc tế của văn học thiếu nhi Việt Nam.

Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin, nhà văn chúng ta có thể tự tìm hiểu tình hình văn học thiếu nhi trên thế giới. Chúng ta được biết có tổ chức Ủy ban quốc tế sách cho thanh thiếu nhi (International Board on book for young people - IBBY) được thành lập từ năm 1953.  Tổ chức này cứ hai năm một lần, trao giải thưởng văn học thiếu nhi Hans Christian Andersen cho tác giả thiếu nhi xuất sắc nhất.  Giải thưởng này được coi như giải Nobel của văn học thiếu nhi. Một trong những người sáng lập ra tổ chức quốc tế về văn học thiếu nhi này chính là nữ văn sĩ Thụy Điển Astrid Lindgren. Sau khi bà mất năm 2002 một giải thưởng văn học thiếu nhi mang tên bà cũng đã ra đời (được thành lập bởi IBBY - Thụy Điển). Tổ chức này cũng sáng lập ra giải thưởng Peter Pan, bắt đầu từ năm 2000, hàng năm trao giải cho tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc nước ngoài dịch sang tiếng Thụy Điển. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần của chúng ta đã vinh dự đạt giải thưởng này ( năm 2008)...

Nêu những thông tin trên, tôi mong muốn chúng ta thấy rằng ở các nước càng phát triển, Văn học thiếu nhi càng được chú ý thông qua việc tôn vinh các nhà văn viết cho thiếu nhi bằng các giải thưởng thích đáng.

Đối với các nhà văn viết cho thiếu nhi sự khích lệ bằng giải thưởng là cần thiết nhưng không có hạnh phúc nào bằng việc nhìn thấy trẻ em say mê cuốn sách của mình. Trong tình hình hiện nay, tôi xin đề nghị trong chưong trình nhà trường có thêm môn học "Tự đọc sách", hướng dẫn trẻ em đọc sách từ lớp một để hy vọng hưóng các em học sinh tìm chọn sách hay để đọc. Tôi được biết hiện nay ngành giáo dục đang rất quan tâm và đang có hướng giải quyết vấn đề văn hóa đọc với thanh thiếu nhi.

Trong thời gian qua, các nhà văn viết cho thiếu nhi cũng đã nhận được sự quan tâm của Hội Nhà văn Việt Nam với nhiều hoạt động, nổi bật hơn cả là Trại sáng tác dành cho các tác giả chuyên viết cho thiếu nhi được tổ chức tại Quảng Bá ( Hà Nội ) tháng5/2008 tạo điều kiện cho 22 nhà văn từ mọi miền đất nước đến gặp gỡ, trao đổi và sáng tác . Từ năm 2009, Trung ưong Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã khởi động chưong trình phối hợp với Hội Nhà văn để tổ chức Trại sáng tác dành cho lứa tuổi thiếu nhi và tổ chức biểu dương các nhà văn viết cho thiếu nhi hàng năm. Dự án Hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch do Nhà xuất bản Kim Đồng, Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch thực hiện với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Đan Mạch đã được tiến hành từ 2006-2010 . Thông qua các cuộc thi, các cuộc tập huấn, các "Chuyến tầu kể chuyện" phong trào sáng tác cho thiếu nhi đã được khích lệ. Nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Trẻ đã đỡ đầu nhiều tập sách có giá trị gây sôi động phong trào đọc sách trong thanh thiếu nhi và đạt các giải thưởng cao trong nước và quốc tế. Hội xuất bản Việt Nam cũng dành giải thưỏng Sách Hay, Sách Đẹp cho sách thiếu nhi hàng năm.

Tôi tin rằng Đại hội Nhà văn Việt nam lần thứ VIII sẽ tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức với sự phát triển văn học nước nhà. Sau Đại hội, văn học dành cho thiếu nhi sẽ được nhà nước và toàn xã hội quan tâm hơn nữa. Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá tới sẽ có những biện pháp cụ thể, hiệu quả để văn học thiếu nhi có một bước ngoặt mới đày triển vọng trong tương lai.

LÊ PHƯƠNG LIÊN

Thành uỷ Hải Phòng gặp gỡ các nhà văn vừa tham dự Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam

2010-08-13 @ 14:19 in Thông tin tổng hợp

Thành uỷ Hải Phòng gặp gỡ các nhà văn vừa tham dự Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam

Sáng nay, thứ sáu 13-8-2010, tại Nhà khách Thành phố (số 2 phố Bến Bính - Hải Phòng), các đồng chí: Dương Anh Điền - Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng gặp gỡ thân mật các nhà văn Hải Phòng đã tham dự Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII. Cùng dự có đồng chí Nguyễn Quốc Khánh - Phó trưởng ban Ban Tuyên giáo Thành ủy, NSƯT Lại Đình Ngọc - Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, NSƯT Đăng Toàn - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng.

Tại cuộc gặp mặt, nhà văn Đình Kính, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa VIII), Chủ tịch Hội Nhà văn Hải Phòng, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng - đã thông tin nhanh về kết quả Đại hội VIII Hội Nhà văn Việt Nam. Đại hội toàn thể hội viên diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến 6-8 vừa qua. Tiếp đó, nhà văn Đình Kính giới thiệu đôi nét hoạt động của Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng cùng những đóng góp của đoàn nhà văn Hải Phòng tại Đại hội nhà văn toàn quốc vừa qua, bày tỏ sự cảm ơn của các nhà văn thành phố Cảng với Thành ủy đã thường xuyên tạo điều kiện để các nhà văn sáng tác văn học. Nhà văn Đình Kính cũng chuyển lời của nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (khóa VIII) - thăm hỏi và cảm ơn các đồng chí lãnh đạo thành phố Hải Phòng đã giúp đỡ Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức thành công Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc lần thứ III tại Đồ Sơn đầu tháng 6 vừa qua.

Phát biểu thân mật với các nhà văn dự cuộc gặp gỡ, đồng chí Dương Anh Điền, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tại Hải Phòng, đã nhấn mạnh sự quan tâm của Thành ủy Hải Phòng đối với văn nghệ sĩ thành phố Cảng và cả nước, mong muốn các văn nghệ sĩ nói chung, các nhà văn Hải Phòng nói riêng, tiếp tục có thêm những tác phẩm hay, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu thưởng thức của người dân hiện nay. Đồng chí cho rằng, các nhà văn bằng tác phẩm văn học của mình không chỉ bồi đắp thêm đời sống tinh thần cho nhân dân và chính những tác phẩm ấy là biểu tượng của địa phương và đồng thời là niềm tự hào chung của nhân dân thành phố. Đồng chí đã trao quà tặng 30.000.000 đồng của Thành ủy cho Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng.

Trước đó, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Thành ủy cũng đã tới trao quà tặng 3.000.000 đồng của Thành ủy cho đoàn nhà văn Hải Phòng trước khi lên Hà Nội tham dự Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII.

HOÀI KHÁNH

HỘI VIÊN HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM - CHI HỘI HẢI PHÒNG

1.                  Nhà văn Bão Vũ - Chi hội phó

2.                  Nhà văn Bùi Ngọc Tấn

3.                  Nhà văn Cao Năm

4.                  Nhà thơ Dư Thị Hoàn

5.                  Nhà văn Đình Kính - Chi hội trưởng

6.                  Nhà văn Đoàn Lê

7.                  Nhà thơ Hoài Khánh

8.                  Nhà thơ Hồ Anh Tuấn

9.                  Nhà thơ Kim Chuông

10.              Nhà thơ Lê An Dương

11.              Nhà văn Lưu Văn Khuê

12.              Nhà thơ Mai Văn Phấn

13.              Nhà văn Mai Vui

14.              Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm

15.              Nhà thơ Phạm Ngà

16.              Nhà thơ Phạm Xuân Trường

17.              Nhà thơ Thi Hoàng

18.              Nhà thơ Tô Ngọc Thạch

19.              Nhà thơ Trần Quốc Minh

20.              Nhà văn Trần Tự

21.              Nhà thơ Trịnh Hoài Giang

22.              Nhà văn Vũ Hữu Ái

23.              Nhà thơ Vũ Thành Chung - Chi hội phó

24.              Nhà thơ Vũ Thị Huyền

Kết thúc Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII: Bài học nào "gửi lại mùa sau"?

2010-08-08 @ 17:30 in Thông tin tổng hợp

Kết thúc Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII: Bài học nào "gửi lại mùa sau"?

Với việc bầu đủ số lượng 15 ủy viên Ban chấp hành như chỉ tiêu đại hội đề ra, Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII có thể được xem là thành công hơn so với các kỳ đại hội gần đây. Tuy nhiên, về mặt hình thức thì như vậy, song đi vào chi tiết, nhiều hội viên lại nhận thấy đây là đại hội có nhiều luộm thuộm trong khâu tổ chức và những bất cập từng xảy ra trong một số kỳ đại hội trước đã lại có cơ tái diễn...    

90% người đọc tham luận bị vỗ tay... mời xuống

Trong bài viết "Không chỉ để cho... vui" in trên Chuyên đề Văn nghệ Công an số ra ngày 2-8-2010, chúng tôi đã lên tiếng "cảnh báo": "Bởi trong các đại biểu, có người hàng chục năm trời nay mới gặp nhau; có người đọc nhiều của nhau nay mới có dịp biết mặt, họ sẽ "tranh thủ" tối đa thời gian để hàn huyên, thăm hỏi đời sống, công việc của nhau. Cho nên, thiết nghĩ, các bản tham luận muốn gây được chú ý đối với các đại biểu cần được trình bày ngắn gọn, thiết thực, liên quan tới mối quan tâm chung của nhiều người" và "Kinh nghiệm cho thấy, những nhà văn có lối nói con cà con kê, dông dài những chuyện cá nhân tầm phào sẽ là những đối tượng dễ bị... vỗ tay mời xuống". Tại Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần này, số đại biểu đọc tham luận bị vỗ tay... mời xuống xem ra còn nhiều hơn các kỳ đại hội trước (với tỉ lệ chiếm tới 90%). Nhà thơ Định Hải là đại biểu đầu tiên lên tiếng trước đại hội và chỉ sau vài câu nói đã bị vỗ tay mời xuống, bất kể tuổi tác, bất kể việc ông từng là hội viên hiếm hoi đến nay được dự cả 8 kỳ đại hội (như ông tự giới thiệu). Sang ngày làm việc thứ hai, các đại biểu bị vỗ tay mời xuống càng nhiều hơn. Người mở đầu danh sách này là nhà văn Trần Thanh Giao. Bài phát biểu của ông vừa dài, vừa được xem là "mang tính dạy dỗ". Tiếp sau ông, nhà văn Võ Khắc Nghiêm cũng bị vỗ tay mời xuống. Chỉ khác là ông nhà văn có giọng đọc hùng hồn này tỏ ra rất... kiên định. Bị vỗ tay, ông vẫn đọc. Lại vỗ tay. Vẫn đọc tiếp. Hội trường rộng, micro xem ra không được "bắt" lắm nên mọi người nghe câu được câu chăng. Tôi không rõ nhà văn Võ Khắc Nghiêm khi rời diễn đàn đã nói hết ý của mình chưa?

Rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp, nhà phê bình văn học Phan Trọng Thưởng hứa "sẽ không làm mất thì giờ của đại hội", song khi ông đọc đến đoạn "Nhà văn cần phải..." thì nhận được một tràng vỗ tay. Nhà phê bình văn học Lê Quang Trang là người điều hành buổi tham luận, không biết có phải vì quá đồng cảm với bài viết của đồng nghiệp mà phải băn khoăn hỏi lại: "Tôi không hiểu vỗ tay tán thưởng hay vỗ tay mời xuống". Mọi người ồ lên, vỗ tay mời xuống. Nhà phê bình Phan Trọng Thưởng tiếp tục đọc. Các đại biểu lại vỗ tay... Nói chung, kể từ nhà văn Võ Khắc Nghiêm trở đi, hầu hết các nhà văn khi bị vỗ tay mời xuống, họ đều cố đọc cho hết bản tham luận. Một số đại biểu thấy vậy đã phải bình luận: "Cứ cố mà đọc trong tiếng vỗ tay ấy, không hiểu có tác dụng gì".

Công bằng mà nói, trong các phát biểu, các bản tham luận được trình bày tại đại hội không phải không có những ý kiến tâm huyết, những sáng kiến, đúc kết quý báu, nhưng, như trên đã nói, một phần do tâm thế của các đại biểu (gặp nhau, muốn hàn huyên, trao đổi riêng với nhau), một phần do trục trặc của hệ thống loa đài, và một phần do các đại biểu không biết cách "nhấn nhá" sao cho ấn tượng nên suốt thời gian diễn ra đại hội, mặc dù đã có gần bốn chục nhà văn tham gia phát biểu, song chỉ có dăm ba người là thoát khỏi tình cảnh bị vỗ tay... mời xuống. Tất nhiên, ở đây cũng cần phải nói thêm một điều: Dù không muốn nghe song không phải "tất cả mọi người đều đồng loạt vỗ tay" như một trang web nào đó đã thông tin. Sự thực là gần như những tiếng vỗ tay chỉ chủ yếu xuất phát ở mé phải của hội trường. Tiếc là trong các nhà văn tham gia Chủ tịch đoàn, không phải ai cũng dứt khoát, mạch lạc trong việc điều hành đại hội: Như khi nhận thấy đại biểu phát biểu dài dòng quá thì nhắc nhở ngay (có lẽ họ ngại "đụng chạm" vì sợ ảnh hưởng đến phiếu bầu chăng?), đừng để các nhà văn ngồi dưới phải... "ra tay trước". Nói gì thì nói, việc các nhà văn phải hành xử với nhau theo cách vỗ tay... mời xuống là một việc mà trong con mắt người đời, nó không được hay ho cho lắm.

Lộn xộn khi phát phiếu, lúng túng trong kiểm phiếu

Nhiều người đã biết, kể từ Đại hội Hội Nhà văn lần thứ IV đến trước thời điểm diễn ra Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII, chưa đại hội nào bầu được đủ số lượng thành viên Ban chấp hành như chỉ tiêu đặt ra. Thậm chí, cả 4 kỳ đại hội đó, chưa lần nào số lượng ủy viên Ban chấp hành của Hội tới được con số 10. Đại hội VII, tình hình còn "thê thảm" đến độ, số ủy viên Ban chấp hành quá ít đã đành (6 người), lại là số...chẵn (một việc tối kị vì gây khó cho việc biểu quyết). Bên thềm Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII, các báo đã nói "rát" về vấn đề này và bản thân nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội, ngay tại phiên họp dành riêng cho các nhà văn đảng viên hôm mùng 4 tháng 8 cũng đã phải đặt vấn đề: "Không phải các nhà văn ta hẹp hòi với nhau đâu, mà là chúng ta chưa biết cách tổ chức, khiến phiếu phân tán. Cần phải cải tiến phương pháp bầu cử".

Cải tiến như thế nào? Thật ra đáp án cũng đơn giản. Trong phiên họp ngày mùng 5 tháng 8, toàn thể các đại biểu có mặt đã biểu quyết thông qua việc Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa VIII phải có số lượng 15 ủy viên. Để có danh sách 15 người này, Ban Tổ chức đã cho phát phiếu để các hội viên giới thiệu những ứng viên mà mình tín nhiệm. Căn cứ vào sự giới thiệu ấy, Ban Tổ chức sẽ chọn từ cao xuống thấp 30 ứng viên (chứ không phải hàng trăm người như ở các đại hội trước) để sau đó, các đại biểu tiến hành bỏ phiếu chọn lấy 15 người. 

Phải nói, đây là một cách thức bầu cử khoa học. Song do Ban Kiểm phiếu chưa được thuần thục nên mặc dù đông tới 54 người, và với số phiếu thu về chỉ là 693, vậy mà phải mất tới...7 tiếng đồng hồ mới kiểm đếm xong. Kết cục, tới khi kết quả được công bố thì đã gần 7 giờ tối. Lúc này, các đại biểu, đa phần đều từ tuổi lục tuần trở lên đã thực sự...oải (vừa mệt vừa đói). Vậy mà ngay sau đấy, họ lại phải tiếp tục lao vào cuộc bỏ phiếu chính thức. Các thành viên tổ kiểm phiếu được kêu gọi hãy sẵn sàng làm việc... qua đêm.

Cũng cần phải nói thêm là sau khi kết quả đợt phát phiếu giới thiệu đề cử vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII được công bố, đã có 12 nhà văn nằm trong danh sách 30 người có số phiếu cao nhất được đề cử đã... xin rút, trong đó hầu hết là những nhà văn có số phiếu rất cao: Nhà thơ Trần Đăng Khoa (đứng thứ 3 trong số tất cả các nhà văn được đề cử), nhà văn Hữu Ước (thứ 5), nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (đứng thứ 8), nhà văn Hồ Anh Thái (thứ 9), nhà văn Phan Thị Vàng Anh (thứ 13), nhà văn Đỗ Bích Thúy (thứ 14), nhà thơ Bằng Việt (thứ 15)... Theo qui chế đã được đại hội thông qua, sẽ có 12 nhà văn đứng thứ tự từ 31 đến 42 được "đôn" vào danh sách này. Nhưng có lẽ vì thời gian quá muộn, mọi người xem chừng đã ngán việc bầu bán mất thì giờ nên đa phần đều ngúng nguẩy không muốn bổ sung thêm 12 ứng viên nữa, để rồi cuối cùng họ đi đến thống nhất chốt lại ở danh sách 18 người. 18 người để bầu lấy 15 người. Có lẽ, lâu lắm rồi ở Hội Nhà văn Việt Nam mới có trường hợp các nhà văn ta "thoáng" với nhau đến vậy.

Và đến lúc này thì việc phát phiếu gần như đã trở nên khó kiểm soát (Báo Tuổi trẻ phải dùng cái tiêu đề "Ồn ào và lộn xộn" để nói về hiện tượng này). Bình thường ra thì các đại biểu phải ngồi nguyên trên ghế của mình, tổ viên tổ kiếm phiếu xuống kiểm đếm từng bàn và phát phiếu trực tiếp. Đằng này, như ong vỡ tổ, các nhà văn người đứng người ngồi, người cắp cặp chực ra về, tổ kiểm phiếu thì luôn miệng thông báo: "Mời các nhà văn nào chưa có phiếu lên trên này nhận phiếu". Đã có những nhà văn lên nhận phiếu cho nhau. Bản thân tôi chứng kiến cảnh nhà văn Nguyễn Quốc Trung cầm một tập phiếu, hất cằm hỏi nhà báo Nhật Hoa Khanh: "Anh có phiếu chưa?". Nhà báo Nhật Hoa Khanh thật thà trả lời: "Cám ơn, tôi có rồi". Tôi thì tôi tin nhà báo Nhật Hoa Khanh lịch sự mà trả lời vậy thôi, chứ chắc ông chưa nhận lá phiếu nào đâu (vì ông không phải là hội viên). Nhưng thử đặt giả thiết đây là trường hợp người đang nằm trong danh sách 18 ứng cử viên kia thì sao? Mọi việc có đơn giản như vậy không?

Trung tướng - nhà văn Hữu Ước cũng được phát... 2 phiếu. Ông chỉ bỏ một phiếu, phiếu còn lại ông trao trả nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội. Nhà văn Hữu Ước kiên nhẫn chờ tới lúc ban kiểm phiếu công bố kết quả. Và ông thở phào nhẹ nhõm nói với tôi: "Thật may là đại hội đã bầu đủ 15 thành viên cho Ban chấp hành như đã thống nhất. Thế là tốt, chứ nếu không bầu đủ, tôi sẽ yêu cầu bỏ phiếu lại".

Nữ nhà báo Vĩnh Quyên, hiện công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam đã kể cho tôi một câu chuyện: Tối ấy, sau khi phát phiếu cho một số nhà văn, một thành viên tổ kiểm phiếu đã cầm một xấp phiếu bước ra ngoài cửa hội trường. Tò mò đi theo, nhà báo Vĩnh Quyên bất ngờ thấy ông nọ cho ngay xấp phiếu vào cặp. Thấy vậy, chị nhắc ngay: "Sao anh lại cho phiếu vào trong cặp như thế". Ông nọ (nghe đâu là một nhà văn miền Trung) vội giải thích: "Tôi đi tìm mọi người để phát". Vĩnh Quyên nghe vậy bảo ngay: "Nếu thế thì anh phải cầm phiếu trên tay chứ". Ông nọ lúng túng, đành phải lấy phiếu ra...

Trong cuộc trao đổi với tôi và các nhà thơ Trần Quang Quý, Bùi Đức Khiêm  trong buổi chiều bế mạc đại hội, nhà thơ Quang Hoài, một thành viên tổ kiểm phiếu cũng thừa nhận, việc Ban Tổ chức vừa phát phiếu vừa in phiếu (chắc vì lý do thời gian gấp gáp - PK) đã khiến chuyện kiểm soát phiếu trở nên khó khăn hơn. Ông thật thà cho hay, hiện ông còn giữ cả tập tới vài chục phiếu in thừa trong cặp.

