Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

altĐột nhiên nhắc đến Đồng Đức Bốn tôi cơ hồ như có một hạt bụi rơi vào mắt mình cái cay xè cũng nhạt nhòa mà cái xót xa cũng nhạt nhòa. Cái dáng khệnh khạng của Đồng Đức Bốn đã bước qua cõi thơ và ngả bóng thật buồn lên ký ức bè bạn. Cái lưng to bè của Đồng Đức Bốn đã khuất dần cõi người và để lại những câu thơ lục bát gập ghềnh nỗi đa đoan.

Tôi kết giao và tri âm với Đồng Đức Bốn từ Chăn trâu đốt lửa của anh. Mỗi lần Bốn lên Hà Nội để gặp gỡ mọi người thường rẽ qua nhà tôi chơi hoặc gọi điện thoại từ đâu đó rủ đi uống café uống bia. Cùng với Bốn còn có anh Xuân Cường là họa sĩ và nhà thơ. Ba anh em chúng tôi gặp nhau khi nhà tôi khi nhà anh Xuân Cường khi hàng quán. Chẳng mấy ai biết đến tình bạn của anh Xuân Cường và tôi với Đồng Đức Bốn. Khi đó Bốn lặng lẽ hơn thơ Bốn chưa được biết đến nhiều lắm. Anh Xuân Cường thường rủ Bốn ăn cơm ở nhà. Tôi đưa cho Bốn chiếc xe đạp mifa của mình để Bốn đi đến các tòa soạn đến với giới văn chương. Khi đó gia đình Bốn gặp nạn. Tôi và anh Xuân Cường và một số bạn bè khác đã bên Bốn chia sẻ và các giúp đỡ những gì có thể. Sau này Bốn viết nhiều lên Bốn nổi tiếng nhiều lên Bốn cũng khá giả lên về kinh tế. Những lần lên Hà Nội của Bốn nhiều lên và cũng đôi lần nhớ đến thì gọi tôi lại một quán nào đó cùng với người nào đó. Bốn đã khác - ồn ào hay văng tục đeo đồng hồ nhẫn vàng to tướng dùng 2 3 điện thoại đắt tiền. Người ta bàn luận quanh những vật ngoài thân ấy. Nhưng tôi đã lùi ra xa hơn. Lùi ra và để đọc thơ Bốn trong tĩnh lặng.

Viết về Đồng Đức Bốn khi anh không còn trên thế gian nữa tôi ngồi đọc rất nhiều bài liên quan đến Đồng Đức Bốn. Những lời khen thơ của anh khá bay bổng. Những lời nhận xét lối sống của anh khá sôi nổi.  Với tôi và cả các con tôi thì vẫn là yêu thích thơ lục bát của Đồng Đức Bốn. Thế thôi.  Nhưng những gì tôi cảm nhận được đọng lại trong tôi. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Có một bài viết của ai đó khi viết về thơ anh có nhắc tới ý này. Thơ lục bát của anh hay nhiều câu hay nên có lẽ chẳng cần tìm câu dễ dãi. Anh nhận mình là kẻ mượn bút của Trời. Có người cho rằng anh kiêu ngạo. Có người nói là trời cho anh những câu thơ hay. Sao Trời lại chọn Đồng Đức Bốn nhỉ?

Tôi yêu thơ lục bát và từ hồi sinh viên đã chọn ca dao làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp Nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Rất hư ảo trong tâm hồn tôi hình ảnh làng quê. Rất thiếu trong lục bát của tôi hương sắc đồng quê. Anh cho tôi hình ảnh

Chăn trâu đốt lửa trên đồng
 Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều
 Mải mê đuổi một con diều
 Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

4 câu thơ là 4 hình ảnh với 4 cách diễn tả khác nhau. Một kể sự việc. Một nhận xét. Một hình ảnh động. Một hình ảnh tĩnh mà có chuyển động. Không có từ tả âm thanh sắc màu nhưng vẫn như có lửa cháy có gió mang mùi rơm rạ mùi khoai nướng có chiều đang dần tàn. Và có một người trong cả 4 câu thơ- người và tâm trạng. Hình ảnh ấy ta thấy bao lần trên cánh đồng mà sao vẫn bâng khuâng. Tôi gặp trong thơ anh những hình ảnh làng quê qua cách diễn tả rất riêng của anh rất bất ngờ với tôi chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng

rồi

câu thơ nấp ở sân đình
 nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau
nhuộm buồn những hạt mưa mau
thành sao nở trắng vườn cau trước nhà

rồi

đất nâu tường đã cũ càng
 tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.

