Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người

By HOÀI KHÁNH

altHOÀI KHÁNH: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa cho ra mắt bạn đọc cuốn Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn. Tập sách giới thiệu 195 bài thơ và 3 trường ca được tuyển chọn từ 9 tập Giọt đắng Gọi xanh Cầu nguyện ban mai Nghi lễ nhân tên  Người cùng thời Vách nước Hôm sau Và đột nhiên gió thổi Bầu trời không mái che và những bài thơ lẻ in trên báo chí mới đây của nhà thơ Mai Văn Phấn đã sáng tác từ những năm trước 1995 đến nay. Ngoài phần thơ cuốn sách còn đăng tải 4 tiểu luận văn chương và 14 bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Mai Văn Phấn. Ngày 15-5-2011 tới đây tại Hải Phòng sẽ diễn ra Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn. Hội thảo này có hơn 30 tham luận của nhiều nhà văn nhà thơ nhà nghiên cứu phê bình văn học trong nước và nước ngoài bàn về thơ Mai Văn Phấn. Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một tham luận trong số đó.

Thơ sinh ra để nói về niềm hi vọng của con người

Tôi muốn nói về thơ Mai Văn Phấn. Có những điều do nói quá nhiều dễ trở nên sáo ngữ. Với Mai Văn Phấn tôi thấy điều mà tôi đang nói: “Thơ sinh ra để nói về niềm hy vọng của con người” bỗng hiện lên thật sống động có hồn vía hình hài rõ rệt. Trong tính toàn thể nhất quán thơ Mai Văn Phấn đã cất lên những niềm hy vọng mãnh liệt và cảm động của con người. Hy vọng làm nên sự sống thăng hoa sự sống. Tắt hy vọng nghĩa là sự sống cũng lụi tàn. Và hy vọng cũng chính là sự sống. Biểu hiện thì đa dạng nhưng đích đến quy chụm. Mai Văn Phấn đã thi triển tư tưởng này một cách nhất quán nồng nhiệt càng về sau càng sáng tỏ.

1. Cái Đẹp là sự sống phồn sinh và hóa sinh bất định

Thế giới thơ Mai Văn Phấn khá bề bộn. Bề bộn về số lượng: 370 bài (Thơ tuyển Mai Văn Phấn NXB HNV 2011). Bề bộn về ý tưởng. Bề bộn về thi ảnh. Bề bộn cả về thể điệu: lục bát đường luật tự do thơ văn xuôi trường ca. Lại đi qua ba quãng tính từ những bài thơ đầu tiên cho đến hôm nay. Thế nên để gọi ra được “khuôn mặt” nhà thơ Mai Văn Phấn với tất cả những nét đặc sắc riêng quả là một thử thách đối với bất cứ ai. Riêng tôi nhiệm vụ của bài viết này sẽ cố gắng đi trả lời mấy câu hỏi: thứ nhất quan niệm thẩm mỹ của Mai Văn Phấn là gì? Thứ hai những hình ảnh nổi bật trong thế giới thơ Mai Văn Phấn thể hiện sắc nét nhất cái quan niệm thẩm mỹ đó? Và cuối cùng những ngón nghề đặc sắc nhất trong cách làm thơ của nhà thơ? Đặt ra những câu hỏi ấy tức là đặt ra một logic về tư duy sáng tạo ở nhà nghệ sĩ mà người làm công việc nghiên cứu phê bình không thể né tránh. Bởi vì mỗi một nghệ sĩ sáng tác phải có được một quan niệm xác định về Cái Đẹp để dựa vào. Nếu không có quan niệm này mọi cái viết của anh sẽ tản mạn phát tán không có khả năng định hình được chăng hay chớ nghĩa là không có tính thống nhất. Tiếp nữa vậy khi đã có được một quan niệm thẩm mỹ rồi thì nó chi phối hệ thống thi tứ thi ảnh của nhà thơ như thế nào anh bén nhạy với những gì lựa chọn những gì để làm nên cái riêng đặc sắc trong sáng tạo của anh. Và cuối cùng tất cả những sáng tạo đó được biểu đạt qua một/hơn một thủ pháp nghệ thuật nào làm chủ đạo? Logic này cho phép chỉ ra được những nét riêng độc đáo trong sáng tạo của mỗi nhà thơ. Cái “khuôn mặt” riêng của nhà nghệ sĩ nhờ vậy sẽ hiện lên một cách độc lập không lẫn. Cũng nhờ vậy đóng góp của mỗi nhà thơ sẽ là và chỉ là những cái riêng độc đáo đó trong/ vào đời sống nghệ thuật chung của dân tộc.