Với việc bầu ra được một Ban chấp hành đủ 15 người, trong đó có một nhà văn dưới tuổi 50 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Vũ Hồng), bốn nhà văn dưới tuổi 60 (Trần Đức Tiến, Nguyễn Quang Thiều, Văn Công Hùng, Võ Thị Xuân Hà), Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII được xem là tương đối thành công về mặt nhân sự. Tuy nhiên, nhìn lại hơn hai ngày tiến hành đại hội, trong khi việc kiểm điểm, chất vấn các thành viên Ban chấp hành khóa VII chưa được tiến hành, một số kiến nghị của hội viên về bổ sung điều khoản "Chủ tịch Hội không được làm quá hai nhiệm kỳ" cùng một số vấn đề khác trong Điều lệ Hội chưa được lấy biểu quyết thông qua; hầu hết thời gian dành để đọc tham luận và bầu cử, vậy mà việc đọc tham luận thì có tới 90% đại biểu bị vỗ tay... mời xuống, việc bầu cử thì xảy ra những chuyện lộn xộn như trên - đây thực sự là vấn đề cần phải lên tiếng cảnh báo để các kỳ đại hội sau, chúng ta tổ chức được chặt chẽ, khoa học hơn. Xin đừng coi là việc nhỏ. Cứ thử hình dung, chỉ cần một đôi lá phiếu bị đưa "nhầm địa chỉ" thôi, tình thế có thể sẽ khác. Thì trong đại hội này, chẳng đã có một ủy viên Ban chấp hành chỉ hơn người bị trượt có đúng một phiếu (354 và 353) đó sao?

PHẠM KHẢI

Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp

2010-08-06 @ 14:33 in Thông tin tổng hợp

Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII thành công tốt đẹp

Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, xây dựng, sáng tạo, chiều hôm nay, thứ sáu 6-8-2010, tại hội trường Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (135 phố Nguyễn Phong Sắc, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội), Đại hội toàn quốc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII đã thành công tốt đẹp.

Từ mấy hôm trước và nhất là sáng ngày 4-8, hơn 700 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Thủ đô Hà Nội tham dự Đại hội, thực hiện trách nhiệm với sự kiện chính trị quan trọng của các nhà văn Việt Nam và những người yêu văn học nước nhà. Buổi chiều, đã diễn ra Hội nghị đại biẻu đảng viên, do Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam triệu tập.

Trong ngày hôm qua, 5-8, Đại hội đã tiến hành họp phiên toàn thể để thực hiện các nội dung: Bầu Đoàn chủ tịch, Đoàn thư kí, Ban thẩm tra tư cách đại biểu tham gia Đại hội;  nghe Báo cáo kết quả đại hội các chi hội nhà văn ở cơ sở; Báo cáo kiểm điểm của Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII (nhiệm kì 2005-2010); Thông qua Quy chế bầu Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa VIII; Bầu ban kiểm phiếu; Thông qua biểu quyết số lượng, nhân sự và bầu Ban chấp hành Hội Nhà văn khóa VIII. Đại hội cũng nghe gần 20 tham luận của các nhà văn, nhà thơ, nhà lí luận phê bình văn học , với nhiều nội dung phong phú, sâu sắc. Các bài tham luận thể hiện tâm huyết, ý thức, trách nhiệm của các nhà văn đối với nền văn học cách mạng của nước nhà; đồng thời nhấn mạnh đến sứ mệnh, thiên chức cao cả của nhà văn đối với sự phát triển lành mạnh của xã hội, chấn hưng nền văn hóa dân tộc, xây dựng đất nước văn minh, cường thịnh và xây dựng những phẩm chất nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Sáng nay, ngày 6-8, Đại hội đã chính thức khai mạc. Đồng chí Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng chí Phùng Hữu Phú - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; PGS, họa sĩ Vũ Giáng Hương - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam cùng nhiều đồng chí lãnh đạo, đại diện các Bộ, Ban Ngành của Trung ương và Hà Nội đã tới dự; Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi lẵng hoa tới chúc mừng Đại hội.

Thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội - trình bày dự thảo Báo cáo tổng kết mang tiêu đề Vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá con người. Báo cáo khẳng định 5 nét mới trong đời sống văn học Việt Nam thời gian qua: Một là, tiếp tục viết về đề tài chiến tranh cách mạng nhưng mạnh hơn là sáng tạo trong cuộc đấu tranh để công nghiệp hoá đất nước, các nhà văn có mặt ở những mũi nhọn của đời sống, chủ đề lớn của văn học ta hôm nay là đạo đức xã hội. Hai là, các nhà văn quan tâm hơn đến yêu cầu kết tinh văn học, dồn sức cho những tác phẩm lớn mang ý nghĩa tổng kết một đời văn. Ba là, ý thức bảo vệ truyền thống, chống lại cuộc xâm lăng văn hoá từ bên ngoài. Bốn là, xu hướng hiện đại hoá văn học, kết hợp với nâng cao một bước sự chuyên nghiệp hoá nghề văn. Năm là, xuất hiện nhiều tài năng trẻ, thể hiện rõ hơi thở, giọng điệu của đời sống hôm nay. Báo cáo cũng nêu bật kế hoạch và lộ trình nâng cao chất lượng lí luận phê bình, như là một nỗ lực khắc phục cái yếu kém tồn đọng nhiều thập kỉ vừa qua; Ban Chấp hành đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, có lẽ là nhiều kỉ lục so với các nhiệm kỳ từ ngày có Hội; mở nhiều lớp tập huấn và mở Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du; các hội thảo về Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Võ Quảng, Nam Trân...đã để lại tiếng vang trong đời sống văn học. Nhiệm kỳ vừa qua, đã đưa được Ngày thơ Việt Nam vào đời sống lễ hội, năm sau nhiều sáng kiến hơn năm trước và đặc biệt hơn là lần đầu tổ chức Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam nhưng đã để lại trong lòng bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu đậm. Chủ tịch Hữu Thỉnh nhấn mạnh: "Chúng ta đang tiến sâu vào thế kỉ XXI (...) Đó là thế kỉ giải phóng các tiềm năng của con người, đó cũng là thế kỉ cần nạp năng lượng văn hoá tối đa cho con người, giúp con người thực sự trở thành Con Người, với tư cách vừa là chủ thể riêng rẽ vừa là thành viên trong một cộng đồng trách nhiệm. Trong cuộc chuyển đổi vĩ đại của dân tộc, các nhà văn chúng ta nhận lấy sứ mệnh nạp năng lượng tinh thần cho xã hội, dồn hết tâm huyết và tài năng vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá của con người.

Tiếp đó đồng chí Trương Tấn Sang - Ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã trao tặng bức trướng của Ban chấp hành Trung ương Đảng tặng Hội nhà văn Việt Nam mang dòng chữ "Đoàn kết - Dân chủ - Xây dựng - Sáng tạo" và phát biểu với Đại hội, ghi nhận những đóng góp của các thế hệ nhà văn Việt Nam vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới đất nước hôm nay, bày tỏ sự tin tưởng của Đảng đối với các nhà văn Việt Nam đang lao động, sáng tạo vì sự phồn vinh của đất nước.

Phát biểu với Đại hội, PGS, họa sĩ Vũ Giáng Hương - Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam - hy vọng các nhà văn Việt Nam tiếp tục sáng tạo nghệ thuật để có thêm nhiều tác phẩm hay và Hội nhà văn Việt Nam tiếp tục được đổi mới và phát triển vì một nền văn học Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đại hội đã bầu 15 nhà văn vào Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII. Kết quả như sau:

 * Tổng số phiếu phát ra:  671

 * Tổng số phiếu thu về 667

 * Số phiếu không hợp lệ: 1

1. Nhà thơ HỮU THỈNH - Chủ tịch  Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII -  618 phiếu

2. Nhà văn NGUYỄN TRÍ HUÂN - Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Tổng biên tập báo Văn nghệ - 574 phiếu

3. Nhà thơ NGUYỄN QUANG THIỀU - Ủy viên Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Ủy viên Ban biên tập Báo Vietnamnet - 509 phiếu

4. Nhà văn TRUNG TRUNG ĐỈNH - Chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 506 phiếu

5. Nhà phê bình văn học LÊ QUANG TRANG - Chủ tịch Hội đồng Lí luận phê bình văn học Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh - 490 phiếu

6. Nhà văn KHUẤT QUANG THỤY - Chi hội trưởng chi hội nhà văn quân đội - 455 phiếu

7. Nhà văn NGUYỄN THỊ THU HUỆ - Trưởng phòng phim truyền hình Đài truyền hình Việt Nam - 440 phiếu

8. Nhà văn TRẦN ĐỨC TIẾN - Trưởng ban công tác nhà văn khu vực miền Đông Nam bộ - 434 phiếu

9. Nhà văn ĐÀO THẮNG - Chuyên viên Ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam - 424 phiếu

10. Nhà văn VÕ THỊ XUÂN HÀ - Phó ban công tác nhà văn trẻ Hội nhà văn Việt Nam khóa VII - 414

11. Nhà văn ĐÌNH KÍNH - Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng, Chi hội trưởng Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Hải Phòng - 399 phiếu

12. Nhà văn VŨ HỒNG - Phó trưởng ban Liên chi hội Nhà văn Việt Nam đồng bằng sông Cửu Long - 390 phiếu

13. Nhà thơ NGUYỄN HOA - Phó trưởng ban Ban Tổ chức và Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam - 372 phiếu

14. Nhà thơ VĂN CÔNG HÙNG - Phó chủ tịch Hội VHNT tỉnh Gia Lai - 371 phiếu

15. Nhà phê bình văn học PHAN TRỌNG THƯỞNG - PGS, TS Ngữ văn, Viện trưởng Viện Văn học, Tổng biên tập tạp chí Nghiên cứu văn học - 354 phiếu

Vào lúc 14 giờ chiều nay, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII họp phiên đầu tiên bầu các chức danh lãnh đạo hội. Kết quả,:

Ban thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII gồm 5 nhà văn: Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Lê Quang Trang, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Thị Thu Huệ.

Nhà thơ Hữu Thỉnh được bầu lại làm Chủ tịch Hội.

Nhà văn Nguyễn Trí Huân, nhà lí luận phê bình Lê Quang Trang và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được bầu là Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.

Nhà văn Khuất Quang Thụy được bầu là Trưởng Ban kiểm tra của Hội. 

Chiều nay, Đại hội tiếp tục thảo luận tại hội trường và thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Hội Nhà văn Việt Nam, thông qua Nghị quyết và bế mạc Đại hội.

HOÀI KHÁNH

Cửa Mẫu

2010-08-03 @ 00:55 in Thơ

Cửa Mẫu

I

 

Mẫu nâng niu con ánh trăng

Tiếng chuyền cành, tiếng hú

Da thịt con yêu trải trong đêm tối

Dựng tầng mây mưa nguồn

 

Cành cây la đà mặt nước

Một con chim vừa đậu

 

Giờ chỉ mình con thấy chú chim nhỏ kia rất xa con đường

Xa mảnh vườn, xa những đàn chim khác

Con lặng lẽ đi qua vầng mặt trời đáy nước

Nhìn về hướng bầu trời mở đôi cánh

 

Đỉnh cây vươn mỏ con chim

Đang cúi xuống mớm vào miệng con từng hớp gió

 

Tiếng hạt vỡ trong ngực

Bãi trống và quả xanh

Qua rừng sâu tán lá rậm rạp

 

Con sơ sinh trên đất

Tập vỗ cánh, quạt gió vào lòng tổ

Bơi qua sông đứt đuôi nòng nọc

Bật lá mầm bay đi thênh thang

 

Hơi nước bến sông

Không gian đặc thời gian nhầm lẫn

Ngọn khói lên cao lan xa

Biết mình bơi trong biển sương

 

Không phải sương mà đang mưa

Ngược đỉnh tháp trong veo sáng láng

 

Hơi thở, cơ bắp chắc, lá reo...

Người đã khuất bỗng về trong hoa nở

 

Con rùng mình một bến bờ

Mặt nước nghẹn nơi không sóng vỗ

 

Ngụm nước mát trôi qua chầm chậm...

 

Chợt nhớ mùa nước lớn tràn hang dế nhỏ

Lóc bóc tiếng bong bóng phun lên từng đợt

Cho con biết được đâu là cửa hang...

 

II

 

Đặt con lên đất

Lòng sông đau xé thân đêm

 

Thiên nhiên láng ướt

Thân cây rã rời từng đốt

Nước xiết

Chảy nhanh hơn

 

Con bật khóc cuốn đi lưới nhện

Tiếng con vạc khàn khàn

Tàn tro loé sáng

Mặt trăng run

 

Nhặt viên sỏi vẽ lên mặt đất

Một cánh đồng

Chú bê non ngơ ngác

 

Tô đậm nét chú bê cúi xuống gặm cỏ

 

Hướng khác vẽ thêm con mắt

Mắt muông thú hay mắt người

Viết vội dòng chữ vào ô trống còn lại.

 

III

 

Giọng nói rất gần

Dưới bình minh con hãy lột xác!

 

Hoa quả

Lửa đèn

Âm dương chén nước

 

Như trườn qua cơn chạng vạng

Rút dần cơ thể khỏi lớp vỏ bọc

Con hớp những giọt sương

 

Đống vỏ bọc chất cao xám xịt

Đã xa tầm tay với

 

Đoàn người dìu nhau bấy bớt

Cuối bình minh.

 

IV

 

Bóng cây oà vỡ dưới chân

Hình bản đồ rách nát

Hay xác chết nửa dơi nửa chuột

 

Con hốt hoảng đan lưới sắt

Đặt bàn chông quanh mình

Mài con dao

Thủ sẵn bao diêm

 

Chân trời càng gần

Bóng tối càng trôi khủng khiếp

Nhanh hơn mọi cảm xúc

 

Con vẫn dồn lo âu, căm tức

Trên mặt đất bóng đêm đang xoá sạch.

 

V

 

Con đã đuổi theo con mồi nhỏ

Tung mình lên mặt sóng rồi mất hướng

 

Nước rút

Trong giấc mơ gần sáng

 

Xương cốt con đau

Đuôi và vây lưng tê cứng

Có bàn tay luồn những sợi dây

Kéo con lê lết

 

Họ đã dừng lại trú mưa

Bất ngờ phóng thích con

Gần chân sóng

 

Con biết ơn trận mưa

Sấm to và gió mát.

 

VI

 

Cha vừa gượng dậy sau trận ốm liệt, men dần ra cửa, lọt vào khối vuông ánh sáng

 

Người cố đưa ngón tay lên cao và bảo con cánh cam trên tán lá kia cha nhìn thấy lần đầu

 

Con kể những chuyện vô tình lúc cha hôn mê. Chuyện đám mây lớn thường bay chậm qua nhà mình. Chiếc giếng khơi dâng hơi nước lên cửa sổ. Chuyện tiếng con chim khách làm mọi người cùng nhìn vào bát thuốc

 

Cơ thể cha tựa sông cạn, củi khô, hạt lép

Chùm quả nặng đung đưa trong gió mạnh

 

Cha bỗng thều thào hãy dìu cha đi nghỉ

Tiếng lá khô lăn nhanh trên mái nhà làm cha và con cùng rơi nước mắt.

 

VII

 

Vũ trụ choàng lên chiếc áo đen

chỉ hở đôi mắt cho con cầu nguyện

 

Lầm rầm mà vẫn nghĩ

... bàn tay trắng máu đen lưỡi trắng nước mắt đen lưng trắng vành tai đen lọn tóc trắng mồ hôi đen...

 

Để màu đen tràn lên mọi điều sẽ kết thúc

Hãy nguyện cầu cứu lấy nhân gian

 

Ngọn hải đăng...

Bếp sáng...

 

Nhìn hướng bất kỳ như nhìn lên bảng

Học cách phân màu, đánh vần chữ cái

Đây ngã tư trắng

Mặt đất, mặt biển trắng

Cụ già, chiếc ghế, thiếu phụ trắng

Viên thanh tra, người nông dân màu trắng...

 

Miệng đọc to lòng còn tạp niệm

... lưỡi trắng nước mắt đen lưng trắng vành tai đen lọn tóc trắng...

 

VIII

 

Co quắp con ngủ trong gió lạnh

Mơ thành bào thai

Cuống nhau nối mặt trời

 

Bay trên những tàng cây

Mắt nhìn xanh tiếng nấc

 

Gõ nhịp chân lên cơ thể Người

Con tỉnh giấc

 

Nơi ấy bắt đầu con đường

Chú ngựa non liêu xiêu đứng dậy

Đàn sâu bò khỏi thân cây

Con tép riu vọt lên từ họng nước.

 

IX

 

trống chiêng bát bửu

mở hội long đình  

múa hát cao xanh

công đồng tứ phủ

mở lòng đệ tứ

bao dung mắt nhìn

mưa thuận gió êm

khâm sai ân huệ

tâm thành kính lễ

tứ vị chầu bà

khăn gấm áo hoa

đi tươi về tốt

thuận buồm xuôi ngược

má phấn môi son

lá phách sênh tiền 

rồng thiêng bay lượn

năm toà quan lớn

phơ phất bàn tay

tài cao đức dày

long lanh ngọn lửa 

vuốt ve che chở

thương con tò vò

con tằm nhả tơ 

áo khăn lật phật

phù sa ôm ấp

lòng sông gió về

dưa gang dưa lê

sen cau ngan ngát

gái trai vào hạt

dẻo thơm ân cần

làm chiếu làm chăn

làm hoa làm bướm

mặt mày hơn hớn

làm đất làm trời

cây cỏ tốt tươi

mưa mau sầm sập

Hải Phòng, 5-2010

MAI VĂN PHẤN

Tọa đàm về tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng

2010-07-30 @ 14:53 in Thông tin tổng hợp

Tọa đàm về tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng

Sáng nay, thứ sáu 30-7-2010, tại trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, diễn ra cuộc tọa đàm về tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009) của Nguyễn Quốc Hùng - hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Tác giả hiện là công nhân Cảng Hải Phòng.

Các nhà văn Lưu Văn Khuê, Vũ Hoàng Lâm, Ngọc Châu, Hoài Khánh, Cao Năm, Nguyễn Long Khánh, Lương Văn Chi, Đình Kính ... đã có tham luận hoặc bài phát biểu tại cuộc tọa đàm, khẳng định: tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của anh viết về một làng quê nhỏ bé, khiến ta liên tưởng đến một câu chuyện cổ tích về cuộc đời của riêng từng nhân vật, của riêng làng quê ấy, một vùng đất nhỏ tới nỗi gặp một trận mưa to là lụt trắng cả làng, gần hai trăm sinh linh phải dồn về trú ngụ tại khoảnh đất đình. Hai tuyến nhân vật thiện và ác được thể hiện rõ nét. Cuộc xung đột âm thầm giữa hai dòng họ trong làng là diễn biến chính của câu chuyện. Mô-típ tuy đã cũ nhưng tác giả muốn làm mới nó bằng cách tập trung khai thác những xung đột nội tâm của từng nhân vật. Và xung đột của những con người ấy như tiền định bắt phải thế, như giời xui phải làm thế chứ cuộc sống thường ngày của họ hoàn toàn không có nguyên cớ gì để tạo nên mâu thuẫn, mà "Tất cả chỉ là dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi". Tất cả các nhân vật chính trong tiểu thuyết đều có tuổi thọ cao, nhưng rồi khi tiến tới cái chết mỗi người phải chịu một hoàn cảnh thật công bằng với những gì họ đã làm ở trần thế. Tác giả muốn đề cập tới sự nhân quả ở đời. Trong tiểu thuyết có một số chi tiết huyền ảo, thần thoại nhưng tất cả đều giải thích được nguyên nhân từ đâu. Tất cả từ tâm con người mà ra.

Vốn sống thực tế phong phú là điểm mạnh trong sáng tác của Nguyễn Quốc Hùng. Qua tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp, anh còn thể hiện rõ được tính cách thâm trầm, suy tư thường ngày của anh.

Mấy chục năm trở lại đây, những người công nhân trực tiếp đứng máy trong các xưởng thợ tham gia sáng tác văn chương không nhiều. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng là một trường hợp hiếm hoi, nhất lại viết tiểu thuyết, thì thật đáng trân trọng.

HOÀI KHÁNH

Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức

2010-07-25 @ 00:32 in Bàn về văn chương

Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức

Xưa nay, văn học thiếu nhi luôn là mảnh đất đầy tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức. Sở dĩ như vậy là vì văn học thiếu nhi tuy có đề tài phong phú, hấp dẫn nhưng lại khó viết, khó hay và khó tìm độc giả. Vì cuộc sống là một dòng chảy không ngừng nên theo thời gian, độc giả của văn học thiếu nhi cũng đòi hỏi các tác giả phải đổi mới cách nhìn, cách viết cho phù hợp với thời đại mới.

Các bạn nhỏ ngày nay vừa "già" hơn trong suy nghĩ và hành động, lại tỏ ra "non" hơn trong cảm xúc so với các thế hệ trước.Vậy nên viết cái gì, viết như thế nào cho lứa tuổi măng non cùng việc tìm ra một đường hướng phát triển cho văn học thiếu nhi là những vấn đề đang được đặt ra cho người sáng tác và tất cả những ai quan tâm đến mảng văn học này.