Tiếng kêu mẹ khi đê vỡ trong thơ anh nỗi lo lắng khi đê vỡ trong thơ anh khiến ta nghĩ đến những làng quê ngập trắng trong lũ lụt mới ngày nào

Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong…
Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không.

Tôi thích những câu thơ tình của anh. Nó thô mộc như con người anh. Nó mạnh mẽ  và thoáng liều lĩnh thoáng ngang tàng giống anh. Nó được thổ lộ tha thiết mà độc đáo trong cách diễn tả trong cách vận dụng hình ảnh ngôn từ cuộc sống quanh anh. Nó bất ngờ với người đọc. Hình như tôi chưa yêu như vậy trong thơ hay tôi chưa bao giờ bộc lộ được như vậy trong thơ. Cũng có thể vì tôi là phụ nữ chăng. Sông Thương ngày không em có nhiều câu làm nao nao lòng người con gái. Rồi Đừng buông giọt mắt xuống sông/ anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm. Cứ mỗi lần qua sông cứ mỗi khi chia ly lại thấy giọt mắt sao nặng nề xa xót thế lại lẩm nhẩm trong đầu câu thơ của Bốn. Rồi cái hôm em ở với chồng… cùng với xa một ngày bằng triệu mùa đông/ em bỏ chồng về ở với tôi không lại làm bâng khuâng chạnh lòng bao cảnh tình ngang trái. Bao nhiêu bạn đọc thích bài thơ Trở về với mẹ ta thôi. Cắt ngang trong mạch tình cảm ấy là những câu thơ về tình mẹ với con về tình con với mẹ là thân phận con người là chiêm nghiệm cuộc đời…Đọc mà buồn mà đau ngậm ngùi. Và rồi một trong những bài thơ cuối của anh để lại cho mẹ cho đời cúi đầu lạy mẹ con đi về trời…Cho đến lúc này đây Đồng Đức Bốn đã đi về trời mà câu thơ vẫn như nghẹn lại

Tôi đọc và ngẫm những câu thơ Bốn suy ngẫm về đời về thân phận – đọc trong tâm trạng của người cũng trải qua bao nỗi đời tâm trạng của người làm thơ cũng nặng lòng suy tư. Nào Chín xu đổi lấy một hào để đắng cay thì ngậm xót chua thì cầm. Nào Vào chùa để được một lá bùa  và  ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Nhiều câu thơ khác với những cách diễn tả khác nhưng ý tứ xa xôi mà cũng có liên tưởng gần gũi

Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa có gì

Cầm vàng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng

Sống gần tới phút chia tay
Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không

Chợ buồn Đời tôi Con sáo sang sông Đường đi Em là lục bát của tôi…và trong nhiều bài thơ khác đều chứa những câu đau đáu về phận làm người.

Đấy là một lời an ủi quen dùng và sự thật trong đời

Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo

Đấy là bao nhiêu nỗi đau mà tưởng kêu lên khóc đi thì vợi

Bao nhiêu là giọt mắt rơi
Làm mưa chứ chẳng làm trời nổi giông

Đã đành nói như Bốn Mỗi người có một cõi riêng mà đọc lục bát của anh cứ ngẫm ngợi và day dứt. Lời anh buông ra thơ anh buông ra dù lời yêu hay lời chua xót cũng tự nhiên giống như con người anh nhiều khi tiếp xúc cũng thấy nó tự nhiên như vậy. Anh chẳng làm duyên trong thơ mà lục bát của anh thật có duyên. Tôi học anh cái không cần bằng bằng xuôi xuôi đúng luật trong thơ – cuộc sống cuộc đời có phải lúc nào cũng đúng luật đâu. Tôi học anh cách vận dụng hình ảnh từ ngữ rất thực mà độc đáo bất ngờ. Nhưng làm sao học được cái tự nhiên đôi khi đến thật thà mà câu lục bát của Đồng Đức Bốn lại làm ta ngã lòng đến thế. Bốn nói đến trâu bò thất thuể long đong tả chiều thành tro thương mẹ áo nâu vẫn bạc bên nắng chờ nói tửng từng tưng- sư ra cho một lá bùa rồi đi nói đến tha thiết- thương em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang… nghe tiếng quốc kêu – tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa…nghe tiếng  chuông chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò

Nhiều người làm thơ về Hà Nội. Có nhiều câu thơ hay về Hà Nội. Tôi cũng viết nhiều về Hà Nội nhưng chưa bao giờ nhận thấy hết được lòng mình với Hà Nội. Đồng Đức Bốn chỉ lên Hà Nội chơi lên Hà Nội làm thơ. Anh đi qua ngõ nhỏ Tạm Thương

Có ai yêu giả bao giờ
Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương

Anh đi thuyền trên Hồ Tây

Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm và không thấy chìm khi ngồi trên sóng khi trên đầu có giông. Câu thơ không tả mà cho ta cảnh Hồ Tây chiều giông. Câu thơ cho ta tâm thế của người ngồi trên thuyền. Đồng Đức Bốn viết về Hà Nội yêu Hà Nội theo cách riêng của anh ý tứ và say mê. Không nhiều lắm nhưng ta vẫn gặp ở đâu đó trong thơ anh sự gắn bó với Hà Nội Nhà em ở giữa phường Trung Tự/ Cây tháp nước bồn hoa còn nhớ chỗ ta ngồi

Có người nói Đồng Đức Bốn được những câu thơ Trời cho còn cả bài thì…Thì cứ được những câu Trời cho đi. 600 bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn  cứ từ từ đọc để được những câu lục bát cho mình. Rất có thể thơ anh vang lên trong lòng mỗi người chúng ta khi bất chợt đối diện sự xao xác nhân duyên hoặc khi vô cớ loay hoay sự trắc ẩn ân tình!

Tôi có 3 bài thơ tặng Bốn. Tôi chưa bao giờ đọc và chỉ cho Bốn thấy. In trong các tập dù viết tặng ai tôi cũng không bao giờ đề tặng nên cũng chẳng ai nhận biết. Mấy câu này tôi viết khi bắt đầu đọc thơ Đồng Đức Bốn

đọc câu lục bát của người
tôi đi tìm lại mảnh đời bỏ quên
 
nửa câu thơ để bên thềm
nửa đời yêu để tình duyên nhạt nhèo
 
nỗi nhớ quên chẳng mang theo
niềm vui buồn tự cánh bèo nhẹ trôi
 
bâng khuâng tôi lại tìm tôi
giữa câu lục bát nhịp rơi lỡ làng.

Tôi đến nhà Bốn 3 lần chẳng có lần nào là theo lời mời của Bốn trong dịp vui nào của Bốn. Trách Bốn ư? Chưa bao giờ trách Bốn. Vả lại những gì mà Bốn thích - ồn ào khoa trương – không thuộc tính cách tôi. Tôi là bạn nữ và Bốn cũng thường dành cho tôi sự gặp gỡ ít ỏi yên lặng ấy. Lần 1 ở nhà cũ khi con Bốn hoạn nạn.  Lần 2 khi Bốn ốm. Lần 3 đến viếng Bốn. Có 2 lần đi nhờ xe anh Bằng Việt và cùng với anh Bằng Việt chị Phan Thị Thanh Nhàn.Tôi đến khách sạn Hoa Hồng thăm khi Bốn đang trị bệnh. Lần nào cũng buồn. Buồn không nói được. Buồn về làm thơ viếng bạn. Để lại nhiều ấn tượng nhất trong tôi là lần thứ 2 về thăm Bốn ốm. Đập vào mắt tôi lạnh trong tôi là 2 câu thơ gắn vào đá trước nhà. Đập vào mắt tôi là sự lộn xộn dến bừa bãi của những chai rượu tượng Phật tượng các cô gái khỏa thân là những đồ đẹp mà Bốn mua và được tặng . Sao ông lại để như vậy?  Vì Bốn ốm hay vì nhiều đồ quá mà không kịp sắp xếp không rõ nữa. Bốn cười mà không trả lời. Tôi chỉ tự cảm thấy không an lòng cảm những gì đang đến rất gần cho bạn nên cũng  lại không nói nữa. Bốn vẫn nhớ thăm gia đình tôi nhớ những gì gia đình tôi dành cho Bốn thăm con gái tôi cũng bị bệnh hiểm nghèo như Bốn và trước Bốn. Hai chú cháu mình cùng chiến đấu. Bốn đã động viên cháu và chính mình như vậy. Hai chú cháu đều rất nghị lực. Bốn vẫn làm thơ. Con gái tôi vừa đi làm vừa chữa bệnh. Con gái tôi vẫn chiến đấu còn chú Bốn đã đi về trời