Toàn bộ thơ Mai Văn Phấn đã dựng lên một thế giới phồn sinh hóa sinh bất định.

Biểu hiện đầu tiên của nó là thế giới phồn sinh được tập trung vào hai khía cạnh: phì nhiêu sinh nở.

Trước hết đó là một thế giới phì nhiêu nhiều tầng nhiều cá thể cộng sinh chen chúc đầy hoan lạc tựa như cánh rừng nhiệt đới vậy. Đọc thơ Mai Văn Phấn thấy sự có mặt của rất nhiều không gian. Phấn chơi không gian. Đó là không gian cánh đồng. Không gian phố phường. Không gian dòng sông. Không gian căn phòng. Cụ thể hơn đó là các phối cảnh với cơ man những dòng sông cơn mưa ban mai bóng tối ánh trăng cây cối hoa cỏ đất đai con đường bầu trời đám mây trẻ con người tình… Kể cả những không gian giấc mơ không gian ảo giác đầy mộng mị hư biến kỳ ảo siêu thực với những bóng người bóng ma nội thất đồ vật con vật… nhiều loại. Từ loạt bài thơ đầu tiên Mai Văn Phấn đã có những câu thơ tôn vinh thế giới phì nhiêu này: Ghé môi vào miệng thời gian/ Cho hơi thở mọc vô vàn cỏ non (Tản mạn về cỏ) Chỉ còn ta lại với ta/ Cỏ run đầu ngõ như đà cắn câu (Lơ lửng) Mắt vừa mở với rạng đông/ Chân trời hổn hển phập phồng ngón chân (Kinh cầu ban mai)…Đặc biệt nhà thơ đã dựng lên những không gian thiên nhiên bát ngát nơi đó có đôi người yêu nhau theo cái cách tan biến vào thiên nhiên hòa lẫn với thiên nhiên Yêu nhau/ Là những nghi thức dâng tụng trời đất (…) Đất rùng mình/ Sông chảy/ Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em). Ở nhiều bài thơ Mai Văn Phấn thường rất thích để cho thiên nhiên và con người hòa thấm trong nhau trên tinh thần nhất thể hóa: thiên nhiên và con người là/trong một: Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/ Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt/ Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào/ Anh cựa mình nồng nàn tươi xốp (Bài ca buổi sớm)… Bài thơ Hải Phòng trước năm 2000 cũng vậy một thế giới trẻ trung phồn tạp toàn cảnh khoáng hoạt mà lại cụ thể trong từng nét vẽ rất đỗi thân thương thiên nhiên hiền lành dan díu với đời sống thường nhật của con người. Nhà thơ đã trở về với nguyên lý bản nguyên vũ trụ: Thiên Nhân hợp nhất - trời với người là một. Điều này không chỉ được nhà thơ quán tưởng như một ý niệm triết học mà quan trọng hơn còn được hiện lên như một ứng xử văn hóa. Đây là điều mà con người hiện đại ngày hôm nay để mất một cách nghiêm trọng. Càng gắn bó trân quý thiên nhiên con người càng lành tính càng mẫn cảm trước Cái Đẹp sinh sôi Cái Đẹp.