Mảnh đất đầy tiềm năng

Nhiều độc giả hẳn còn nhớ, những năm 80, 90 của thế kỉ trước, trong mạch nguồn đổi mới văn học mở ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, văn học thiếu nhi thời kì này xuất hiện nhiều tác giả, tác phẩm như Nguyễn Quang Sáng với Dòng sông thơ ấu, Phùng Quán với Tuổi thơ dữ dội, Duy Khán với Tuổi thơ im lặng, Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời, Sơn Tùng với Búp sen xanh... Có thể nói rằng, các tác phẩm ấy cho đến nay vẫn còn đầy sức sống và khả năng chinh phục người đọc. Những năm giao nối giữa hai thế kỉ, khi thế hệ trẻ Việt Nam bắt đầu làm quen và say mê với internet, với game online thì cũng là lúc một loạt các tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản như Dế mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài), Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa), Đất rừng phương nam (Đoàn Giỏi), Quê nội (Võ Quảng), Bầu trời trong quả trứng (Xuân Quỳnh)... Những tác phẩm này được tôn vinh trong "Tủ sách vàng" dành cho thiếu nhi của Việt Nam, được dịch ra nhiều thứ tiếng và được thiếu nhi ở nhiều nước đón nhận nồng nhiệt. Dế Mèn và Dế Trũi trong Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài đã trở thành các nhân vật kịch mà trẻ em Nga rất thích nếu được vào vai trên sân khấu. Nhân vật Cục và Cù Lao trong Quê nội của Võ Quảng được độc giả nhí nhiều nước hâm mộ không kém gì Huckle Berry Finn trong Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn và Tom Sawyer trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer do Mark Twain viết. Những vần thơ của Trần Đăng Khoa cũng được nhiều bạn nhỏ Cuba thuộc nằm lòng... Nhà xuất bản Kim Đồng thời gian này đã đầu tư cho nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thực hiện bộ sách Kính Vạn hoa - bộ sách sinh hoạt thiếu nhi dài kì đầu tiên ở Việt Nam, với 45 tập (được phát hành từ 1996 và kết thúc ở 2002). Như vậy, việc tìm về và trân trọng các giá trị văn học thiếu nhi trong quá khứ đã góp phần định hướng thẩm mĩ cho bạn đọc nhỏ tuổi khi văn hoá đọc đang có nhiều thay đổi.

Bên cạnh đó, các cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi đã được hai nhà xuất bản ở hai miền Bắc - Nam tổ chức rầm rộ. Qua các cuộc vận động của Nhà xuất bản Kim Đồng, hàng loạt tác phẩm được giải như Đợi mặt trời của Phạm Ngọc Tiến, Bỏ trốn của Phan Thị Thanh Nhàn, Bí mật hồ cá thần của Nguyễn Quang Thiều, Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương, Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân, Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn... đã ghi nhận sự cố gắng của nhiều tác giả. Cây bút Nguyễn Ngọc Thuần xuất hiện với tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ trong cuộc vận động "Văn học thiếu nhi - Vì tương lai đất nước" của Nhà xuất bản Trẻ, sau đó là tác phẩm Một thiên nằm mộng được giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá cao phong cách mới, trẻ trung trong văn học thiếu nhi của tác giả này. Viết cho thiếu nhi, còn phải kể đến các nhà văn tâm huyết như Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn, Lê Phương Liên cùng một đội ngũ khá đông các cây bút văn, thơ khác liên tục có sách xuất bản cho thiếu nhi như Phan Hồn Nhiên, Nguyên Hương, Hồ Việt Khuê, Lê Hồng Thiện, Hoài Khánh, Phạm Đình Ân... Những năm gần đây, với sự ra đi của các cây đại thụ như Võ Quảng, Phạm Hổ, cùng tình trạng tuổi cao sức yếu của một thế hệ nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi như Định Hải, Vũ Tú Nam, Nguyễn Kiên, Phong Thu, Thy Ngọc, Nguyễn Ngọc Kí..., yêu cầu tiếp nối nguồn mạch cho văn học thiếu nhi trở nên cấp bách.

Gần đây, Nguyễn Nhật Ánh đã làm sôi động diễn đàn văn học thiếu nhi với các tác phẩm Kính vạn hoa, Chuyện tình xứ Lang Biang, Tôi là Bêtô, Cho tôi một vé đi tuổi thơ... tạo nên một "làn sóng đọc sách" trong các em nhỏ. Góp phần khởi sắc cho mảng văn học này, thể hiện qua các cuốn sách thường xuyên xuất hiện trên thị trường, còn có Hồ Phương với Cha và con, Lý Lan với Bí mật giữa tôi và thằn lằn đen, Lưu Thị Lương với Con cá mày ở trong nhà, Trần Thị Hồng Hạnh với Chuyện của nhóc Bill, Trần Hoài Dương với Nàng công chúa biển, Lê Phương Liên với Cuộc phiêu lưu của chú Rối Tễu, Nguyễn Đình Chính với Ngàn dặm xa, Đoàn Thạch Biền với một loạt tác phẩm Những ngày tươi đẹp, Tôi thương mà em đâu có hay, Tôi hay mà em đâu có thương, Tình nhỏ làm sao quên, Mùa hè khắc nghiệt, Phượng yêu... "Tủ sách Tuổi mới lớn" với một số cây bút trẻ như Nguyễn Thuý Loan, Nguyễn Thị Yến Linh, Nguyễn Thiên Ngân cùng các cây bút miền núi tham gia viết cho thiếu nhi như Nguyên Bình, Đoàn Hữu Nam, Đoàn Lư... cũng ít nhiều mở ra một triển vọng mới.

... và nhiều thách thức

Trên thế giới đã và đang xuất hiện không ít tác phẩm hay viết cho thiếu nhi và tuổi mới lớn như Bao Công xử án, Phong thần diễn nghĩa, bộ Tôn Ngộ Không (mô phỏng theo các truyện cổ Trung Quốc) và sau này là Đôrêmon, Harry Potter... Những truyện tranh này đã làm sôi động không khí đọc sách của trẻ em nhiều nước. Bạn đọc nhỏ tuổi ở nước ta một thời cũng đã từng say sưa với tủ sách thiếu nhi của nền văn học Nga (nhất là những cuốn sách in rất đẹp do Nhà xuất bản Cầu vồng Moskva ấn hành) như Chuyện phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn (Nikolai Nosov), Ở xứ cỏ rậm (Vladimir Bragin), Chiếc chìa khóa vàng hay chuyện li kì của Buratino (Aleksey Tolstoy), Thời thơ ấu (Maxim Gorki), Timua và đồng đội (Gaida)... và các tác phẩm văn học thiếu nhi đặc sắc của nhiều nước khác như truyện cổ Grim, truyện cổ Andersen, Không gia đình (Hector Malot)... Ở Việt Nam, điểm qua những tờ báo hiện nay, có khoảng 600 - 700 ấn phẩm báo và tạp chí nhưng chỉ có rất ít tờ dành cho lứa tuổi măng non. Dường như mọi người nghĩ rằng, chỉ cần một số tờ Hoạ mi, Nhi đồng, Thiếu niên tiền phong, Hoa học trò, Khăn quàng đỏ, Mực tím, Áo trắng, Văn học và Tuổi trẻ... là đủ đem lại những thông tin về học đường và thể hiệnđủ đời sống tinh thần phong phú của các em. Thực ra, nhu cầu được đọc, được học, được tìm hiểu các kiến thức khoa học và đời sống từ phía các em là rất lớn. Và dù vẫn có những tác phẩm viết cho thiếu nhi như đã nêu trên, nhưng số lượng chưa nhiều và chất lượng chưa đáp ứng được đòi hỏi của đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi. Có thể nói rằng, thời gian gần đây ở nước ta, văn học thiếu nhi ít được nhìn nhận một cách bình đẳng so với nhiều mảng văn học khác.

Không ít người sáng tác có suy nghĩ kì cục là viết cho thiếu nhi hay mấy cũng chỉ là nhà văn... trẻ con. So với các giai đoạn trước, hiện nay số nhà văn chuyên tâm cho văn học thiếu nhi trở nên thưa thớt. Một số cây bút trẻ viết được vài tác phẩm cho thiếu nhi nhanh chóng chuyển sang viết cho người lớn. Điểm lại các giải thưởng, vài năm trước chỉ mới có tác phẩm Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương và Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về văn học thiếu nhi và bộ Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh được tặng thưởng. Từ năm 2006 trở lại đây, không có tác phẩm văn học thiếu nhi nào được giải của Hội Nhà văn. Đó là điều đáng để chúng ta suy nghĩ.

Có thể nói, sách cho thiếu nhi đọc ở Việt Nam hiện nay "thừa" nhưng vẫn "thiếu". "Thừa" bởi sự xuất bản tràn lan truyện tranh nước ngoài trong đó không ít cuốn mang tính bạo lực, kích động, song lại thiếu các tác phẩm văn học hay, mang tính giáo dục và mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Có lẽ chưa bao giờ bạn đọc nhỏ tuổi được tiếp cận với văn học thiếu nhi thế giới kịp thời như bây giờ, trong khi trên các quầy sách ít thấy tác phẩm hay nào của văn học thiếu nhi trong nước. Trẻ em hiện nay lại thích đọc truyện tranh hơn truyện chữ và hầu như không đọc thơ... Văn hóa nghe nhìn lấn át văn hóa đọc, các sản phẩm thời thượng lấn át các giá trị đích thực - đó là một thực tế tất yếu trong sự vận động phát triển của xã hội, nhưng phải chăng vì thế mà chúng ta quay lưng lại với văn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng?

Viết cái gì và viết như thế nào cho thiếu nhi?

Đây là câu hỏi không dễ trả lời đối với những người cầm bút. Theo nhà văn Trần Đức Tiến (người đạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Bước qua hai thế giới" do Nhà xuất bản Kim Đồng, Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch phối hợp tổ chức gần đây), văn viết cho thiếu nhi của ta còn nghiêm trang quá, lên mặt "đạo đức" quá, trong khi phẩm chất đầu tiên của nó phải là hồn nhiên, tự nhiên, gần gũi với đời sống các em. Hai là, văn học thiếu nhi còn thiếu sự hài hước và trí tưởng tượng. Hài hước giúp các em duy trì được trạng thái hưng phấn, đọc mãi không chán; tưởng tượng dẫn dắt các em đến những vùng đất lạ, chân trời lạ, như đi du lịch. Ba là, tốc độ còn chậm - mạch văn, sự biến hóa của câu chữ và diễn biến của những tình tiết đều chậm - trong khi nhanh mới tạo ra sự cuốn hút. Trẻ em không thích rề rà, chỉ chậm một chút là sự chú ý của chúng bị ngắt quãng. Bởi vậy khi viết cho thiếu nhi, người viết cần tránh những nhược điểm này.

Viết cho thiếu nhi là lựa chọn không đơn giản. Trẻ em khác người lớn, nhận thức chưa chín, kinh nghiệm sống chưa có, tâm hồn mỏng manh, trong sáng như cây non. Làm sao viết để các em đọc thấy đúng là mình, gần gũi với cuộc sống và suy nghĩ, tâm lí, xúc cảm của mình, không lên gân xơ cứng... - đó là thử thách đối với người sáng tác. Ở một số tác phẩm viết cho thiếu nhi, quả thực có tình trạng áp đặt suy nghĩ của người lớn. Có truyện mang tính dạy dỗ như những bài học đạo đức, công dân. Đã đến lúc người viết cho thiếu nhi phải đổi mới cách viết và cách nhìn - mỗi một tác phẩm phải là tiếng nói gần gũi với các em, phải là sự cộng hưởng những tâm tư, tình cảm của các em và mang không khí, nhịp điệu của cuộc sống hiện đại, chứ không thể áp đặt cái hay của một thời vào mọi thời. Nói cách khác, người viết phải thực sự hiểu các em và thời đại các em đang sống. Nhà văn lão thành Thy Ngọc từng cho rằng: "Viết cho thiếu nhi trước hết phải có tính giáo dục, song lại phải giản dị mà vẫn hấp dẫn. Ngay cả đến giờ, càng viết tôi càng thấy khó. Bởi hấp dẫn không phải là cầu kì, mới lạ, mà là cách đặt vấn đề như thế nào. Nhưng trên hết, mình phải hết lòng với các em thì mới viết được. Phải chăng vì vậy mà những cây viết trẻ hiện nay hình như không mấy tâm huyết với đề tài thiếu nhi?".

Giải pháp nào để văn học thiếu nhi phát triển?

Sáng tạo cho thiếu nhi hôm nay cần một sự nỗ lực đổi mới hết mình. Những người cầm bút viết cho lứa tuổi này cần phải làm sao sáng về nhận thức và trong về nghệ thuật như cách nói của nhà văn Lê Phương Liên, Trưởng ban Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Đi tìm một giải pháp cho sự phát triển của văn học thiếu nhi là điều khó khăn, nhưng cũng vì thế mà cần những suy nghĩ, tìm tòi.

Trước hết, cần khơi dậy văn hoá đọc. Việc cho trẻ em tiếp cận các tác phẩm văn học thiếu nhi ưu tú từ nhỏ là một biện pháp hết sức quan trọng góp phần định hướng nhân cách và phát triển tâm hồn, trí tưởng tượng của trẻ. Trong thời đại ngày nay, làm sao để các em say mê những trang sách hơn trò chơi game trên máy tính, yêu thích truyện chữ hơn truyện tranh, đó là việc không dễ dàng và cần có sự quan tâm sâu sát của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Ở nhiều trường hợp, các bậc phụ huynh cũng không nên "cắt giảm" thú vui được nghe bố mẹ đọc sách trước khi đi ngủ của con em mình. Bên cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền cho văn học thiếu nhi cần được đẩy mạnh. Các cơ quan truyền thông, xuất bản cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học thiếu nhi.

Nhà văn Tô Hoài từng nói, sở dĩ văn học thiếu nhi ở ta tồn tại như hôm nay là do chúng ta đang thiếu một phong trào viết cho thiếu nhi. Muốn tạo ra được phong trào này phải có nhiều cuộc thi, phải quan tâm và chăm lo bồi dưỡng đội ngũ viết cho thiếu nhi, có những hỗ trợ thích đáng, kịp thời để tác phẩm có chất lượng đến được với bạn đọc. Tác giả Dế Mèn phiêu lưu kí, Đảo hoang đã quả quyết: "Nếu trao giải thưởng một tỉ đồng thì sách thiếu nhi sẽ hay ngay". Chúng ta chưa đến mức quá bi quan về lực lượng sáng tác cũng như đối tượng tiếp nhận mảng văn học này, vấn đề là phải tạo ra được một phong trào viết cho thiếu nhi hiệu quả, thiết thực và lâu dài. Chỉ khi nào tác phẩm văn học cho trẻ em thực sự được chú ý, được đầu tư và quảng bá mạnh thì mới có thể thay đổi suy nghĩ của người viết, thúc đẩy một số cây bút tiềm năng dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài này.

Trên thực tế những năm gần đây, sự quan tâm dành cho văn học thiếu nhi mới chỉ là bề nổi và dừng lại ở những hội nghị, hội thảo. Hoạt động trại sáng tác dành cho văn học thiếu nhi còn quá thưa thớt, ngay như Hội Nhà văn Việt Nam sau 14 năm mới mở thêm được trại sáng tác. Mong rằng những năm tới, các trại này sẽ được tổ chức thường xuyên hơn. Các dự án hỗ trợ cho tác giả văn học thiếu nhi cũng rất cần thiết, như dự án mới đây của Đan Mạch và Nhà xuất bản Kim Đồng.

Ngoài ra, để khuyến khích các cây bút, chúng ta cần có các giải thưởng thật sự có uy tín, giá trị, trước hết là giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, chứ không chỉ dừng lại ở những cuộc vận động sáng tác của một số nhà xuất bản. Việc tham khảo cách tổ chức giải thưởng văn học thiếu nhi mang tính năng động, có bề dày lịch sử của một số nước như Mỹ, Canada... thiết nghĩ cũng là việc nên làm.

Ngày nay, do những tác động của xã hội hiện đại, tâm lý trẻ đã ít nhiều thay đổi và nhu cầu đọc của các em cũng thay đổi, không giống các độc giả nhí trước đây nữa. Trước sự biến chuyển mang tính khách quan ấy, các nhà văn, nhà thơ cần tìm tòi đổi mới cách viết cho phù hợp với thế hệ trẻ thời đại mới, nhưng nhất quyết phải giữ được tinh thần nhân văn truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam và giá trị văn chương đích thực, không thể chiều lòng trẻ theo những thị hiếu và nhu cầu giải trí tầm thường.

 Để góp phần khởi sắc cho văn học thiếu nhi, vai trò của phê bình rất quan trọng, do đó giới nghiên cứu phê bình cần quan tâm hơn đến mảng văn học này. Ở đây có điều đáng lưu ý, là lâu nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến lực lượng người lớn viết cho thiếu nhi, còn thiếu nhi viết cho chính lứa tuổi của mình chưa được chú ý đúng mức. Một thực tế nữa là tác giả viết cho thiếu nhi phần nhiều xuất hiện ở miền Nam trong khi miền Bắc vốn có những tác phẩm hay nhưng người viết lại ít. Trong tương lai, hy vọng sẽ có sự cân đối hơn ở các phương diện này.

Trước khi trông chờ sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức, việc đổi mới và phát triển văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng, nhiều thách thức - vẫn được quyết định bởi tài năng và tấm lòng của các nhà văn, nhà thơ yêu quý trẻ em và tâm huyết với mảng đề tài này. Và câu trả lời cho câu hỏi "Bao giờ văn học thiếu nhi lớn mạnh?" còn tùy thuộc vào sự chung tay của cả một dây chuyền: người viết - nhà xuất bản - người phát hành, tiếp thị sách và cả xã hội. Văn học thiếu nhi của ta có đứng vững tại thị trường trong nước, mới mong tiến ra hội nhập với văn học thiếu nhi thế giới.

PHẠM NGỌC HUỆ

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

Khắc họa Hải Phòng

2010-07-18 @ 00:29 in Thơ

Khắc họa Hải Phòng

Tặng Hoài Khánh

Hoa phượng cháy dọc hai bờ sông Cấm

Tiếng còi tầm hú gọi buổi tan ca

Gió biển nhẹ cho tóc ai mềm mại

Tiếng nói cười lanh lảnh vang xa...

 

Em ríu rít bên ai đường phố thợ

Cầu cảng vươn dài nối những bờ vui

Những ống khói vươn cao cao mãi

Bằng lăng chiều tím ngát chơi vơi...


Có một Hải Phòng trong thơ bạn viết

Như tình yêu khao khát buổi ban đầu

Ta vụng dại còn em thì xa cách

Gặm nhấm nỗi buồn biết gửi vào đâu?


Chiều hải cảng những con tàu xa khuất

Sóng trùng dương tít tắp phía chân trời

Xin tạm biệt những nụ cười thân ái

Ấm tình người thao thiết Hải Phòng ơi!

8-6-2010

NGUYỄN VIẾT HIỆN

Chưa đi chưa biết... Nam Ninh

2010-07-10 @ 03:47 in Thông tin tổng hợp

Chưa đi chưa biết... Nam Ninh

Trong khuôn khổ Hội nghị sơ kết thi đua 6 tháng đầu năm 2010 của 6 Đài Phát thanh và Truyền hình của 5 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ, 30 cán bộ, nhân viên của 6 Đài đã có chuyến du lịch 3 ngày 2 đêm từ Hải Phòng (Việt Nam) sang Nam Ninh (Trung Quốc). Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây, là một thành phố vùng biên Trung Quốc, địa thế chủ yếu là đồi núi và mới phát triển từ 8 năm nay. Nhưng Nam Ninh thực sự đã để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng những ai một lần tới đây.

5 giờ sáng thứ bảy 3-7-2010, xe ô-tô và hướng dẫn viên du lịch của Công ty cổ phần du lịch và thương mại Song Nguyễn đưa chúng tôi rời khách sạn Hải Quân - Hải Phòng, theo quốc lộ 5, 18 và quốc lộ 1 vượt qua các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, đến thẳng cửa khẩu Hữu Nghị Quan làm thủ tục xuất cảnh sang Trung Quốc. Cái nóng mùa hè hầm hập tràn khắp vùng biên giới. Gương mặt những nhân viên hải quan cả bên Việt Nam và bên Trung Quốc lúc nào cũng mang dáng vẻ rất ư là quan trọng, để lộ ra đôi mắt nhìn ai cũng thấy nghi ngờ. Mấy trăm mét dạo bộ qua cửa khẩu quốc tế Việt - Trung với những thủ tục kiểm soát nặng nề càng làm cho bước chân du khách thêm nặng nề... Có lẽ những người có thẻ cười tươi là mấy anh chị hướng dẫn viên du lịch vừa tranh thủ đổi tiền vừa kết hợp bán sim điện thoại di động kiếm lãi và cánh lái xe điện chở du khách khỏi phải đi bộ dưới nắng gắt từ bãi đỗ xe ô-tô tới khu vực làm thủ tục xuất nhập cảnh. 1 tệ Trung Quốc đổi bằng 2.900 đến 3.000 đồng Việt Nam. 1 thẻ sim điện thoại Trung Quốc bán với giá 200.000 đồng Việt Nam, trong đó có 50 tệ trong tài khoản, có thể foji từ Trung Quốc về Việt Nam trong vòng hơn 20 phút liên lạc...  Bước chân qua cửa khẩu Hữu Nghị, tôi cảm nhận thấy sự khác biệt trong các kiến trúc xây dựng, trong sự hoành tráng, cổ kính mà phía bên kia biên giới mang lại. Chỉ cách nhau một lằn ranh phân chia lãnh thổ giữa 2 nước, nhưng tôi chạnh lòng buồn tủi khi so sánh bên Việt Nam chúng ta là nhà cấp 4, còn bên Trung Quốc là nhà cao tầng hiện đại.