Xin cho tôi được đọc bài thơ viếng Đồng Đức Bốn năm đó để thay cho lời kết

Chuông nào đánh chẳng ngân nga

biết tìm đâu gió đâu mưa
biết tìm đâu cái ngày xưa bây giờ
 
phải là duyên nợ tình thơ
mà câu lục bát thẫn thờ cơn mê
 
mặc người nơi cánh đồng quê
mặc ta ngơ ngẩn chiều tê tái lòng
 
qua cầu lại thương dòng sông
khát con nước chỉ dám trông vào trời
 
vội chi tính bỏ cuộc chơi
để câu lục bát cho người sang trang
 
vội chi lỡ kiếp đa mang
câu thơ dở phố dở làng dở yêu
 
gánh gồng trong cuộc phiêu diêu
quẳng đi lăn lóc mọi điều buồn vui
 
dẫu tha thiết dẫu ngậm ngùi
tử sinh âu cũng mệnh trời số ta
 
chuông nào đánh chẳng ngân nga
phải chuông chùa tiếng mới nhòa khói mây.

BÙI KIM ANH

Hoài Khánh

Gửi Nguoithichlucbat

Cho đến cuối đời Đồng Đức Bốn đã xuất bản 6 tập thơ trong đó có 4 tập thơ lục bát. Hơn chục năm qua Đồng Đức Bốn đoạt nhiều giải thưởng của các cuộc thi thơ do báo Văn Nghệ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội và báo Tiền Phong phát động. Năm 2003 tập thơ lục bát "Chuông chùa kêu trong mưa" (NXB Hội Nhà Văn - 2002) của anh đoại Giải A của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam.

Hoài Khánh

Gửi Thynguyen81

Chúc em cuối tuần vui!

Hoài Khánh

Gửi Nguoithichlucbat

Thơ lục bát của anh như có cái gì đó khác người. Với tập Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao Động - 1993) rồi 7 năm sau có thêm 2 tập thơ Trở về với mẹ ta thôi và tập Cuối cùng vẫn còn dòng sông (NXB Hội Nhà Văn - 2000) Đồng Đức Bốn nổi lên như một hiện tượng đặc biệt giữa bối cảnh thơ Việt Nam có phần xô bồ và lộn xộn. Thơ anh hằn sâu những dấu vết của quãng đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi của anh.

Hoài Khánh

Gửi Ngockthp

Khi biết sở trường của mình Đồng Đức Bốn sáng tác rất khoẻ hầu hết là thơ lục bát. Thơ lục bát có niêm luật chặt chẽ nhưng rất gần gũi với lối sống nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam thật thà chất phác. Mang đặc trưng cho thơ Việt Nam kiểu thơ này nhiều khi lại rất nôm na đậm phong vị cổ truyền. Nó rất dễ làm nhưng chính vì thế mà khó hay. Nếu bị vụng vần dại chữ quá thơ lục bát dễ hóa thành vè văn vần thô thiển. Khi làm thơ lục bát càng cố dụng công bao nhiêu những câu chữ càng thiếu tự nhiên thành dở bấy nhiêu. Đồng Đức Bốn làm thơ lục bát chủ yếu là đưa ra cách nói mới lạ có khi dễ dàng như là lời nói thường ngày vậy. Tuy trình độ học vấn không cao có vốn từ vựng chưa nhiều nhưng anh lại thu hái được khá nhiều câu thơ hay. Có không ít bạn đọc thuộc thơ của anh.

Hoài Khánh

Gửi Bùi Thị Thu Hằng

Ngay tập thơ đầu tay "Con ngựa trắng và rừng quả đắng" (NXB Văn Học - 1992) Đồng Đức Bốn đã bộc lộ rõ tâm thế của một chàng thi sĩ sau này. Anh viết mê mải không chịu gò bó vào khuôn thước nào. Bên một số bài lục bát khá độc đáo vẫn có nhiều bài thơ tự do ỡm ờ có khi tưởng nghiêm túc có lúc ngỡ lả lơi. Tập thơ này anh đặt nhiều hy vọng nhưng chưa được dư luận chú ý. Có một số câu lục bát được người ta lưu tâm bàn tán nhưng kiểu nói "Em bỏ chồng về ở với tôi không?" của anh khiến nhiều người không đồng tình thậm chí chê bai e ngại. Thế nhưng ngay từ khi đặt bút làm thơ Đồng Đức Bốn có chịu ai bao giờ!