Xe ô-tô du lịch và hướng dẫn viên Trung Quốc đưa chúng tôi đi tới thành phố Bằng Tường. Hơn nửa giờ xe chạy, chúng tôi vòng vèo qua vùng núi biên giới tỉnh Quảng Tây. Núi không cao nhưng nhọn đỉnh. Bên đường mọc lên cái làng từng được mệnh danh là cái làng giàu có nhất Quảng Tây - làng Ái Khẩu, nơi của những người một thời buôn bán hàng hóa tiểu ngạch, chủ yếu là xe đạp Phương Hoàng và Vĩnh Cửu gia công từ Trung Quốc sang Việt Nam. Họ vượt núi mang hàng sang bên thị trấn Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn. Giờ đây, nhưng ngôi biệt thự này chủ yếu để chứa hàng hóa trung chuyển của các hộ buôn bán cá thể. Dân làng đã trở vào thành phố Bằng Tường mua đất cha lô, dựng nhà để ở lâu dài.

Thị xã Bằng Tường của Trung Quốc giờ cũng là thành phố, tương đương với địa thế của thành phố Lạng Sơn của Viêt Nam. Nghỉ ngơi và ăn trưa tại nhà hàng Quyên Quyên ở thành phố Bằng Tường xong, chúng tôi lên xe tiếp tục cuộc hành trình tới thành phố Nam Ninh theo con đường cao tốc Nam Hữu. Con đường này còn có tên là đường ASEAN. Để đón đầu việc giao thương giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, Trung Quốc đã xây dựng con đường cao tốc ASEAN dài 230 km với 4 làn đường mỗi bên, nối liền Bằng Tường với Nam Ninh. Suốt dọc đường này đều có trang trí hoặc dựng cờ của các nước ASEAN. Trên tuyến đường này có 2 trạm dừng chân. Tại mỗi trạm, có cây xăng, nhà vệ sinh, quầy hàng giải khát để người đi đường có thể nghỉ chân, thư giãn. Đoạn đường dài 230 km nhưng với chất lượng tốt, cảnh quan đẹp, nên chỉ mất gần 3 giờ và không tạo cảm giác mệt mỏi. Nhân viên trạm thu phí trên tuyến đường này đều là các cô gái trẻ dưới 25 tuổi, mặc đồng phục màu xanh rất đẹp, luôn nở nụ cười tươi, dễ dàng xua đi cái mệt nhọc, căng thẳng của các anh tài xế khi qua đó. Điều này chưa hề có ở các tuyến đường Việt Nam. Phí giao thông của tuyến đường cao tốc này thu qua thẻ từ. Mức phí tùy từng ;oại phương tiện. Xe công được giảm một nửa phí. Các xe cấp cứu, cảnh sát, quân đội được miễn phí.

Nam Ninh nằm gần biên giới Việt - Trung, là thành phố sinh thái của thế kỉ 21, là thủ phủ của Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây, nơi tụ cư của 12 dân tộc như: Choang, Hán, Miêu, Dao..., trong đó dân tộc Choang có nền văn hóa - nghệ thuật dân gian lâu đời nhất. Người Choang có trang phục rực rỡ, giỏi múa, hát dân ca. Nam Ninh được du khách đánh giá là nơi có mùa đông không khô héo, hoa không phải mùa xuân cũng nở rộ. Cuối buổi chiều, chúng tôi đặt chân tới quảng trường Trung tâm Hôi chợ ASEAN. Khu nhà có kiến trúc độc đáo, với nóc nhà mang hình bông hoa dâm bụt 12 cánh, thứ hoa đặc trưng của Nam Ninh, biểu tượng đẹp cho tình hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng có thể coi đó là biểu tượng của thành phố Nam Ninh. Xung quanh quảng trường là khu vực mới xây dựng, khá thoáng rộng, nằm ở phía tây của thành phố. Sau đó, chúng tôi được đưa tới tham quan hiệu thuốc Đồng Nhân Đường và ăn tối tại một nhà hàng ngay trong khu trung tâm phía đông thành phố.

Đến Nam Ninh, chúng tôi ở khách sạn 3 sao High Class, cạnh nhà ga xe lửa, ngay trong khu vực trung tâm thành phố. Từ trên tòa nhà khách sạn cao tầng này có thể ngắm cảnh một góc thành phố Nam Ninh đang đổi mới từng ngày. Buổi tối Nam Ninh rực sáng ánh đèn màu huyền ảo. Đèn chiếu lên các tòa nhà. Đèn viền những con đường cầu vượt. Đừn trang trí các biển hiệu, nhà hàng. Đèn hắt sáng từ các ô cửa những tòa nhà cao tầng. Đèn ling linh trên những đường phố dành cho người đi bộ. Vẫn có thể bắt gặp những cảnh bán hàng rong, bán hàng ăn vỉa hè, những trò đỏ đen, cờ bạc bịp, những cô gái đánh giày mặc áo như không mặc,...

Sau bữa ăn sáng tự chọn tại tầng 3 của khách sạn, hơn 9 giờ (giờ Trng Quốc) sáng chủ nhật 4-7-2010, xe đưa chúng tôi đi qua nhiều đường phố. Thành phố Nam Ninh đã cấm lưu thông xe máy được 10 năm. Phương tiện thay thế cho xe máy là xe buýt, xe đạp điện và xe đạp, trong đó mạng lưới xe buýt dày đặc là nhân tố quyết định cho việc thành công của việc cấm xe máy. Nam Ninh có nhiều xe đạp điện lưu thông trên đường. Xe không đẹp, không sang trọng, nhưng nhỏ gọn. Hầu hết các phương tiện giao thông đều được sản xuất tại Trung Quốc. Rất hiếm thấy xe nhập ngoại nguyên chiếc. Với các phương tiện giao thông, cứ mỗi năm chủ xe phải đem phương tiện đi đăng kiểm một lần. Nếu xe nào không đạt tiêu chuẩn về khói thải hoặc thời gian thì sẽ bị cấm lưu thông. Xe nào hết hạn nhưng còn tốt thì được gia hạn thêm 3 năm nữa. Chính vì thực hiện việc đăng kiểm tốt nên trên đường phố không có hiện tượng xả khói mù mịt như những xe buýt ở các thành phố Việt Nam. Hai bên đường và các ngã tư đều có các camera quan sát. Nếu phương tiện nào vi phạm thì sẽ bị thu hình, đến cuối năm, khi chủ xe đem đi đăng kiểm thì sẽ bị phạt. Chính cách quản lí hiện đại này đã làm giảm số lượng cảnh sát giao thông và tránh được các hiện tượng tiêu cực của cảnh sát giao thông. Chúng tôi không thấy một bóng dáng anh cảnh sát nào xuất hiện trên đường. Trong thành phố Nam Ninh, có một cầu vượt 3 tầng, trông rất hoành tráng, hiện đại. Điểm ấn tượng nhất là cây cầu này được thi công hoàn tất trong vòng 7 tháng. Một điều không tưởng so với thời gian thi công cầu đường ở Việt Nam. Thành phố Nam Ninh có rất nhiều tòa nhà cao hàng chục tầng, với kiến trúc đẹp, tiện nghi hiện đại. Tòa nhà cao nhất thành phố có 59 tầng, là khách sạn quốc tế Nam Ninh, trên nóc nhà có một quả cầu khổng lồ. Tại Nam Ninh, hiện chỉ còn rất ít những nhà thuộc kiểu nhà riêng như ngày xưa. Những khu nhà này cũng sắp được giải tỏa thay cho các nhà chung cư cao tầng. Theo luật của Nam Ninh cũng như Trung Quốc, mọi người chỉ có thể mua và sở hữu nhà trong 70 năm (một đời người). Hết thời hạn, người mua phải trả lại cho công ty bất động sản phá dỡ, xây lại và bán lại. Điều này, được giải thích ở các khía cạnh tích cực như con cái cũng phải vận động, các công ty bất động sản có trách nhiệm với khu đất, khu nhà mà mình đã thuê của Nhà nước và đã bán cho người dân. Một điểm khác biệt cơ bản nữa là cách quản lí hộ khẩu. Theo luật của Nam Ninh, bất kỳ ai mua một căn nhà chung cư được phép đăng kí 04 nhân khẩu. Mua một căn hộ có thể được đăng kí hộ khẩu cho chồng, vợ, bố, mẹ. Riêng con thì đương nhiên được đăng kí hộ khẩu theo bố mẹ. Đặc biệt là, người mua nhà có thể cho suất đăng kí nhân khẩu cho người khác. Đây là một giải pháp kích cầu rất tốt và tránh được rắc rối như Việt Nam theo kiểu có nhà mới cho đăng kí hộ khẩu và để đăng kí hộ khẩu thì cần phải có nhà như trước đây. Giá thuê đất hợp lí, cùng với chính sách hợp lí, nên chỉ trong 8 năm đã có rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đổ tiền vào đầu tư bất động sản tại Nam Ninh. Nhưữg khu nhà cũ sẽ bị phá dỡ để xây các chung cư, văn phòng hiện đại. Lác đác trong thành phố vẫn thấy những khu nhà chung cư đang được khẩn trương xây mới.
Bên cạnh việc thu hút đầu tư, chính quyền thành phố Nam Ninh cũng rất chú trọng đầu tư cho môi trường. Song song với việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng phương tiện giao thông và khí thải, chính quyền Nam Ninh đã đầu tư rất nhiều vào cây xanh. Có thể nói, nhìn từ trên cao xuống, thấy một nửa diện tích thành phố được phủ bằng cây xanh. Mặc dù vẫn đang trong tiến trình phát triển, rất nhiều công trình đang xây dựng nhưng khi đi bộ trên đường, khách bộ hành không cảm thấy bị ô nhiễm, ngột ngạt. Chúng tôi dừng chân tại công viên Nam Hồ. Công viên rộng 192 héc-ta. Công viên này còn được gọi là công viên Si Đa vì ở đây chủ yếu trồng cây si và cây đa. Công viên này đang sưu tập nhiều loại cây rừng ở nhiều nơi về trồng, có cả những cây mang từ Việt Nam sang. Dạo chơi và chụp ảnh lưu niệm xong, chúng tôi lại tới công viên Thanh Tú Sơn - nơi được coi là lá phổi của thành phố Nam Ninh, với cảnh đẹp tự nhiên có diện tích khoảng 730 héc-ta, là nơi nghỉ mát lí tưởng của người dân Trung Quốc. Nơi đây, chúng tôi lên thăm chùa Quan Âm đang được xây dựng mới khá đồ sộ, ngắm nhìn ngôi chùa Thái Lan, trèo lên tháp Long Tượng, ngồi chơi bên hồ Thiên Trì,... Tiếp đó, xhusng tôi được đưa tới Cung Nam Châu, nơi trưng bày những sản phẩm ngọc trai nổi tiếng của thành phố Bắc Hải và ăn trưa tại đó. Sau đấy, chúng tôi còn vào thăm một nơi trưng bày các sản phẩm chế tác từ đá quý, hàng mĩ nghệ Trung Quốc. Buổi chiều, mọi người trong đoàn chúng tôi í ới rủ nhau đi chơi phố, tự do mua sắm tại các tổ hợp siêu thị. Nam Ninh thực sự ấn tượng, để lại cảm tình cho những ai qua đây không phải chỉ là việc mua sắm, mà là sự phát triển, là quy hoạch, là quản lí đô thị, là giao thông, là cây xanh, là cách làm du lịch ...
8 giờ sáng thứ hai 5-7, sau bữa sáng, chúng tôi rời khách sạn High Class và lên xe trở lại cửa khẩu Hữu Nghị Quan làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam. Xe đón Quý khách về thành phố Lạng Sơn ăn trưa tại nhà hàng Thảo Nguyên. Đầu giờ buổi chiều, mọi người trong đoàn, nhất là các bạn đồng nghiệp ở các Đài phía Nam, tíu tít rủ nhau vào mua sắm tại chợ Đông Kinh. Trong chợ hầu hết là hàng hóa từ Trung Quốc mang sang. 3 giờ chiều, chúng tôi lên xe xuôi quốc lộ 1 về Hà Nội và chia tay nhiều bạn đồng nghiệp dưới chân cầu Thanh Trì. Ăn tối tại nhà hàng Monh Ngọc - Hải Dương xong, chúng tôi về tới Hải Phòng, thì trời đã vào khuya. Tôi về nhà và mở xem blog của mình, phúc đáp những comments bạn bè gần xa gửi tới. Trong lòng tôi xốn xang bao cảm xúc sau mấy ngày xa nhà. Nam Ninh, một thành phố vùng biên của Trung Quốc cũng cho ta nhiều điều đáng để học hỏi. Tôi tin chắc rằng nếu mình chưa đi thì sẽ chưa biết nhiều về Nam Ninh.
HOÀI KHÁNH

Truyền thông Việt Nam hiền hay ác?

2010-07-06 @ 00:57 in Thông tin tổng hợp

Truyền thông Việt Nam hiền hay ác?

Từ câu chuyện của ông Vân "ôm xác vợ", đi ngược lại những thông tin do hệ thống truyền thông Việt Nam phát trên các kênh báo chí lâu nay có liên quan đến nhân thân hay chuyện riêng tư của cá nhân, không biết có nhà báo hay nhà tâm lí học, xã hội học...đưa ra câu hỏi "truyền thông Việt Nam hiền hay ác"?

Đánh "hội đồng" hay "a dua"?

Không hiểu vì lí do gì mà tự dưng thông tin về "ông ôm xác vợ" được gần như các kênh truyền thông báo chí đồng lọat đăng tải một cách hào hứng với nhiều nội dung, từ tin ngắn, điều tra mấy kỳ, phỏng vấn nhân vật "ôm xác vợ"... đến những bài nghiên cứu mang tính học thuật đông - tây, kim - cổ, kể cả những bài tranh luận "ái..." hay không "ái..." do các phóng viên, nhà khoa học, nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn, sản xuất phim.... tham gia.

Không kênh truyền thông lớn nào tỏ ra "lép" với đồng nghiệp. Nhưng gần như không có ai quan tâm đến một vấn đề là "hậu" của câu chuyện sẽ ảnh hưởng ra sao đến sự riêng tư của gia đình nhân vật mà gần nhất là đứa trẻ còn đang tuổi vị thành niên- tuổi có luật riêng bảo vệ. Nó sẽ ra sao khi chuyện nhà bị "phanh phui", mà bản thân đứa trẻ chưa đủ năng lực trí tuệ hiểu tại sao lại như thế.

Ngược lại trước đó, chắc không ai quên vụ "scandal" hoa hậu Việt Nam chưa tốt nghiệp phổ thông. Chuyện người lớn sai - Ban tổ chức, nhưng tất cả mọi thông tin cứ nhăm nhăm vào cô gái, moi móc cả những chuyện nhỏ bất hòa với bạn học, điểm kém, trốn học... Mà chuyện đó ai từng đi học làm gì không có, nhưng qua truyền thông, nó trở thành "bằng chứng" cho sự không ngoan của cô gái. May mà cô gái đứng vững và vượt qua để mà hướng về phía trước, không như một số trường họp khác đau lòng hơn.

Những người làm báo của thành phố Hồ Chí Minh nhiều năm trước chắc không quên vụ báo chí hồi đó đã hợp lực "đánh" một cán bộ Cảnh sát hình sự mắc khuyết điểm. Tòa chưa tuyên tội ông ta,nhưng báo chí đã tuyên án "tử" với cô con gái ông ta đang học trung học phổ thông. Chỉ vì không thể chịu nổi những bài báo liên tiếp "bêu xấu" ba cô và đến trường thì bạn bè nhìn cô bằng ánh mắt khinh miệt, cô đã nhảy lầu tự tử và chết.

Hay vụ án một sĩ quan cảnh sát dính đến tội phạm ma túy. Báo chí đưa tin cứ "hồn nhiên" nêu cả danh tính con cái họ tên gì học trường nào... Và kết quả là mấy đứa trẻ không chịu nổi áp lực. Cũng may là những đồng nghiệp của người cảnh sát đó đã không bỏ rơi bọn trẻ cho dù cha chúng có tội, đã cưu mang và bảo vệ chúng không bị ảnh hưởng tâm lí, tinh thần,tiếp tục học và trưởng thành.

Có lẽ truyền thông không thời nào như thời này có sự cạnh tranh thông tin quyết liệt, nên có một tin gì dù nhỏ xíu cũng được "thổi" thành sự kiện, và các kênh truyền thông lao vào, sợ chậm chân, sợ thua kém đồng nghiệp, thậm chí có người còn lấy đó như một cách tăng tiara số báo hay là dịp để tạo tên tuổi phóng viên.

Và khi truyền thông đã đồng lọat để mắt đến, thì lúc này việc phán xét sự việc sẽ không quan trọng,chỉ cần "moi" được càng nhiều thông tin càng tốt,"thượng vàng, hạ cám", ngóc ngách, xó xỉnh... có gì là lôi ra bằng sạch sành sanh,chưa kể có nhà báo còn thêm thắt "ít xít ra nhiều", "thêm mắm, dặm muối", dùng lời lẽ "đao to búa lớn", không ai để ý đến cái "hậu" của thông tin sẽ như thế nào.

Truyền thông việt Nam hiền hay ác?

Nếu như ai đó để ý khi xem, nghe, đọc truyền thông của nước ngòai, sẽ thấy họ có sự cẩn trọng khi đưa những thông tin thuộc về nhân thân, và nhất là có liên quan đến trẻ vị thành niên. Khi một kẻ tình nghi vi phạm pháp luật quốc gia bị bắt, chính những người thi hành công vụ đã che chắn thậm chí cho đương sự túi che mặt, tránh những ống kính của truyền thông. Với họ, khi tòa chưa tuyên án, chưa có tội, và đang là người ở diện tình nghi cần xét hỏi, điều tra, nếu họ không có vi phạm, thì nhân thân họ phải được bảo vệ, kể cả hình ảnh.

Còn với trẻ vị thành niên,nếu có dính đến pháp luật, việc truyền thông chụp ảnh chỉ là những trường hợp đặc biệt với sự cho phép của luật pháp, và một số cơ quan bảo vệ quyền trẻ em, vì nếu đưa hình ảnh đứa trẻ không theo luật, chính tờ báo hay phóng viên sẽ bị luật pháp quy tội, chưa kể các nhà họat động vì quyền trẻ em của quốc gia hay quốc tế sẽ không tha thứ.

Còn với những trẻ vị thành niên mà cha mẹ vi phạm pháp luật, thì có những vùng cấm của luật, không được xâm phạm, gây ảnh hường đến tâm, sinh lí và tương lai của đứa trẻ. Truyền thông cũng phải tuân theo một cách nghiêm ngặt.

Với ngay cả cách dùng từ để chỉ kẻ bị tình nghi vi phạm pháp luật, truyền thông nước ngòai cũng tránh dùng những từ mang tính nhục mạ hay thiếu tôn trọng kẻ đó. Và ngay cả khi tòa tuyên án, nếu có đưa tin họ vẫn kèm theo trước cái tên là Mr, Mrs, Miss...

Nhưng truyền thông Việt Nam của ta thì có khác. Các ống kính của truyền thông thì tìm mọi cách để có một "cận cảnh" kẻ bị tình nghi đang được cơ quan thi hành pháp luật tạm bắt giữ. Và ngôn từ xử dụng khi thông tin thì mặc sức đưa những chữ như "tên...", "thị...", "hắn...", thậm chí còn mạnh mẽ hơn tuyên án trước cả tòa như "kẻ sát nhân", "kẻ thủ ác",...

Và với trẻ vị thành niên thì hình như không có ranh giới nào gọi là vùng cấm. Có thể thấy hình ảnh những đứa trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật trên hầu hết các kênh truyền thông mỗi khi có vụ việc nào liên quan đến bọn trẻ, từ ăn cắp vặt, giật đồ, móc túi, đua xe... đến hút chích ma túy, hiếp dâm, giết người....

Nếu sau ít ngày, vài tháng, vài năm chúng được trở về với xã hội, liệu có "di chứng" gì không về tâm lí khi nếu ai đó vô tình hay cố ý đưa ra hình ảnh không mấy đẹp của chúng? Mà cái "dư luận" về thành tích bất hảo của một cá nhân trong xã hội Việt Nam ta vẫn còn đầy thiên kiến, rất khó gột rửa.

Không biết có ai nghĩ nếu sau này những đứa trẻ đó lớn lên, được cải tạo giáo dục tốt, làm một người lương thiện hay thậm chí có thể trở thành một công dân thành đạt... Chỉ vì một trang báo xưa có in hình ảnh mình, thì nó sẽ ảnh hưởng như thế nào với họ và cả với con cháu của họ?

Luật pháp quy định có thể xóa bỏ án tích trong một thời gian nhất định sau khi thi hành án, nhưng truyền thông là "giấy trắng, mực đen","bút sa gà chết", là hình ảnh sống động, sự thật 100% , lại được lưu bằng đủ hình thức, thì sao xóa được? Nhất là khi họ vô tội.

Luật báo chí có phải vẫn còn thiếu sót?

Cho dù Luật báo chí - xuất bản của Việt Nam và những quy định, văn bản quy phạm pháp luật, những thông tư, nghị định, văn bản  dưới luật có sửa đổi và cập nhật theo những phát triển của truyền thông, nhưng có lẽ vẫn thiếu những chi tiết cụ thể.

Ví dụ như việc con gái người cán bộ cảnh sát hình sự vi phạm pháp luật kia tự tử chết, trách nhiệm đó thuộc về ai? Hay giả dụ như cô hoa hậu kia không chịu nổi dư luận do truyền thông đăng tải thông tin về mình, do tuổi còn quá trẻ, mà hành động thiếu lí trí thì truyền thông hay gia đình hay bản thân cô ta chịu trách nhiệm? Và cậu bé học lớp 6 con "ông ôm xác vợ", đang yên bình bỗng nay bị truyền thông làm kinh động trí óc non nớt, gây sang chấn tinh thần, ai sẽ chịu trách nhiệm hậu quả nếu có?

Nếu như truyền thông đã vội thay tòa án kết tội người bị tình nghi trước cả cơ quan diều tra, cơ quan pháp luật thì sẽ ra sao nếu như người đó vô tội khi họ không thể đi thanh minh với từng người, báo nói sai, tôi vô tội...

Có thể luật còn thiếu, chưa theo kịp những phát sinh của ngành truyền thông, nhưng không phải vì thế mà những người làm báo có thể "để quên" lương tâm hay một chút trắc ẩn, nhân hậu của mình,vì lợi ích tức thời, để có thể đưa thông tin "hiền" hơn, nhân văn hơn.

HOÀI HƯƠNG

Hình đám cỏ (nhịp 1)

2010-06-30 @ 00:12 in Thơ

HOÀI KHÁNH: Nhà thơ Lê Anh Hoài đã có lần giới thiệu về nhà thơ Mai Văn Phấn như sau: "Nhiều người nghĩ cách tân thơ là làm mới về hình thức, nhưng Mai Văn Phấn đã chứng minh sức sống của chữ "cách tân" bằng việc cốt tuỷ: nghĩ khác, cảm khác. Dường như Phấn để cho thơ kéo các giác quan mình đi, với một cuộc chu du mê mẩn đầy ngẫu tượng, ngẫu thanh... Mọi điều trong thế giới này, vô phân biệt, đều trở thành một phần của thơ Phấn. Thế nên, có thể thấy "Tay này, đúng tay trái/ Đã mỏi mệt mở cổng từ sớm/ Vung nhẹ lúc phân chim rơi vô tình./ Còn tay kia/ Giơ lên cách đây một giờ/ Lúc mọi người biểu quyết/ Có việc phải vào biên bản..." lại đứng chung với "Thân dâng/ Hương thơm ngon ngọt/ Con chào mào em/ Khoét rỗng môi anh/ Và vỗ cánh/ Ngậm anh đi gieo hạt...". Nhưng cuộc dạo chơi của thơ Phấn, không rơi vào vơ vẩn, ngơ ngẩn, bởi nó có thần thái của tuý quyền. Nghĩa là biết hết nhưng buông hết..." (Báo Tiền Phong Cuối Tuần, số 1, ra ngày 8-1-2010). Mỗi bạn đọc có thể sẽ có những cảm nhận riêng khi tiếp cận thơ Mai Văn Phấn. Blog Hoài Khánh xin chuyển tới bạn yêu thơ gần xa một tác phẩm mới nhất của nhà thơ Mai Văn Phấn được rút từ tập thơ Hình đám cỏ, gồm 9 nhịp, chưa xuất bản.

Hình đám cỏ (nhịp I)

Bên nhau lặng im nghe bông sen trắng

đang nhói sáng

vươn trong huệ tưởng

MVP

*

 

Bước sơn dương gõ lên mặt đất

Thế giới từ nay không thể ngủ

 

Động rộn sương đêm

Cỏ cây, nắng mới

Núi cao

Chim chóc bay qua tảng đá xù xì

Sông cuộn xiết con cá động dục loé sáng mặt nước

 

Mặt trời dâng bên kia bức tường

Vòm cây, tổ chim hơi thở ban mai

 

*

 

Tiếng em vọng ai quàng lên chiếc khăn ấm nhẹ

Chạm tuổi khờ dại xưa

Ngắt bông hoa kẹp vào trang sách

Chim non vươn trên thành tổ

Chênh vênh vòm lá treo mưa

 

Em cười nói hồn nhiên trẻ nhỏ

Lất phất mưa anh phờ phạc ưu tư

 

*

 

Bông hồng sớm nay mình anh thấy

Tiếng chim hót tỉnh giấc

Tạ ơn con đường dẫn anh đi

Mây trên cao

Lá cây rơi

Cả những gì chưa hiện hữu

 

Góc phố lặng yên nép vào hơi thở

Đất chuyển mùa

Hàng lan can bên kia bông hoa

Những cánh mịn đỏ thẫm 

Gốc cổ thụ cũng trong suốt

Giờ ban Lễ Thánh Thể rung chuông

 

Sớm mai thay áo mới

Ánh hồng nhung hắt khuôn mặt em

Thôi miên làn gió chợt qua

 

*

 

Tiếng chim qua đỉnh đầu

Vào cơ thể anh lúc đang tịnh độ

 

Xua đi cho lòng yên lặng

Sao về được tâm không

 

Tiếng chim âm u

Lập loè sáng từng phần cơ thể

 

Ngỡ bay cùng đàn chim

Ngực căng tức tiếng hót

 

Con chim nào mới bị thương

Cả bìa rừng đập cánh

 

Em ở đâu

 

Tiếng cắt gió vội vàng

Men khẩu hình anh theo tiếng gọi

 

*

 

Gần sáng thức dậy

Quả chuông đêm đen chụp xuống mặt đất

 

Loay hoay cố đẩy lên cao

Đêm khổng lồ không còn chỗ bám

Không biết thành quả chuông nơi đâu

Tan loãng

Trơn trượt

 

Những huyệt đạo thắp ngọn nến 

Mơ hồ em qua cơ thể anh

 

Mở mắt nhìn màu chuông đen

Nhắm mắt vòng vây ánh sáng

 

Em đang xa quả chuông

Boong...

 

Boong...

Giữa trời một bông hoa cúc

 

*

 

Đi về phía cuối đường

Nơi bắt đầu cơn giông

Dọn lòng thanh sạch

 

Chỉ vòm cây rũ bụi 

Và lá khô tơi tả mới biết

 

Nóng lòng đợi mưa

Cuối con đường chưa thấy

 

Gió đã nổi

 

- Những giọt nước rửa tội anh?

- Không, đọng vòm lá trận mưa hôm trước

 

*

 

Con mèo buồn ngủ dưới nắng

Ngáp lại lim dim

Đời sống ngập bao toan tính

 

Anh cũng ngáp nơi làm việc

Theo kế hoạch định sẵn

Cố cũng không xong

 

Có nên đổ tại con mèo

Mang tâm trạng anh lơ mơ dưới nắng

 

Choàng tỉnh vội lao đến em

Anh thành chú mèo đang lim dim mắt

 

*

 

Gió lay nhẹ hoa vàng, màu hoa anh thích

Có lúc đã nhầm lẫn hoa dã quỳ

Hoa thạch thảo, hoa vông vang, hoa mướp...

 

Anh vội vã ký hoạ vài bông

Gió mơn man tóc bay lật phật

 

Anh vẽ thêm đôi trai gái bé tí bằng nửa cuống hoa

Lồng khuôn mặt, chung nhau đôi dép

Không rõ gió đẩy nhẹ về bên nào

 

Cánh hoa khổng lồ đung đưa trên đầu họ

Gió khẽ làm hai người càng lẫn vào nhau

Càng bé tí run lên như bão.

 

*

 

Những ngôi sao khuất sau ánh nắng

Cửa sổ ngôi nhà

Vầng mây tin bão

Ánh sáng xa

Chỉ cần nghĩ hoặc nói thế cũng vơi mỏi mệt

 

Vừa tĩnh lặng một phút

Một phút tự triệt tiêu thính giác

Nhìn đời sống thư giãn mù loà

 

Trên cao tít từng bầy đom đóm

Ngôi sao gần hơn vẽ mắt em

(yêu nhau mãi nhiều khi không nhớ mặt!).

 

Lúc công việc, rũ tung, thở dốc...

 

Cố nán lại bên khe cửa hẹp

Nhìn gợn sóng lấp lánh trên dòng sông chảy xiết.

MAI VĂN PHẤN

Đánh thức câu chuyện truyền thanh

2010-06-27 @ 00:20 in Thông tin tổng hợp

Đánh thức câu chuyện truyền thanh

Những năm qua, trên sóng phát thanh Việt Nam, loại hình câu chuyện truyền thanh vẫn được duy trì, nhưng dễ thấy tình trạng bị suy giảm. Thính giả hôm nay không còn hào hứng đón nghe câu chuyện truyền thanh như trước nữa. Có quá nhiều loại hình giải trí trên những phương tiện truyền thông hiện đại đã lấy đi khá nhiều thính giả của câu chuyện truyền thanh. Dường như câu chuyện truyền thanh đang bị ngủ mê, cần được đánh thức.

1. Khó thống nhất quan niệm về câu chuyện truyền thanh.

Quan niệm cho câu chuyện truyền thanh là một thể loại báo chí, đã biến câu chuyện truyền thanh thành hoạt cảnh tuyên truyền cổ động khá thô thiển. Những cuộc vận động chính trị như tuyên truyền bầu cử, tòng quân, nộp thuế nông nghiệp, thủy lợi phí, vận động thuyết phục di dân cho công tác giải phóng mặt bằng ... được đưa vào câu chuyện truyền thanh rất khiên cưỡng, sơ giản, thậm chí kệch cỡm, thiếu sức thuyết phục. Câu chuyện truyền thanh vô hình chung lấy hình thức diễn kịch để tuyên truyền chủ trương, chính sách. Trong câu chuyện truyền thanh, yếu tố cốt truyện có phần quan trọng. Nó bám sát vào những đề tài tương đối cụ thể, nhưng là một yếu tố không thể thiếu được để cấu thành nội dung câu chuyện truyền thanh. Cốt truyện và ngôn ngữ đối thoại hóa là những căn cứ cơ bản để khẳng định thể loại câu chuyện truyền thanh là nghệ thuật chứ không phải là một thể loại báo chí.

Quan niệm coi câu chuyện truyền thanh là một dạng văn nghệ trên sóng phát thanh, tự nhiên khoanh vùng cho người làm báo phát thanh. Ai làm việc ở ban biên tập văn nghệ thì nên hoặc bắt buộc phải làm câu chuyện truyền thanh, còn những phóng viên, biên tập viên ở các ban biên tập khác không cần quan tâm đến câu chuyện truyền thanh nữa.

Quan niệm rằng câu chuyện truyền thanh là một dạng kịch ngắn truyền thanh, thì phát sinh tình trạng tìm dựng những vở kịch ngắn sân khấu đưa hình thức truyền thanh để dàn dựng chương trình. Thực tế tìm kịch bản sân khấu ngắn quá hiếm. Quan niệm này cũng buộc đối tượng sáng tác phải viết kịch bản câu chuyện truyền thanh như mổ vở kịch ngắn trên sân khấu vậy. Câu chuyện truyền thanh có thể có xung đột gay gắt và cũng có thể không có xung đột nhưng vẫn được thính giả yêu thích. Xung đột không phải là một đặc trưng, một yếu tố bắt buộc của câu chuyện truyền thanh. Việc xác định những đặc trưng đó rất cần thiết, tạo cơ sở cho việc sáng tạo những tác phẩm trên sóng phát thanh...

Quan niệm khẳng định câu chuyện truyền thanh là một thể loại tổng hợp, vừa có tính báo chí vừa có tính văn nghệ, có phần đúng hướng hơn, song nếu sa đà vào nội dung thông tin tuyên truyền thời sự chính trị sẽ làm cho câu chuyện truyền thanh không có giá trị lâu bền và ít được coi trọng giá trị thẩm mĩ của tác phẩm. Thế mạnh của một câu chuyện truyền thanh là ở chỗ, nó vừa sử dụng một cách có hiệu quả những ưu thế của nghệ thuật truyền thanh, vừa bám sát những đề tài sống động trong cuộc sống. Người nghe câu chuyện truyền thanh thường có cảm giác mình đang sống với những nhân vật và hoàn cảnh trong câu chuyện. Họ cảm thấy hình như mình đã từng gặp ở đâu đó những nội dung tương tự và qua nội dung ấy liên hệ với thực tế quanh mình.

2. Nguồn kịch bản câu chuyện truyền thanh quá thiếu.

Tác giả câu chuyện truyền thanh trước đây là những nhà văn, nhà soạn kịch. Nhưng đội ngũ này giờ hầu như đã già yếu và có không ít người buông bút từ lâu. Giờ đây, tác giả câu chuyện truyền thanh chủ yếu là dân nhà Đài tự cung tự tác, viết sao dùng vậy. Kịch bản có nhưng yếu về cả nội dung và hình thức. Những tác giả nhà Đài chủ yếu là các phóng viên, biên tập viên văn nghệ. Họ có nhiệt huyết nhưng thiếu kĩ năng sáng tác. Sáng tác một câu chuyện truyền thanh, trên cơ sở vốn sống của mình, tác giả lựa chọn những chi tiết, những tình huống và nhân vật điển hình để hư cấu nên một câu chuyện. Quá trình sáng tác này nêu có điểm riêng biệt thì chính là ở chỗ, tác giả câu chuyện truyền thanh thường bám sát vào những đề tài có ý nghĩa thời sự để xây dựng tác phẩm của mình. Sáng tác lại là hoạt động sáng tạo nghệ thuật, khác hẳn những bước tác nghiệp của người làm báo phát thanh.

Sáng tác câu chuyện truyền thanh khó và không phải ai cũng sáng tác được, buộc họ phải chuyển sang hướng chuyển thể Câu chuyện truyền thanh từ các thể loại khác - thông thường nhất là truyện ngắn. Đó là những chuyện có xung đột, có kịch tính cao hoặc những truyện nêu lên được những vấn đề thời sự đang được mọi người quan tâm, phù hợp với nhiệm vụ tuyên truyền của Đài. Truyện ngắn đăng trên báo chí nhiều, nhưng không phải truyện nào cũng có thể mang ra chuyển thể thành câu chuyện truyền thanh được. Công việc của người chuyển thể thực chất là sáng tạo lại. Căn cứ vào những đặc trưng truyền thanh, người chuyển thể phải chuyển hóa từ ngôn ngữ tự sự hoặc ngôn ngữ đối thoại thành tự sự và đối thoại hóa của truyền thanh. Quá trình sáng tạo ra kịch bản của câu chuyện truyền thanh đã mang đầy đủ những đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật. Trong đó, tác giả đã vận dụng vốn sống, kiến thức của mình để tái hiện hiện thực thông qua những hình tượng mang tính kịch.

3. Biên tập, dàn dựng câu chuyện truyền thanh đòi hỏi nhiều sáng tạo.

Biên tập viên có thể để lại dấu ấn phong cách của mình trong quá trình này. Ngoài việc khai thác kịch bản có đề tài, chủ đề thích hợp, biên tập viên còn phải cắt xén, sửa đổi tình tiết và lời thoại nhằm nâng cao chất lượng kịch bản. Trên cơ sở nắm rõ giọng nói của từng diễn viên, biên tập viên có trách nhiệm mời họ tham gia thể hiện và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức thu than và chỉ đạo diễn xuất sao cho đúng với tinh thần của kịch bản. Tiêp theo là khâu pha trộn nhạc và tiếng động, viết lời giới thiệu để tạo thành một chương trình hoàn chỉnh.

Cùng với lời nói, âm nhạc và tiếng động là những phương tiện để chuyển tải nội dung trong câu chuyện truyền thanh. Khi chọn nhạc cho câu chuyện truyền thanh, người ta thường chỉ chọn những đoạn nhạc tương đối phù hợp với tính chất chung của mỗi đoạn trong câu chuyện. Riêng về tiếng động, câu chuyện truyền thanh sử dụng nhiều những tiếng động nhằm tạo ra một không khí gần gũi với đời sống. Biên tập viên càng có kiến thức và trình độ đa dạng, câu chuyện truyền thanh càng sinh động và hấp dẫn. Thực tế hiện nay, câu chuyện truyền thanh bị hao hụt thính giả một phần đáng kể do lỗi của người biên tập, dàn dựng. Sự lười biếng pha âm, pha nhạc, trộn tiếng động, thiếu chu đáo khâu trao đổi với diễn viên, khâu thu mộc, chưa kết hợp ăn ý với kĩ thuật viên để khai thác kĩ xảo âm thanh trong quá trình dàn dựng thu thanh,... dẫn tới tình trạng đẩy Câu chuyện truyền thanh xa lạ dần với người nghe đài.

4. Diễn xuất câu chuyện truyền thanh tưởng dễ mà khó.

Chuyển hóa từ ngôn ngữ văn học sang ngôn ngữ văn học sống động của truyền thanh là một yêu cầu khách quan, là một quá trình sáng tạo nghệ thuật. Diễn viên có thể thêm vào những từ, những chữ mà trong kịch bản hoàn toàn không có và phải biết xử lý tiết tấu ngôn ngữ để nhằm làm cho câu chuyện trở nên sống động. Tất nhiên, sự sáng tạo phải trên cơ sở nắm vững những đặc rưng của truyền thanh và phù hợp với tính cách và nội dung câu chuyện. Khi diễn xuất câu chuyện truyền thanh, người ta ưu tiên những chất giọng tự nhiên để nhằm tạo ra một không khí gần với đời thực.

Ngôn ngữ tự sự là lời dẫn chuyện hoặc lời độc thoại và ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật trong câu chuyện truyền thanh giản dị, gần với đời thường. Câu chuyện truyền thanh chấp nhận những cộng tác viên không chuyên (mà vẫn gây được hiệu quả). Như vậy, ngôn ngữ và diễn xuất của câu chuyện truyền thanh gần gũi với đời thường.

Đội ngũ diễn xuất thường được lựa chọn từ những diễn viên kịch nói chuyên nghiệp có đài từ đẹp. Nhưng do thiếu kịch bản, thù lao thấp, nên họ không mặn mà với câu chuyện truyền thanh nữa. Nhà Đài cũng không thể duy trì một đội ngũ cộng tác viên chuyên diễn xuất câu chuyện truyền thanh như trước nữa. Thế là, để tiện cho việc dàn dựng câu chuyện truyền thanh, một số phát thanh viên, phóng viên của Đài được mời tham gia diễn xuất câu chuyện truyền thanh. Không phải đối tượng này không diễn xuẩ được, nhưng không phải lần diễn xuất nào cũng hay. Khâu đánh giá chất lượng rơi vào tình trạng hạ thấp thước đo và chất lượng chương trình bám vào đó trượt đốc.

5. Cách làm cũ tạo sinh khí mới cho câu chuyện truyền thanh.

Ngành phát thanh Việt Nam từ lâu có một đội ngũ tác giả, đạo diễn câu chuyện truyền thanh. Có người vừa nghỉ hưu, có người đã khuất bóng, có người chuyển sang làm cán bộ quản lí hoặc không còn làm công việc biên tập văn nghệ nữa. Xa dời công việc biên tập, dàn dựng câu chuyện truyền thanh, họ cũng ít gắn bó với thể loại này nữa. Hi vọng lại có những trại sáng tác, chuyển thể câu chuyện truyền thanh như trước đây, để tập hợp, thu hút lại lực lượng này nhằm có được một khối lượng kịch bản nhất định.

Đội ngũ kế cận thì có nhưng chưa đủ mạnh. Họ không thiếu năng lực thẩm định và khai thác kịch bản hoặc tác phẩm để chuyển thể câu chuyện truyền thanh. Cái mà họ thiếu là kĩ năng và bản lĩnh công việc vì chưa được đào tạo kĩ lưỡng về việc này. Tự họ phải mày mò để đúc rút kinh nghiệm. Sách nghiệp vụ cho công việc này đã hiếm và cũng không được tái bản. Mong sao lại có những đợt tập huấn nghiệp vụ sáng tác, chuyển thể, biên tập, dàn dựng câu chuyện truyền thanh như trước đây cho những người đang làm nghề có điều kiện được đào tạo kĩ, đào tạo lại và có thể từ đây lại có một lượng kịch bản câu chuyện truyền thanh ra đời.