Hoài Khánh

Gửi Bùi Thị Thu Hằng

Cách đây 20 năm công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu tạo bước chuyển kinh tế - xã hội mạnh mẽ. Văn đàn cũng thấp thoáng có những cây bút mới khiến bạn đọc chú ý như Nguyễn Huy Thiệp Phạm Thị Hoài Dư Thị Hoàn... Giới văn sĩ Hà Nội bấy giờ luôn thấy Đồng Đức Bốn lân la tới các toà soạn báo la cà trong các quán chè chén đàm đạo thơ phú với các bạn văn chương mà anh mới quen. Anh đi dò dẫm từng bước một trên con đường thơ. Hồi đó anh chưa xác định rõ sở trường và sở đoản của mình. Đây cũng là thời kỳ Đồng Đức Bốn làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng như: Bằng Việt Phạm Tiến Duật Lưu Quang Vũ Vũ Quần Phương ...

Hoài Khánh

Gửi Bùi Thị Thu Hằng

Đồng Đức Bốn sinh ngày 30-3-1948. Quê anh là xóm Lê Lác 2 thôn Song Mai xã An Hồng huyện An Dương thành phố Hải Phòng. Mười tám tuổi anh ttình nguyện đi thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Giải ngũ Đồng Đức Bốn làm thợ sửa chữa ô tô ở Xí nghiệp Cơ giới thuộc Công ty xây dựng 16 (nay là Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng) rồi về làm thợ gò tới bậc 6/7 tại Xí nghiệp cơ khí 20-7. Sau đó anh chuyển sang làm Trợ lý giám đốc Công ty xuất nhập khẩu súc sản gia cầm (Tổng công ty ALIMEX Hà Nội). Tuy mê thơ từ 11 tuổi nhưng đến thời điểm này anh chàng nửa quê nửa tỉnh Đồng Đức Bốn mới có dịp gia nhập văn đàn bắt đầu nếm trải những vui buồn của nghiệp bút.

Hoài Khánh

Gửi Bùi Thị Thu Hằng

Trong Ngày thơ Việt Nam lần thứ IV do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) sang hôm Rằm tháng Giêng năm ngoái tập thơ thứ 6 mang tên Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (NXB Hội Nhà Văn - 2006) của nhà thơ Đồng Đức Bốn được trưng bày và phát hành. Có lẽ đó là một tập thơ in riêng của một nhà thơ Việt Nam có độ dày nhất nước ta hiện nay với 1.108 trang in trên giấy tốt bìa cứng. Tác giả không có mặt dự ngày hội thơ vì đã hơn một năm anh lâm bệnh nặng. Câu thơ cuối trong bài thơ cuối in trong tập thơ này của Đồng Đức Bốn như lời chào vĩnh biệt những người thân. Và tại nhà riêng nơi quê cha đất mẹ hồi 10 giờ 45 phút ngày 14-2-2006 trái tim nhà thơ đã ngừng đập. Anh đã trở về với đất mẹ về với trăng sao... Thật lạ kỳ và ngẫu nhiên lúc 9 giờ 5 phút ngày 17-2-2006 khi thi thể nhà thơ vừa ẩn vào lòng đất quê hương An Hồng thì trời nổi sấm và một cơn mưa rào đổ xuống. Cơn mưa rào đầu tiên của năm 2006 đã có ngay giữa tiết trời tháng Giêng của mùa xuân Bính Tuất như đón Đồng Đức Bốn về cõi vĩnh hằng rất trùng hợp với ý nguyện của anh ghi trong câu thơ cuối cùng của đời mình: Tôi giờ về với trăng sao - Xin trời một trận mưa rào đón tôi...

Hoài Khánh

Gửi Bùi Thị Thu Hằng

Rất vui được em mở đầu cho entry này.

Vũ Văn Lương

Chúc mừng anh Hoài khánh.

Em Lương chúc mừng trang của anh đã được ghi nhận là trang hoạt động sôi nổi nhất của hệ thống vnweblogs.com.
trân trọng !