Hiện nay thiết bị kĩ thuật hiện đại hỗ trợ khá nhiều cho việc biên tập, dàn dựng, nhưng lại nảy sinh cách làm cẩu thả, cắt bước, thiếu đầu tư trí tuệ, công sức trong khâu đạo diễn, pha âm. Tôn trọng và bảo đảm đúng quy trình biên tập và dàn dựng, chắc chắn câu chuyện truyền thanh hôm nay sẽ đạt chất lượng nghệ thuật tốt hơn.

Câu chuyện truyền thanh có những đặc trưng phương pháp riêng biệt bởi nó là một thể loại nghệ thuật tổng hợp nằm trong phương thức kịch. Câu chuyện truyền thanh còn là một thể loại văn nghệ thông tin đại chúng, nên có thể dung nạp những ưu thế của các hình thức khác như văn học, kịch truyền thanh, điện ảnh,... Ngoài ra, câu chuyện truyền thanh còn có khả năng bám sát những đề tài thời sự giống như những thể loại báo chí, với phương thức biểu hiện sống động, linh hoạt. Đó là điều mà không phải thể loại văn nghệ nào cũng có thể có được. Tin rằng câu chuyện truyền thanh sẽ tìm lại được một thời vang bóng của mình.

HOÀI KHÁNH

Một chiều bên hồ Than Thở

2010-06-22 @ 12:44 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Một chiều bên hồ Than Thở

Tôi thiền như cỏ ven hồ

Ghen chi rặng liễu buông trò giễu nhau

Nhìn trời dưới nước mà đau

Để yên thì đẹp, vục sâu lại buồn

Ngỡ ôm được cả tâm hồn

Một chiều hẫng nhịp đủ mòn bao năm

Sợi tơ ủ ở ruột tằm

Tình chưa óng đã thắm đằm ban mai

Hồ Than Thở vắng bóng ai

Cho Hà Đông mãi miết dài bóng tôi

Trời cao còn chịu đơn côi

Không em, tôi bị bỏ rơi giữa trời.

22-6-2010

HOÀI KHÁNH   

Cổ tích Bạch Mã

2010-06-17 @ 09:46 in Truyện ngắn

Cổ tích Bạch Mã

Một vóc dáng rất đàn ông, một đôi mắt hơi u uẩn buồn, anh không có gì đặc biệt lắm ngòai việc là người Việt Nam duy nhất trong nhóm lữ khách du lịch đi lên núi Bạch Mã. Gần đến giờ khởi hành, sếp tôi đưa anh ra xe và dặn dò tôi một câu nửa thân mật, nửa "lệnh": "Chăm sóc chu đáo anh bạn thân của anh nghen chú mày". Tôi chào anh với vẻ hơi kính cẩn, bạn sếp mà, nhưng anh khóat tay dễ dãi: "Tự nhiên. Chú làm việc của chú đừng bận tâm đến anh". Anh nhảy lên xe trước, ngồi ở hàng ghế sau cùng. Khi tất cả mọi người đã ở trong xe, tôi nhìn anh hơi áy náy vì phía trên còn ghế trống, nhưng anh ra dấu để mặc anh. Suốt quãng đường đi, tôi kín đáo quan sát anh với sự tò mò, trong khi miệng vẫn liếng thoắng giới thiệu cảnh quan dọc đường cho các vị khách. Anh lơ đãng nhìn ra ngòai cửa xe, hình như đang suy nghĩ điều gì đó, anh tên gì, làm gì, ở đâu, tôi chưa được biết. Nhìn anh vừa giống một lãng tử phong trần vừa có nét lịch lãm của một người hiểu biết qua cách ăn mặc và cách anh cười khi nghe tôi nói một chuyện vui với khách. Mà sao anh đi Bạch Mã có một mình, không giống lắm người đi du lịch,càng không phải là người đi làm việc. Sếp tôi không nói rõ ràng ngòai hai chữ "bạn thân", hay đây cũng là mẫu người "quái quái" như sếp, thôi thì như sếp dặn "chăm sóc chu đáo", nhưng có vẻ như anh không cần đến cái "chăm sóc chu đáo" đó.

Xe tới chân núi Bạch Mã, tôi thấy anh có một cái gì đó thật lạ. Vẻ bồn chồn, anh đẩy cửa kính xe, chồm hẳn ra ngòai nhìn, gương mặt không còn vẻ lãnh đạm thờ ơ như nãy giờ trên đường đi. Chương trình của tôi ở Bạch Mã có nghỉ đêm nên tôi cho làm thủ tục nhận phòng ở khách sạn Bạch Mã ngay lưng chừng núi. Mải giúp khách nhận chìa khóa nên tôi không để ý đến anh; hơn nữa, anh và tôi chung phòng, phải ưu tiên mấy vị khách nước ngòai trước. Xong hết, tôi quay ra kêu anh, nhưng hình như anh không nghe dù chỉ đứng cạnh tôi có mấy bước chân. Anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu một tiên nữ đang vui đùa giữa hoa lá chim muông rất đẹp, sống động... Tôi lại gần chạm vào anh, anh mới giật mình, môi lắp bắp: "Hương Phong...là nàng...". Anh đi theo tôi nhưng không quên ngóai đầu lại nhìn bức tranh, ánh mắt thật lạ, như cười như pha chút băn khoăn, khắc khỏai thế nào ấy.

Buổi tối, sau khi cùng đòan tham gia chương trình tour, trở về khách sạn,tôi lại thấy anh đứng như bị thôi miên trước bức tranh thêu tiên nữ, mắt lộ vẻ gì đó van lơn tha thiết, chen nét trìu mến...Tôi kéo anh ra khỏi mộng mị bức tranh, hơi thắc mắc tại sao anh có vẻ "lụy" trước một bức tranh như thế, vì nó cũng chỉ đẹp như nhiều tranh phong cảnh khác. Đêm đó, sau mấy tuần rượu giữa hai người, cởi mở thân tình hơn, tôi được nghe anh kể chuyện tình của anh, ngỡ như người trong mơ đang tưởng tượng, cứ mông lung kỳ ảo không hiểu thực hư, ngay cả tôi cũng lâng lâng say nên ngồi nghe trong sự lơ mơ hình như đang lạc vào câu chuyện lạ lùng xa xưa lắm...

... Bốn năm trước tôi đến Huế dự Festival, là một nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc, nên Huế không xa lạ lắm, dù còn nhiều bí ẩn vẫn cần khám phá. Trước ngày khai mạc, tôi lang thang ở khu Thành Nội, xách theo máy ảnh định chụp kĩ mấy bức chạm nổi trên chín cái Đỉnh đồng ở nhà Thế Miếu, có rất nhiều nhà nghiên cứu nói về nó, nhưng tôi muốn tìm thêm những thông điệp, tôi tin là vẫn còn ẩn giấu, người xưa thâm thúy lắm, mà nghệ nhân làm ra các tuyệt tác nghệ thuật lại là bậc thầy của những ẩn dụ thời gian, nối quá khứ, hiện tại với tương lai. Đang loay hoay ngồi chỉnh ống kính vì cần phải cận cảnh, rõ ràng, sắc nét...một làn gió thỏang qua đưa mùi hương rất lạ,mũi tôi khá nhạy cảm với mùi, chợt thấy ống kính bị giật nhẹ, tối sầm lại, đồng thời tôi nghe tiếng kêu: "Ui chao...". Ngẩng lên, không thể tin vào mắt mình, một "nàng" Huế chính gốc, áo dài tím nhạt, đẹp không tả được, mắt nhìn vào tôi như muốn nhấn chìm tất cả, cứ vời vợi long lanh, tóc mượt dài như mây, da trắng mịn màu men sứ, dáng mềm như liễu...Đẹp đến muốn nín thở, tôi ngây người ra nhìn quên cả đứng lên, quên cả phép lịch sự tối thiểu... "Ui chao. Anh ni lạ rứa hè!". Tôi cứ như gã khờ thốt ra một câu ngờ nghệch: "Đẹp quá...". "Anh ni lạ rứa...Gỡ áo em ra cho em đi..."; ôi trời ạ, tà áo sau của nàng quấn lấy ống kính của tôi vẫn chưa gỡ ra. "Xin lỗi...". Tưởng nàng sau đó đi luôn, nhưng hình như nàng chùng chình, bất chợt nàng mỉm cười "Anh ni lạ rứa"... còn tôi cũng bất ngờ lúng túng, muốn nói một câu gì để giữ nàng lại làm quen, nhưng lại muốn nàng đi thật nhanh, vì hình như tim tôi hơi bất thường, một sự rung động khó diễn thành lời, giữa tôi và nàng có một giao cảm huyền bí nào đó.

Vâng! Tôi là một thằng đàn ông hơi khó tính, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa có một mảnh tình làm phép, trong mắt tôi phái yếu là một thế giới xa lạ, bí hiểm, rắc rối, mà tôi thì chưa muốn bị ràng buộc, tôi đam mê công việc nghiên cứu, lâu dần tôi bị coi là kẻ lập dị, không đàn bà con gái nào để ý, có vài người còn bóng gió cho là tôi "đồng tính". Tôi mặc kệ thiên hạ, không quan tâm.

Nhưng rồi nàng, bất ngờ như lúc xuất hiện, lướt nhanh qua tôi, đi như một làn gió về phía cửa lớn hướng ra Thành Nội. Còn tôi, từ lúc đó người cứ bần thần không tập trung được việc gì. Tôi bỏ dở ý định chụp Cửu đỉnh, ra về, vơ vẩn đi dọc sông Hương, trong đầu ám ảnh về nàng, bất chợt thấy mình cô đơn quá, nhất là ở xứ Huế thơ mộng này. Liệu có còn gặp lại nàng...

Lễ hội Festival khai mạc, cùng với rất nhiều chương trình khơi dậy một Huế xưa cuốn hút tôi. Tôi vẫn không quên gương mặt tuyệt đẹp của nàng, đi bất cứ đâu ở Huế, tôi luôn chú ý tìm nàng trong số những đám đông thiếu nữ, song không ai mang gương mặt siêu thóat ấy...Chợt thấy lòng mình hơi chùng lại, tim se sắt một nỗi buồn khó hiểu. Đến đêm thứ ba của lễ hội, tôi đi dự dạ tiệc cung đình có biễu diễn nhã nhạc trong Thành Nội , đúng lúc tôi chuẩn bị ngồi xuống hàng ghế dành cho khách mời, mũi tôi thóang bắt gặp mùi hương lạ theo làn gió thỏang qua, một cái rùng mình. Trước mặt tôi là nàng, dưới ánh đèn rực rỡ còn đẹp hơn cái buổi tôi gặp ở nhà Thế Miếu, vẫn màu áo dài tím nhạt nhẹ như sương chiều, vẫn một câu nói "Anh ni lạ rứa"... Nàng ngồi xuống ngay cạnh tôi... Đêm đó thật tình tôi không còn nhớ những gì đang diễn ra trên sân khấu, ngay cả bữa dạ tiệc tôi cũng không biết mình đã ăn những thức gì, chỉ biết một điều duy nhất bên tôi là nàng, một nàng Huế đẹp như thần tiên trong tranh. Một đêm Huế thật đặc biệt trong cuộc đời. Sau khi rời khỏi Thành Nội, tôi và nàng đi dạo dọc theo hồ sen Tịnh Tâm... Nàng có tên Hương Phong, cái tên nghe hay hay lạ lạ và hiếm thấy ai có ở đất Huế này. Lần đầu tiên tôi đi bên một cô gái, cảm giác hư thực như đang ngấm một thứ men rượu ngọt cứ lâng lâng dễ chịu. Dù mới gặp nhau nhưng cả tôi và nàng như thể quen nhau lâu lắm, nàng nói cho tôi biết nhiều chuyện về Huế. Những câu chuyện của nàng rất đặc biệt, tôi có cảm giác nàng rất am hiểu về kinh thành Huế xưa, cả lịch sử, triều đại đến những lĩnh vực văn hóa cung đình. Hình như tôi đang nắm trong tay báu vật của Huế-nàng Hương Phong. Cảm giác ấm áp lạ thường, tôi muốn đêm dài mãi, để được đi mãi bên nàng. Tôi không còn hiểu mình khi có một ý nghĩ:nàng sẽ mãi là của tôi. Ừ! Mà sao nàng lại tin tôi, đi với người đàn ông lạ mà không tỏ ra e ngại gì. Hay chính Ông Trời đã tặng nàng cho tôi, hay chính kiếp trước tôi và nàng là hai nửa của nhau. Nhưng rồi tôi cũng phải chia tay nàng không thể đi hết đêm được. Tôi ngỏ ý đưa nàng về nhà, nàng lắc đầu quầy quậy: "Nỏ được mô. Nhà em xa ngái, ngòai Thành. Em đi xem hội, ở nhà dì. Dì khó dữ. Anh để em tự về... Mai em đến anh". Rồi nàng quay đi rất nhanh về phía trong xóm sau hồ Tịnh Tâm, không kịp cho tôi phản ứng gì, thóang đã thấy mất hút bóng nàng, chỉ còn phảng phất mùi hương trong gió...Hương Phong. Đêm đó tôi mất ngủ- mất ngủ vì một nàng con gái đầu tiên ám ảnh tôi trong đời.

Ngày hôm sau, tôi dự định đi sang bên Kim Long để tránh cái nắng gay gắt giữa hạ và để cảm cái chất thơ của hoa lá cây kiểng ở mấy khu nhà vườn nổi tiếng đất thần kinh bên ấy. Lời hẹn của nàng. Ừ. Sao tôi vô tâm quá, không cho nàng biết tôi ở đâu thì làm sao nàng đến được. Không lẽ tôi lại lạc mất nàng lần nữa. Nhưng tôi linh cảm mối giao cảm kỳ lạ, nhất định nàng sẽ tìm được tôi. Tôi xuống dưới sảnh chờ. Nàng Hương Phong của tôi đang nhìn tôi cười, dấu ấn, đóng vào tim tôi vị ngọt ngào. Tôi và nàng có những giây phút lãng mạn đầy thơ mộng bên nhau trong bóng mát rợp và hương thơm của cây trái hoa lá. Và cũng thêm một lần tôi khâm phục sự hiểu biết của nàng về các lọai cây trái, nàng kể tên từng lọai, nguồn gốc, tính cách đặc điểm, thời điểm đơm hoa kết trái, như chính nàng là người chăm sóc cây. Hương Phong, nàng của tôi chừng hai mươi tuổi, mà có một kiến thức không dễ gì ai sánh được.

Quá trưa, tôi và nàng trở về Thành Nội, tôi đưa nàng đi ăn bên Gia Hội, nhưng vừa gần tới chợ Đông Ba, nàng nói đi theo nàng đến nơi này. Lòng vòng qua vài con đường nhỏ bên trong Thành, nàng đưa tôi đến một tiệm ăn. Rất đặc biệt, lối vào rải sỏi tròn trắng, hai bên trồng tòan hoa đủ màu sắc tỏa hương thơm ngát, tiệm ăn là một tòa nhà xinh xắn bằng gỗ lợp ngói lưu ly, bước vào trong không khí mát rượi không hề thấy cái nóng ngòai kia, nhưng tuyệt nhiên không thấy một cái quạt hay máy lạnh nào. Cách sắp đặt cũng thật đặc biệt, bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trông rất cổ kính. Những tiếp viên đẹp đến không ngờ, như tranh Tố nữ bước ra, ăn mặc xiêm áo ba tầng bảy lớp, tóc búi cài trâm giắt lược, tay chân đeo vòng nhạc mỗi cử động nghe leng keng rất vui. Tôi thầm nghĩ, Huế làm Festival, muốn phục dựng khung cảnh xưa để thu bút khách. Nhưng ý nghĩ của tôi bị lung lay khi các thức ăn được dọn ra, tôi là nhà nghiên cứu văn hóa, nên có chút hiểu biết về cổ vật, tôi không thể tin vào mắt mình, tất cả đồ sứ gia dụng, cốc, chén, bát, đĩa là đồ cổ chính hiệu mang tên đồ sứ men lam đặc trưng của thế kỉ mười sáu, mười bảy, cả đôi đũa ngà được chạm trổ tinh xảo như tác phẩm nghệ thuật cũng phải có tuổi vài trăm năm. Tiếp thị đến mức này có quá đáng không hay đây là "giả" tinh vi, khéo léo. Nhưng không, tôi cầm lên xem kỹ. Nó hòan hảo và hòan tòan thật. Còn thức ăn, tôi chưa bao giờ được ăn những món lạ và tuyệt ngon đến thế, dù tôi không phải người sành ăn nhưng rõ ràng đây là những món chưa từng thấy trong các thực đơn nhà hàng nào. Nàng ngồi bên tôi, gần như không ăn gì, chỉ gắp cho tôi thức này đến thức khác và tủm tỉm cười mỗi khi tôi buột lời khen. Tách trà sau bữa ăn là một thứ danh trà có lẽ lần đầu tôi được uống. Nước xanh vị ngọt và hương thơm như của muôn lòai hoa hòa quyện, uống đến đâu người thấy sảng khóai, thanh thóat lạ lùng. Chưa hết dư vị của tách trà, đã thấy một cô tiếp viên xiêm áo lả lướt bước tới cười tươi:"Rất lâu rồi bọn em mới được chị tới thăm, hôm nay chị có khách quí, có chi thất lễ và chưa ưng ý, chị bỏ qua". Cô quay sang tôi nháy mắt: "Khách quí...Cảm ơn đã chiếu cố". Tôi chưa kịp phản ứng gì, thì nàng đã kéo tôi đứng dậy: "Đi anh". "Nhưng còn thanh tóan?". "Đừng bận tâm". Thấy tôi còn băn khoăn, nàng cười: "Anh ni lạ rứa". Chỉ thế thôi mà tôi thấy yên lòng. Nhất định tôi sẽ giới thiệu cho mọi người biết về tiệm ăn này.

Nàng hỏi tôi: "Ngày mai anh đi đâu?". Tôi nói nàng muốn đi ngắm mây Bạch Mã, nàng hớn hở: "Ôi...Nhà em ở đó...Em đưa anh đi" và nàng líu lo một khúc hát rất lạ, giai điệu cũng lạ lắm, tôi chỉ biết là rất hay. Mà cũng kỳ, ở nàng có gì đó không giống các cô gái thời nay. Nàng không thích đến những nơi như quán café nhạc, nàng có vẻ xa lạ với những vật dụng thời thượng như điện thọai di động, nàng thờ ơ với những cửa hàng thời trang và rất thích thú khi xem bộ trang phục cung đình trong triển lãm. Trang phục đi với tôi là áo dài một màu tím nhạt như sương. Với những thông tin như nhạc trẻ, hay các trào lưu văn hóa du nhập vào Việt Nam, nàng gần như không hiểu biết gì, nhưng nói tới văn hóa xưa, lịch sử, kể cả âm nhạc cung đình nàng say sưa nói với vốn kiến thức mà ngay cả tôi cũng thua kém và thấy mình còn thiếu hiểu biết hơn nàng.

Sáng ngày đi Bạch Mã, tôi mượn chiếc xe gắn máy và phóng thẳng một lèo đến chân núi khi trời còn mờ sương. Nàng nói, nhà ở núi Bạch Mã, tôi định đi lòng vòng hỏi thăm, chưa đi được vài thước, tôi đã thóang ngửi thấy mùi hương thơm, mùi của nàng, rất riêng không giống mùi nước hoa. Và nàng, không biết đi từ hướng nào, đã thấy đến cạnh tôi, gọn gàng trong bộ đồ đi núi của người dân tộc, nhìn đẹp và lạ với những hoa văn thêu khá cầu kỳ như bức tranh. Nàng đeo một cái túi nhỏ cùng màu áo cũng đẹp và lạ không kém. Nàng leo lên xe, ôm lấy tôi và giục: "Đi anh...". Tôi nhìn lên chiếc barie chắn ngang đường lên núi, người gác có lẽ chưa thức, vì có ai lên núi sớm như tôi. Tôi lại nghe giục phía sau "Đi anh". Cái barie đã kéo lên cao, tôi rồ máy xe chạy qua, không kịp thắc mắc hình như không có ai ở đó. Đường lên đỉnh Bạch Mã ngoằn nghoèo, dốc, hơi khó đi, xe tôi gài số hai, bò lê ậm ạch, nhưng được một lát tôi có cảm giác xe đang chạy trên đường bằng, dù đường vẫn ngoằn nghoèo, hết dốc này đến dốc khác... Mặt trời đã lên, cảnh vật hai bên đường núi đẹp quá. Vừa chạy vừa ngắm, chẳng để ý gì đến đường đi xe chạy như thế nào. Những con thác nhỏ từ trên núi đổ xuống giống như những dải mây trắng, bắn vô vàn hạt nước li ti, lóng lánh phản chiếu ánh nắng như một tấm màn voan dát kim cương. Con thác trượt trên các phiến đá ngắt từng đọan như cụm mây trườn xuống, những vạt rừng đỏ rực hoa đỗ quyên, cùng hàng đàn bướm đủ màu bay lượn như vườn hoa di động.

Chúng tôi dừng xe ngay nơi một con thác cao đổ xuống năm cái hồ, lạ một điều khi dòng nước vừa chạm mặt hồ, hình như dòng thác đứng lại, mặt hồ phẳng lặng hiền hòa, nước trong vắt, nhìn thấy hàng ngàn con cá đủ màu bơi lội tung tăng. Cây cối nơi này rất cao thẳng, tán lá rộng , rợp mát. Đúng là tiên cảnh. Tất cả những nơi này đều là điểm tham quan du lịch của Bạch Mã, không ai lên đây không đến chiêm ngưỡng. Nhưng sao tôi có cảm giác khang khác, cảnh vật có vẻ lung linh kỳ ảo hơn những gì tôi đã nghe qua hay xem qua từ sách báo, phim ảnh. Nơi này đẹp nguyên sơ mang chút hoang dại như chưa hề có bước chân người qua lại.

Một cảnh tượng thần tiên. Nàng Hương Phong của tôi, đẹp như tiên nữ đang nhảy múa trên bãi cỏ xanh mượt, giữa hàng vạn cánh bướm dập dờn lộng lẫy sắc màu, xung quanh là bầy chim trĩ xòe cái đuôi có những chấm sao lóng lánh, rồi mấy chú nai, hoẵng nhịp nhịp gõ chân, trên cao cơ man nào là chim vừa bay vừa đậu đặc trên mấy cây cổ thụ véo von hót những giai điệu bất tận âm vang cả rừng núi. Đúng là một đại cảnh rừng hoang tuyệt đẹp. Tôi gần như nín thở, chỉ sợ động đậy là mọi cái tan biến. Không có gì để nói lên cảm xúc lúc này bởi sự kỳ vỹ của vẻ đẹp Bạch Mã, thiên nhiên con người hòa vào nhau. Và cũng không thể ngờ, nàng không cho tôi đứng yên để ngắm, nàng kéo tôi vào vũ điệu thiên nhiên hoang dã đó. Cảm xúc được thăng hoa tới tận cùng. Tôi- nàng- Bạch Mã khắc dấu trong tôi không phai được. Và nàng, thêm vào hương vị rừng bằng một bữa ăn mà tôi không thể biết đã được chuẩn bị như thế nào, nhưng điều làm tôi kinh ngạc là tất cả những đồ để đựng thức ăn đều bằng loại đá ngọc với nét chạm nổi và hình dáng cực kỳ tinh xảo và lạ, tôi chưa hề thấy ở bất cứ đâu, hơn thế nó hoàn toàn rất cổ, không phải tuổi mấy trăm năm mà phải là mấy ngàn năm trở lên. Đặc biệt nhất là bình rượu bằng ngọc xanh biếc trong suốt, màu rượu cũng xanh như thế, uống vào, hương thơm như theo từng mạch máu lan tỏa khắp người, cảm giác dễ chịu thư thái thoát tục. Nàng đã đem lại cho tôi những giây phút ngọt ngào kỳ lạ nhưng cũng đầy thơ mộng.

Từ Bạch Mã trở về, tim tôi thật sự không còn bình yên nữa. Tôi đã hành con người khác. Hình ảnh nàng choán hết trong tôi, ngự trị trong tôi. Tôi đã yêu... Một tình yêu "sét đánh", không lí giải được. Nàng và cái tên Hương Phong cùng mùi hương thơm rất lạ rất riêng của nàng ám ảnh tôi không chỉ vì cái buổi đầu tiên ở nhà Thế Miếu mà như từ tiềm thức. Nàng vẫn còn nhiều bí ẩn, luôn mang cho tôi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, hình như ở nàng ẩn dấu cả bí mật kinh thành Huế. Những nơi nàng đưa tôi đến đều hết sức lạ lùng, không hề có dấu vết đổ nát, phôi phai của thời gian, nhưng rõ ràng là ở một thời xa xưa hàng mấy thế kỉ. Nhưng tôi không hề để ý điều đó. Được gần bên nàng cảm giác thật dễ chịu, như tôi và nàng gắn kết với nhau. Trong tôi không hề nghĩ sẽ phải xa nàng...

Festival kết thúc, tôi phải trở về nhà với công việc nghiên cứu đang đợi tôi. Ngày cuối ở Huế với tôi thật ngắn, tôi không muốn xa nàng và nàng cũng cảm thấy thời khắc chia tay, gương mặt xinh đẹp của nàng gợn nét buồn làm tim tôi cứ nhói lên. Tôi tự an ủi mình. Đây chỉ là cuộc chia tay tạm thời, thời này khoảng cách địa lí đâu có là trở ngại. Đêm cuối, khi ôm xiết nàng trong vòng tay, hôn lên môi mắt nàng, tôi vẫn nghĩ tôi sẽ gặp lại nàng sớm nhất khi có thể. Tôi không nghĩ đó là lần cuối tôi được bên nàng.

Sáng hôm sau, cứ ngỡ nàng sẽ đến gặp để tiễn tôi đi, tôi đã đợi nàng ở trên cầu Tràng Tiền, đứng nơi tôi và nàng hay dừng chân ngắm sông Hương. Đợi rất lâu... sắp tới giờ phải về khách sạn trả phòng ra ga. Không thấy nàng. Bấy giờ tôi mới chợt nhớ là tôi chưa hề biết địa chỉ của nàng. Thật lú lẫn. Làm sao đây? Tôi bối rối và tự trách mình. Một làn gió thổi qua. Mùi hương của nàng... Tôi dáo dác nhìn. Từ phía xa có một chú bé bán báo dạo đang đi về phía tôi... "Thưa cậu... có một cô nhờ con đưa vật ni". Tôi chưa kịp nói hỏi gì, đã thấy chú bé vụt đi rất nhanh. Trên tay tôi là một chiếc hộp gỗ chạm tinh tế có vẻ rất xưa, tỏa mùi trầm. Tôi mở ra. Một chú rùa nhỏ và một lá thư..."Anh yêu... Đành phụ tình anh... Giữa hai ta là khoảng cách không thể vượt qua. Hãy quên em và cầu chúc anh hạnh phúc. Gởi anh chú rùa Bạch Mã, bạn em nay là bạn anh...- Hương Phong". Tim tôi muốn ngừng đập, cổ muốn nghẹn lại... Không thể... Tại sao... Đêm qua... Nàng có nói gì, tỏ ý gì đâu... Hương Phong... Một làn gió thoảng mùi hương của nàng. Tôi run lên. Bất chợt lá thư trên tay tôi vuột bay xuống dòng sông. Tôi muốn hét to lên gọi nàng nhưng người cứ như mất trọng lượng. Tôi trở về với trái tim bị thương mà không hiểu vì lẽ gì.

Tôi đã trở lại Huế nhiều lần. Tôi không thể quên nàng và những giây phút hạnh phúc ngắn ngủi. Tôi đi tìm nàng. Hai năm trước, cũng mùa Festival, tôi lại đến Huế, nàng nói thích đi xem Hội, biết đâu tôi sẽ gặp nàng. Tôi ghé lại những nơi nàng đã đưa tôi đến. Cảnh vật hoàn toàn khác, chỉ là những hoang phế đổ nát, không lẽ mới vài năm mà đã bị tàn phá như vậy. Hay là tôi đã nhớ sai địa điểm. Ngay cả cái tiệm ăn cung đình kiểu cổ nàng đưa tôi đến ăn buổi trưa, tôi cũng không thấy, nơi đó là một khu vườn trống bỏ hoang. Tôi hỏi nhiều người, ai cũng lắc đầu "không biết", và họ còn nói ở đây chưa bao giờ có tiệm ăn, ở Huế cũng không có tiệm ăn nào như thế... Mùa hội năm nay tôi lại đến Huế, hy vọng tìm được nàng. Cách đây mấy ngày, tôi đến khu nhà vườn Huyền Không, vẩn vơ trong vườn, nhớ lại kỉ niệm xưa với nàng, trái tim cứ muốn thổn thức, nhoi nhói, không biết nàng ở đâu, ra sao...Gặp một ông cụ râu tóc bạc phơ, chợt muốn hỏi chuyện, những bí ẩn không tên, làm cho tôi không yên, cứ thắc mắc hoài. Tôi hỏi chuyện tiệm ăn, cụ nói thong thả: "Có đấy, nhưng là bốn trăm năm trước. Thời vua Minh Mạng, gặp hạn hán đói kém mất mùa, nghe lời khuyên, vua giải phóng cho vài trăm cung phi về với dân gian, để lập đàn tế Trời cầu mưa. Các cung phi mang danh "vợ Vua", ra ngoài khó sống quá, tập hợp lại mở một quán ăn chuyên nấu đồ ngự thiện để cho các quan trong thành đãi khách và các nhà quyền quý vương tôn hoàng tộc đến ăn... Trong sách sử có ghi chép về việc này". Một cảm giác mơ hồ trong tôi, lạnh cả sống lưng, tôi run run hỏi: "Ông có nghe một cái tên Hương Phong?". Và tôi thật sự toát mồ hôi lạnh khi nghe ông cụ nói: "Hương Phong là nàng tiên Gió của núi Bạch Mã. Một huyền thoại của cư dân vùng đó. Có điện thờ ở dưới chân núi...". Tôi không biết mình đang tỉnh hay mơ. Tôi quyết định đi Bạch Mã để tìm hiểu.

...Chú biết không? Bức tranh thêu ở dưới sảnh khách sạn chính là cái cảnh Hương Phong nhảy múa với bầy chim muông hoa bướm ở Bạch Mã, tôi vừa kể chú nghe... Tôi cũng dò hỏi người quản lí khách sạn này về bức tranh, họ nói, đúng là ở núi Bạch Mã cư dân thờ nàng tiên Gió. Đây là bức tranh thêu họa lại bức tranh thờ ở miếu dưới núi, do một nghệ nhân thêu tặng. Nàng tiên Gió là vị thần hộ mệnh cho vùng này. Tôi không tin. Nàng Hương Phong của tôi không thể là nàng tiên Gió... Tôi đã có biết bao nhiêu kỉ niệm, bao giây phút ngọt ngào êm dịu bên nàng... Nàng là thật không phải là gió... Nhất định tôi sẽ gặp được nàng...

... Tôi nghĩ anh đã say, tôi cũng say, nên không biết nói với anh thế nào. Câu chuyện của anh mơ màng, kỳ ảo, hơi hoang đường như trong giấc mơ. Có lẽ anh là một người đa tình và lãng mạn. Tôi dìu anh lên giường. Ngày mai chúng tôi sẽ có cuộc khám phá Bạch Mã.

Nhưng rồi, tất cả suy nghĩ của tôi bị đảo lộn. Sáng hôm sau, khi tôi xuống sảnh đưa khách đi tham quan Bạch Mã, hơi tò mò, tôi dừng lại ngắm kỹ bức tranh... Dường như tôi bị hoa mắt. Nhưng không, tôi chớp mắt mấy cái, rõ ràng nàng tiên nữ trong bức tranh bước ra đứng trước mặt tôi, mỉm cười và nháy mắt. Một làn gió thổi qua, trong sảnh rất kín không có cửa sổ hay lỗ hổng nào, và mùi hương thơm thật lạ... Tôi gai hết cả người. Không lẽ câu chuyện anh kể có thật. Có một nàng Hương Phong, một nàng tiên Gió. Thời đại này còn có những câu chuyện kỳ lạ như thế sao?

Và tôi kể lại như một câu chuyện cổ tích của núi Bạch Mã.

HOÀI HƯƠNG

Hé lộ về Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc

2010-06-12 @ 01:57 in Thông tin tổng hợp

Hé lộ về Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc

Ngày 9-6-2010, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức thành công Đại hội Nhà văn khu vực phía Bắc lần thứ III, tại hội trường Khách sạn Hải Yến, khu 1 - Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. 116 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 26 tỉnh, thành phố phía Bắc đã về dự Đại hội. Các đồng chí Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng, Hoàng Văn Kể - Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, cùng lãnh đạo, đại diện một số ban ngành ở thành phố Hải Phòng đã tới dự Đại hội.

Phát biểu khai mạc Đại hội, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - cho biết: đ Đây là Đại hội đầu tiên trong 10 Đại hội cơ sở tiến tới Đại hội toàn thể Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII sẽ diễn ra tại Hà Nội vào tháng 8 năm nay.

Phát biểu chào mừng Đại hội, đồng chí Nguyễn Đình Then - Ủy viên Ban thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Hải Phòng - đã giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Hải Phòng và coi đó có tính chất kích thích và là tiềm năng sáng tạo của các nhà văn, mong muốn các nhà văn tiếp tục cho ra đời những tác phẩm văn học có giá trị, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Sáu đó, thay mặt Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội - trình bày dự thảo Báo cáo tổng kết mang tiêu đề Vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá con người. Báo cáo khẳng định 5 nét mới trong đời sống văn học Việt Nam thời gian qua: Một là, tiếp tục viết về đề tài chiến tranh cách mạng nhưng mạnh hơn là sáng tạo trong cuộc đấu tranh để công nghiệp hoá đất nước, các nhà văn có mặt ở những mũi nhọn của đời sống, chủ đề lớn của văn học ta hôm nay là đạo đức xã hội. Hai là, các nhà văn quan tâm hơn đến yêu cầu kết tinh văn học, dồn sức cho những tác phẩm lớn mang ý nghĩa tổng kết một đời văn. Ba là, ý thức bảo vệ truyền thống, chống lại cuộc xâm lăng văn hoá từ bên ngoài. Bốn là, xu hướng hiện đại hoá văn học, kết hợp với nâng cao một bước sự chuyên nghiệp hoá nghề văn. Năm là, xuất hiện nhiều tài năng trẻ, thể hiện rõ hơi thở, giọng điệu của đời sống hôm nay. Báo cáo cũng nêu bật kế hoạch và lộ trình nâng cao chất lượng lí luận phê bình, như là một nỗ lực khắc phục cái yếu kém tồn đọng nhiều thập kỉ vừa qua; Ban Chấp hành đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, có lẽ là nhiều kỉ lục so với các nhiệm kỳ từ ngày có Hội; mở nhiều lớp tập huấn và mở Trung tâm bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du; các hội thảo về Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Võ Quảng, Nam Trân...đã để lại tiếng vang trong đời sống văn học. Nhiệm kỳ vừa qua, đã đưa được Ngày thơ Việt Nam vào đời sống lễ hội, năm sau nhiều sáng kiến hơn năm trước và đặc biệt hơn là lần đầu tổ chức Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam nhưng đã để lại trong lòng bạn bè quốc tế những ấn tượng sâu đậm. Chủ tịch Hữu Thỉnh nhấn mạnh: "Chúng ta đang tiến sâu vào thế kỉ XXI (...) Đó là thế kỉ giải phóng các tiềm năng của con người, đó cũng là thế kỉ cần nạp năng lượng văn hoá tối đa cho con người, giúp con người thực sự trở thành Con Người, với tư cách vừa là chủ thể riêng rẽ vừa là thành viên trong một cộng đồng trách nhiệm. Trong cuộc chuyển đổi vĩ đại của dân tộc, các nhà văn chúng ta nhận lấy sứ mệnh nạp năng lượng tinh thần cho xã hội, dồn hết tâm huyết và tài năng vì sự cường thịnh của đất nước, vì phẩm giá của con người."

Tiếp đó, nhà văn Đức Hậu - Trưởng Ban công tác các nhà văn phía Bắc - đẫ báo cáo kết quả công tác của Ban trong 5 năm qua.

Nhà văn Nguyễn Trí Huân - Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam - trình bày dự thảo Báo cáo về sửa đổi Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam, để các đại biểu dự Đại hội này thảo luận và góp ý.

Đại hội tiến hành bỏ phiếu kín giới thiệu 21 nhà văn và thống nhất tín nhiệm chọn 3 nhà văn có số phiếu cao nhất là Đình Kính, Nguyễn Thuý Quỳnh, Bình Nguyên để tham gia danh sách ứng cử Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII.

Hội trường bị mất điện lưới nên khá nóng bức, một số nhà văn ngồi phía cuối hội trường "tranh thủ" ra ngoài uống nước, hút thuốc lá và tán gẫu cho mát  Phóng viên Lê Minh Thắng của báo An ninh Hải Phòng đã kịp chụp được mấy kiểu ảnh sau đây:

 

 

 

 

Buổi chiều, Đại hội nghe tham luận và phát biểu ý kiến của các nhà văn. Nhà thơ Võ Sa Hà đọc bản tham luận là những trăn trở về đội ngũ các nhà văn thiểu số. Có thể do không có các đánh giá đúng mức giá trị của các nhà văn người Kinh viết về miền núi, việc thiếu vắng những nhà phê bình chuyên cho các nhà văn miền núi dẫn đến thực trạng các nhà văn miền núi ùa về Hà Nội, để một khoảng trống trong đội ngũ đang ngày càng thiếu vắng những tên tuổi lớn. Nhà văn Trần Quốc Tiến đọc bản tham luận về cái ngưỡng văn học còn không, vì sao tình trạng văn rởm thơ rác cứ được in tràn lan? Trách nhiệm của các nhà xuất bản, các nhà chức trách ở đâu? Vì sao cứ các nhà văn phạm "huý" thì bị đánh lằn lươn còn việc làm cho chất lượng văn học giảm đi, lẫn lộn vàng thau thì cứ được "tự do hoành hành? Nhà thơ Đỗ Thị Tấc phát biểu: "Tôi đồng ý và đánh giá cao Báo cáo do Chủ tịch Hội đọc, trí tuệ và đầy đủ. Tôi thấy 5 năm qua, các hội đồng, các ban đã làm được quá nhiều việc; tôi được mời về đọc thơ Ngày thơ Việt Nam lần thứ 8, xe hỏng không về kịp; về đến nơi thấy mọi người xơ xác, họ đã đóng góp hết sức mình cho thơ, sao nỡ phàn nàn về họ, nhân văn đâu? Về dự thảo sửa đổi Điều lệ Hội, tôi không đồng ý có khoản hội viên danh dự. Tôi làm Chủ tịch Hội địa phương, tôi đã lãnh đủ cái gọi là hội viên danh dự. Nhà thơ Dư Thị Hoàn phát biểu: "Một nét mới và tích cực mà Báo cáo còn bỏ sót. Hội ta năm nay đã có tinh thần hoà hợp hơn, dành các số báo Văn nghệ và tạp chí Thơ in các truyện và thơ của các nhà văn miền Nam trước 1975; sao chúng ta hoà hợp với các nhà văn Mỹ được mà các nhà văn miền Nam cũ lại không?". Nhà văn Đặng Văn Sinh đọc một bài văn của học trò, được cô giáo cho 9 điểm mà ngôn ngữ suy thoái, hổ lốn, báo động một tình trạng bi đát về văn học học đường,... Nhà thơ Mai Phương đọc bài tham luận về sự đọc thơ: "Nhà thơ phải sống giữa cộng đồng và những người sẽ đọc anh ta; tôi từng bán sách văn học cho các nhà lãnh đạo, nhưng hoá đơn lại ghi là sách kỹ thuật, sách an toàn lao động. Ôi trời ơi, văn học là công cụ nuôi dưỡng tâm hồn người mà sao người ta không dành cho nó sự cư xử có tình có lí?". Nhà thơ Kim Chuông đọc tham luận về việc Đại hội toàn thể Hội: Theo ông, đó là một việc tốt, là nỗ lực rất cảm động của Ban Chấp hành khoá VII. Nhà văn thì ai có thể đại diện cho ai, nhưng nếu đại hội đại biểu, nhà văn sẽ phải làm cái việc vạn bất đắc dĩ là gạch tên nhau. Ông cũng chê trình độ biên tập viên các báo của Hội kém quá, chỉ quen với một nhúm tác giả rồi đăng bài cho họ, còn bài của các nhà văn hội viên thì không. Ông cũng chê Website của Hội chậm cập nhật thông tin. Nhà thơ Nguyễn Anh Thuấn phát biểu: "Về Ban Chấp hành khoá tới, tôi thấy Chủ tịch Hội nhiệt tâm mong muốn bầu được đủ cơ số và thấy đúng là cần như vậy thật; tôi đặc biệt thích câu "Khoá VII là khoá an cư, Khoá VIII là khoá lạc nghiệp" trong báo cáo của Chủ tịch Hội".

Tổng kết Đahi hội, nhà thơ Hữu Thỉnh nói: "Ước gì Đại hội toàn quốc sẽ diễn ra ở Hà Nội được tốt đẹp như Đại hội này." Có mấy vấn đề cần nhấn mạnh là, cần có sự đảm bảo về nhân cách văn hoá trong tiêu chuẩn xét kết nạp hội. Về hội viên danh dự, như ý kiến của chị Đỗ Thị Tấc, nó là hệ quả của sự phát triển, và quả thật nó là vấn đề tế nhị. Ý kiến của chị Dư Thị Hoàn rất đáng suy nghĩ, chúng ta đã chậm hơn tư duy kinh tế (không phân biệt chính kiến, đều có quyền đầu tư.) Tư duy văn học cũng cần hút vào lòng dân tộc những giá trị khác, hoà hợp dân tộc. ý kiến của anh Đặng Văn Sinh về sự loạn chuẩn đúng là cấp bách. 1 mét bây giờ có nguy cơ chỉ còn 60 - 70 cm Mấy khoá vừa qua, kinh nghiệm cho thấy các ban, hội đồng cần rút gọn; xây dựng Ban sáng tác trở thành hùng mạnh; sắp tới các ban văn trẻ, phụ nữ, quốc phòng...đều nằm cả ở Ban này. Đại hội sắp tới sẽ là Đại hội toàn thể, chúng ta không còn bị nơm nớp lo không được bầu đi dự Đại hội toàn quốc. Nhưng cái đáng suy nghĩ vẫn là vấn đề nhân sự. Ban Chấp hành khoá VII là đổi mới 70%, chỉ còn mỗi tôi và anh Huân từ Khoá VI còn lại. Lần này chúng ta cần có một lộ trình quy hoạch, phần lớn phải là từ 40 đến 60, trên 60 và dưới 40 ít hơn. Ngoài cơ cấu vùng miền và các cấp độ tuổi, xin lưu ý ngành lí luận phê bình. Hi vọng rằng, Đại hội VIII sẽ là biểu hiện rõ rệt rằng nhà văn là tinh hoa của văn hoá dân tộc, là niềm tin cậy của hình ảnh đội ngũ xây dựng đạo đức cộng đồng.

HOÀI KHÁNH

Với lời ru của biển

2010-06-04 @ 01:38 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Với lời ru của biển

Biển gần mà lại xa xôi

Lời ru dẫu mặn khiến tôi bồi hồi

Gửi tình theo sóng buông trôi

Ngồi trên bờ cát mồ côi với trời

Giá mà gọi được: Em ơi!

Hẳn tôi cũng mát với lời biển ru

Ai mang nỗi nhớ cầm tù

Tôi chung thân giữa mịt mù gió khơi..

Đêm 31-5-2010

HOÀI KHÁNH

Cây đèn biển - Tập thơ của một tấm lòng yêu trẻ

2010-06-01 @ 00:28 in Thông tin tổng hợp

Cây đèn biển - Tập thơ của một tấm lòng yêu trẻ

Hiện có nhiều người làm thơ, nhưng số tác giả tâm huyết sáng tác thơ cho trẻ em lại quá ít. Những nhà thơ đã dành một phần bút lực viết cho các em thật đáng trân trọng. Nhà thơ Trần Quốc Minh nằm trong số quý hiếm ấy. Cây đèn biển (NXB Hải Phòng - 2010) là tập thơ in riêng đầu tiên của Trần Quốc Minh viết cho thiếu nhi. Đây là một món quà thơ mà tác giả gửi tặng trẻ em nhân dịp mừng Ngày quốc tế thiếu nhi 1-6 năm nay.

Bạn đọc nhỏ tuổi biết đến nhà thơ Trần Quốc Minh qua bài thơ Mẹ in trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, tập 1. Bài thơ lục bát này có giọng điệu thân thuộc với bất cứ đứa trẻ nào, nhẹ nhàng và đằm thắm như lời ru của mẹ và người mẹ cũng có thể hát lên với bất cứ làn điệu dân ca nào của nước ta. Tiếng ve cũng lặng vì trời nắng oi, chỉ còn lời ru và bàn tay của mẹ đưa gió về cho bé ngủ say nồng trên cánh võng. Lời ru mát như ngọn gió thu. Những ngôi sao lấp lánh thâu đêm cũng chưa bằng mẹ thức chăm con. Thiên nhiên cũng thua sự bền bỉ, nhẫn nại, đức hi sinh của những người mẹ chăm nuôi con cái. Kết thúc bài thơ, tác giả khẳng định: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời!.

Thơ Trần Quốc Minh hướng các em quan sát thế giới xung quanh từ những việc nhỏ, thậm chí rất nhỏ. Đó là Cây đèn biển được Mặt trời nhường lửa để thắp sáng đêm đêm chỉ lối cho những con tàu ra vào cảng. Đó là những áng Mây bay như dáng ngựa lồng về quê (Mây). Trong mỗi bài thơ đều ẩn chứa một bài học bổ ích về lối sông, nhân cách, về tình bạn tuổi thơ, về gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Bài thơ Đàn kiến vẽ lên khung cảnh một đàn kiến chạy lúc trời sắp mưa, nhưng trong sự bận rộn ấy, chúng vẫn biết chào hỏi nhau. Bài học giáo dục của bài thơ ẩn vào câu chữ, chính các em sẽ phát hiện ra điều ấy. Chiếc Xe phun nước hiện lên trong thơ thật ngộ nghĩnh, tạo ra Cầu vồng thắng toát / Làm dịu nắng trưa. Trần Quốc Minh kể cho trẻ về con Tàu cuốc, một phương tiện thủy chuyên làm việc khơi thông các luồng lạch sông biển ở Hải Phòng. Con tầu cũng tha thẩn như một em nhỏ chơi một mình ngoài sân vậy. Cả ngày nghịch đất mà thân tàu không bẩn, lại còn có ích nữa. Từ bài Góc học tập, nhà thơ như nhắn nhủ các em học sinh điều sâu xa hơn - đó là công lao dưỡng dục của cha mẹ Như đất nuôi mầm cây / Bao nhiêu là mưa nắng.

Văn học cho thiếu nhi nhiều năm qua chú trọng đến chức năng giáo dục nhưng cũng nâng cao năng lực thẩm mĩ cho con trẻ. Tập thơ Cây đèn biển của Trần Quốc Minh phần nào làm tốt những chức năng ấy. Sáng tác những câu thơ hồn nhiên, giàu tính giáo dục, dành cho trẻ em hôm nay, tác giả như được sống lại tuổi thơ của mình. Tập thơ chỉ có 30 bài được tác giả viết trong vòng 40 năm. Con số ấy cho thấy việc viết cho các em thật chẳng dễ chút nào. Những bài thơ được bạn đọc nhỏ tuổi đón nhận không nhiều, những bài có thể còn đọng lại trong trí nhớ của các em càng ít hơn. Hi vọng tập thơ này sẽ mang đến những ấn tượng đẹp cho trẻ em, bởi đó là tập thơ của một tấm lòng yêu trẻ.

HOÀI KHÁNH

Đằm thắm lắm, Hưng Yên!

2010-05-29 @ 07:20 in Thông tin tổng hợp

Đằm thắm lắm, Hưng Yên!

Ngày 18-5-2010, cũng như mọi lần, từ thành phố Hải Phòng, 3 nhà thơ Tô Ngọc Thạch, Kim Chuông, Hoài Khánh lại chung một hành trình gần trăm cây số đến thăm tỉnh Hưng Yên xinh đẹp. Mới 8 giờ sáng, chúng tôi đã dừng chân trước cổng Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên. Đã biết ngôi trường bên tỉnh lộ 39 này từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi vào tận khu giảng đường. Những khu nhà tầng còn mang dáng dấp kiến trúc của thời bao cấp. Sân trường nhộn nhịp sinh viên đi lại. Từng tốp mữ sinh mang những cặp mắt nai như vẫy người. Khu trường đặc quánh tiếng ve ran. Khung cảnh ấy gợi lại trong lòng chúng tôi những cảm xúc về một thời sinh viên nghèo túng nhưng đầy mơ mộng. Ngôi trường này còn thiếu thốn nhiều về cơ sở vật chất, nhưng tình người thì nồng hậu, chân chất. Sáng nay, nhà trường được đầu tư thêm một phòng thí nghiệm về thiết bị máy nén khí do Công ty Fusheng Việt Nam tài trợ với 50.000 USD. Lễ bàn giao diễn ra trang trọng, với sự có mặt của nhiều vị đại diện cho Văn phòng Kinh tế Đài Bắc - Đài Loan, Hiệp hội thương mại Đài Loan tại Hà Nội cùng nhiều vị khách mời ở Hà Nội, Hải Phòng và Hưng Yên.

Buổi trưa, ngay sau bữa tiệc chiêu đãi các đại biểu tại nhà hàng Như Ý tại thị trấn huyện lị Khoái Châu, chúng tôi quyết định đến thẳng thành phố Hưng Yên. Nhưng từ Khoái Châu đến tỉnh lị đi theo lối nào? Chúng tôi đang băn khoăn giữa nơi ngã tư phố thị, thì may mắn "thần hộ mệnh" xuất hiện. Một cô gái tuổi ngoài đôi mươi đến xin đi nhờ xe và sẽ dẫn đường cho chudng tôi. Gương mặt cô thiếu nữ Hưng Yên làm dịu cả nắng hè ban trưa bỏng rát. Cánh nhà thơ vốn tin người, mới cách đây 2 năm, trong một lần lên thăm Xứ Lạng, ngay trong đêm tối, cả 3 nhà thơ được một cô gái Lạng Sơn dẫn lên tận chóp đỉnh núi Tô Thị để ngắm ánh đèn thành phố như sao sa. Lần này là cô gái Hưng Yên dẫn đường giữa ban ngày ban mặt, thế là chúng tôi đồng ý cho cô đi nhờ xe. Cô tên là Thúy, nhà ở thị trấn Phố Nối, là sinh viên năm cuối khoa Kế toán của Trường đại học Dân lập Chu Văn An - ngôi trường thơ mộng bên hồ Bán Nguyệt ở thành phố Hưng Yên. Thúy tranh thủ thời gian thực tập đi làm kế toán thuê cho một đại lý dầu Caltex ở huyện Khoái Châu. Nét tươi trẻ của Thúy làm chúng tôi thêm vui. Theo hướng dẫn của cô, xe chúng tôi chạy trên một con đường liên huyện nhỏ hẹp và cũ kĩ. Những làng xóm có phần tiêu điều lùi lại sau xe. Rồi con sông quê hiện ra, nước kém và đục ngàu. Tôi nhận ra con sông Cầu Ngàng hồi 9 tuổi đã từng lặn ngụp khi về quê sơ tán năm 1972. Quê tôi nay đã thành thị trấn Lương Bằng của huyện Kim Động. Phố huyện có nhiều nhà cao tầng, nhưng đời sống của người dân nơi đây còn mang tính chất dân dã. Lại theo tỉnh lộ 39 về phía nam, chúng tôi đến thẳng khu trung tâm chính trị - văn hóa của thành phố Hưng Yên. Chúng tôi cảm ơn cô nữ sinh dẫn đường bằng một tập thơ mới của nhà thơ Vũ Thành Chung.

Trụ sở Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Hưng Yên nằm trong khu nhà cao tầng của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh. Toàn bộ khu vực này được xây dựng theo quy hoạch thành phố nên khá thoáng rộng. Ngay đầu giờ làm việc buổi chiều, Tiến sĩ Hoàng Mạnh Thắng - Phó Chủ tịch Hội, Tổng biên tập Tạp chí Phố Hiến, và sau đó ít phút là nhà thơ Nguyễn Thị Hương - Phó Chủ tịch thường trực Hội - đón tiếp chúng tôi thật chân tình. Nữ sĩ Hưng Yên mang chai rượu Trương Xá - rượu quê đặc sản của Hưng Yên - ra chúc mừng 3 nhà thơ đất Cảng đã lâu không gặp (ảnh trên: Nguyễn Thị Hương và Hoài Khánh). Cuộc hội ngộ thật bất ngờ, nhưng khá thú vị. Nhà thơ Kim Chuông nhắc lại những kỷ niệm xưa với Hưng Yên và bày tỏ niềm vui sau bao năm mới có dịp trở lại vùng đất này.(ảnh dưới, từ trái sang phải: Tiến sĩ Hoàng Mạnh Thắng và các nhà thơ Kim Chuông, Nguyễn Thị Hương, Tô Ngọc Thạch, Hoài Khánh, Lê Hồng Thiện).

Sau đó chúng tôi ra Văn Miếu - Xích Đằng, Nơi đây còn gọi là Văn Miếu Hưng Yên. Đó là một di tích quan trọng trong quần thể di tích Phố Hiến. Năm 1831, khi tỉnh Hưng Yên được thành lập, thì Văn Miếu Xích Đằng thuộc hàng tỉnh. Văn Miếu được được xây dựng vào năm 1832 và được trùng tu, tôn tạo lớn vào năm Kỉ Hợi 1839 trên nền của chùa làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động xưa, nay là phường Lam Sơn, thạm phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 tháp đá là Phương Trượng tháp và Tịnh Mãn tháp. Văn Miếu hiện nay có 9 tấm bia đá, trong đó 8 bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), 1 bia được lập năm Bảo Đại thứ 18 (1943) ghi danh các nhà khoa bảng Hưng Yên. Có 138 vị đỗ đại khoa được ghi khắc vào bia từ thời Trần đến năm 1919 - khoa thi cuối cùng khoa cử nho học, trong đó có 21 vị nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình (phủ Tiên Hưng trước kia thuộc Hưng Yên). Học vị cao nhất là Trạng nguyên Tống Trân, người thôn An Cầu, huyện Phù Cừ, đời Trần, Trạng nguyên Nguyễn Kỳ người xã Bình Dân, huyện Khoái Châu, triều Mạc. Chức vụ cao nhất là Lê Như Hổ, quận công triều Mạc. Hiện tại Văn Miếu đang thờ Khổng Tử, người được suy tôn là "Vạn thế sự biểu", và các chư hiền của Nho gia. Cùng thờ với Khổng Tử là Chu Văn An, người thầy giáo, người hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quốc Tử Giám. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Văn Miếu Xích Đằng là cơ sở hoạt động bí mật của Trung ương, Xứ ủy Bắc Kỳ, Tỉnh ủy Hưng Yên. Năm 1992, Văn Miếu Hưng Yên được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử.
Phó Chủ tịch Hội Hoàng Mạnh Thắng còn vào đón thêm nhà thơ Lê Hồng Thiện nhà gần đó ra chơi. Thế là 4 nhà thơ đều là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam gặp nhau rất vui.(ảnh dưới, trái sang phải: Tô Ngọc Thạch, Kim Chuông, Hoài Khánh, Lê Hồng Thiện)
Một cô nhân viên Ban quan lí di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Hưng Yên nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi vào thăm và dâng hương trong Văn Miếu. Cô gái Hưng Yên này khá duyên dáng và có gương mặt ưa nhìn. Cô tên là Lương Thị Khánh Hiền. Hôm nay, nơi đây bị cúp điện, trời tương đối nóng, nên mọi người phải dùng quạt giấy. Nét cười rạng rỡ của Khánh Hiền như làm mát dịu cả nắng chiều. Chia tay các bạn văn nghệ sĩ Hưng Yên, chúng tôi cứ bịn rịn mãi. Những kiểu ảnh lưu niệm được chụp ngay trong sân chính Văn Miếu - nơi thường được tổ chức những cuộc dâng hương của các sĩ tử trước mùa thi, nơi tổ chức Ngày thơ Việt Nam tại Hưng Yên... Khánh Hiền chụp ảnh cho chúng tôi và tôi rất vui là người duy nhất chụp ảnh chung với Khánh Hiền. (ảnh trên: Khánh Hiền và Hoài Khánh). Đằm thắm lắm, Hưng Yên!

HOÀI KHÁNH

Viết lúc nửa đêm

2010-05-24 @ 00:00 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Viết lúc nửa đêm

Ước gì gõ ánh trăng trong

Để nghe rõ tiếng tơ lòng vương đêm

Gối lên nỗi nhớ thấy mềm

Sao canh khuya lại cứng miền mộng du?

15-5-2010

HOÀI KHÁNH

Kí tên

2010-05-19 @ 03:03 in Truyện ngắn

Kí tên

Hiệp hội chọn khách sạn Hào Hoa của thành phố lịch sử nổi tiếng làm nơi tổ chức hội nghị hàng năm. Không rõ đây là hội nghị mỗi năm chỉ họp một lần, hay là do có cán bộ cỡ bự đến dự, mà khách sạn tốt nhất ở thành phố này được làm nhiệm vụ đón tiếp. Những khẩu hiệu "Nhiệt liệt chúc mừng Hội nghị hàng năm của Hội...thành công rực rỡ!" "Nhiệt liệt hoan nghênh các thủ trưởng và đại biểu!", v.v...căng đỏ rực cả một đại lộ.

Từ mọi miền nam bắc tổ quốc, các đại biểu đã đến.

Ông T. ở miền Nam đến. nghỉ tại phòng số 1202.

Ông Z. ở phương Bắc cũng đã đến, ngủ tại phòng số 1302

Cũng có nghĩa là phòng ngủ của ông T. và ông Z. ở tầng trên và tầng dưới. Họ là một đôi bạn thần giao cách cảm từ lâu, chẳng thế mà một kẻ nam, một người bắc, cảm ơn hội nghị này đã làm cho họ xích lại gần nhau trong gang tấc.

Trước hội nghị, họ đã liên hệ với nhau. Khi đến làm thủ tục đăng kí đại biểu, ông Z. nhìn thấy tên và phòng của ông T., ông Z. bèn đặt hành lí, vội vàng chạy xuống tầng dưới, muốn gặp ông T. một chút đã. Không may là ông T. đã đi ra ngoài chơi. Ông T. là một người mê du lịch, ông ta muốn tranh thủ thời gian chưa họp đi du lịch trước cho đã cơn nghiện.

Thế là, ông Z. bèn kiên trì chờ đợi, bình quân cứ mười lăm phút lại chạy xuống tầng dưới một lần, cho mãi đến lúc đèn màu bắt đầu bật sáng, ông T. mới trở về phòng. Vừa trông thấy bạn, ông Z. bèn nắm chặt tay ông ta, hỏi:

- Ông là ông T. phải không?

- Đúng thế! Ông là...

- Tôi là Z., đây mà!

- Ồ! Thì ra là ông Z., một người mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu, ông mới đến ư?

- Xin nói thêm! Tôi chỉ đến sau ông mười lăm phút, thế mà ông đã đi thăm khắp thành phố, còn tôi cứ ở lì đây đợi ông đến một ngày!

- Thành thật xin lôi! Thôi được, chúng ta là bạn, cuối cùng đã gặp mặt nhau rồi, ông vừa xuất bản tác phẩm mới phải không? Chắc không định tặng tôi một cuốn để hân hạnh được đọc chứ?

- Tôi đang muốn được ông chỉ bảo đây!

Vừa nói vậy, ông Z. bèn lấy trong cặp ra một cuốn sách bìa cứng sang trọng, hai tay nâng lên.

Ông T. nhận sách, lướt nhìn, bèn nói lớn:

- Sách đẹp quá! Sách đẹp quá! Tại sao không kí tên làm lưu niệm? Sách đáng tiền! Sách có quí danh của ông càng thêm đáng tiền!

Ông Z. bèn rút bút, nắn nót từng nét viết tên của mình, một lần nữa, hai tay nâng sách trao cho ông T.:

- Mong ông chỉ bảo nhiều! Mong ông chỉ bảo nhiều!

Ông T. nhận sách, ngắm nhìn một lát, đặt xuống bàn, sau đó lục trong túi ra một cuốn sách của mình tặng cho ông Z. nói:

- So với tác phẩm lớn của ông anh, thằng em xấu hổ quá không biết giấu mặt vào đâu đây? Song có lại mà không có đi, thì đâu còn là quân tử nữa! Đọc xong đừng cười nhé!

Ông Z. nhận sách, cảm thấy sách in kém thật, song miệng lại nói :

- Trong nước có ai là không biết tên tuổi của ông T. chứ! Đừng nói một cuốn sách nổi tiếng, mà các bài báo nổi tiếng đăng trên báo chí trước đây đều có giá trị không biên giới, mau kí tên của anh vào đi, tôi cần cả sách quí và quí danh mà!

Ông T. bèn rồng bay phượng múa kí tên của mình vào sách. Ông Z. vội vàng đón lấy, còn hôn nhẹ lên sách một cách rất sành điệu, nói;

- Đến hội nghị này, tôi đã được một thứ quí báu nhất rồi! Thật không uổng công cho chuyến đi này!

Mấy ngày hội nghị sau đấy, ông T. và ông Z. luôn luôn là hai trọng điểm để các đại biểu bám theo. Luận văn của hai ông, tác phẩm của hai ông đều làm cho các đại biểu dự hội nghị sái cổ lác mắt.

Người xưa nói: Không có yến tiệc nào mà không tàn.

Hội nghị mấy ngày thấm thoắt đã kết thúc. Khi chia tay, ông T. và ông Z. nắm tay nhau rất chặt, cùng nói một câu: "Khi nào được gặp lại ông đây?"

Điều làm cho người ta khó hiểu nhất là, khi tất cả đại biểu dời khỏi khách sạn, nhân viên đi dọn dẹp phòng, đã bất ngờ phát hiện thấy dưới ga trải giường hai cuốn sách mới có kí tên to tướng của ông T. ông Z.

THẨM TỔ LIÊN (Trung Quốc)

VŨ PHONG TẠO dịch

1 2 3 ... 35 36 37  Sau»
1 2 3 ... 35 36 37  Sau»