Không chỉ dừng lại ở trạng thái phì nhiêu của sự sống nhà thơ còn mở vào trạng thái sinh nở của sự sống. Ở Mai Văn Phấn trạng thái sinh nở mang thai thậm chí làm tình là những biểu hiện đẹp đẽ nhất của sự sống nơi trần thế. Bài thơ Tiếng gọi từ cánh đồng nằm trong vệt thơ đầu tay thế mà Mai Văn Phấn đã sớm tìm đến những hình ảnh này: Qua vỏ trấu của mùa gặt trước/ Đã nảy những đọt mầm tia nắng tinh khôi. Từ bấy thơ anh có rất nhiều những hình ảnh sinh sôi của vạn vật và con người. Này đây: Kìa thửa ruộng đang vươn lên che chở những ngôi nhà/Và bóng cây cối hiện thân thành mái tóc/Cơn hạn hán réo sôi trong bàn chân chim chóc/Tia nắng cuối chiều mơ mộng kéo thành tơ (Cấu trúc tạm thời). Đây nữa: dòng sông vừa chảy/vừa sinh nở (Đất mở). Nhiều khi cả thiên nhiên và con người cùng lúc đang cất lên bài ca sinh nở ngàn đời: Lá sen và ngó sen/ Tỉnh dậy trong vòng tay của nước/ Bờ vai em trong mịn nhô lên/ Lại tan theo sóng lăn tăn…(Sáng mùa hè). Bài thơ khiến người đọc liên tưởng đến những bức tranh thiên nhiên của Levitan nơi mà thiên nhiên hiện lên thật yên tĩnh và trong sạch. Khi viết về thiên nhiên Mai Văn Phấn rất hay miêu tả ban mai. Điều này sẽ được trở lại ở phần sau của bài viết. Nhưng người đọc hẳn dễ dàng nhận thấy điều này: ban mai là khởi đầu của một ngày khởi đầu sự sống đánh thức và bừng tỉnh vạn vật và con người được hoàn nguyên trong trạng thái khởi đầu thanh khiết tinh khôi. Quy luật này cũng được xem như là biểu hiện trạng thái sinh sôi của sự sống làm mới làm giầu sự sống. Ở những bài thơ Từ một đường bay Dấu vết bình minh Giọng nói… và nhiều bài khác nhà thơ đã biểu đạt thật tinh tế trạng thái sinh nở hân hoan của vũ trụ. Cũng trong âm hưởng ấy nhà thơ viết về người yêu bằng một câu thơ thật quyến rũ: Nơi mắt em nhìn đang nở ra những chiếc hài/ Cho tuổi thơ chân đất của anh (Gương mặt em). Do tìm thấy cái đẹp trong sự sinh nở nên Mai Văn Phấn đã nhìn thấy khung cảnh người phụ nữ thật lung linh trong dáng điệu mang thai ánh sáng bồng bềnh bụng mang dạ chửa (Tắm đầu năm) hay một vẻ đẹp căng tràn sự sống phì nhiêu rất mực thiêng liêng khi người phụ nữ đang cho con bú: Căn phòng mình chẳng còn những bức tường bao quanh và không gian thành thời gian thánh thiện khi anh mải mê nhìn vầng ngực em dâng đầy như biển cứ thu mình tìm vào miệng con be bé xinh xinh…(Em cho con bú). Quen đấy mà lạ đấy sự sinh nở của cõi sống này đã được nhà thơ tụng ca nồng nhiệt với những vần thơ thật bình dị mà đẹp đẽ.

Sau khi tiếp cận với thế giới phồn sinh nhà thơ tiến thêm một bước nữa nhìn vào cực bên kia của phồn sinh là sự hóa hóa sinh sinh. Ban đầu anh miêu tả một thế giới bị rình rập hủy diệt tàn tạ phân rã: Chim chóc nghe lách cách giữa thân cây tiếng viên đạn lên nòng nấp vào đám mây bị quay vàng trong hoàng hôn chảo lửa/ Con hà sặc khói hun mở miệng luận bàn về sự bất tử của nước và thoáng chốc con thuyền/ Con gấu ôm trọn tổ ong buông mình từ đỉnh cây xuống nơi giăng bẫy…(Mùa hạ rất gần) hoặc: Chưa khiếp sợ bằng ngón tay tỉa sen/ đang teo lại trong áo khăn trong suốt (Sen)…Thỉnh thoảng Mai Văn Phấn nói về cái chết cái chết của thiên nhiên của con người. Có những câu thơ đọc gai người và tê tái buồn: Gió lùa về/làm khăn trắng cuốn quanh gốc sú/ trên đỉnh trời linh cữu nhấp nhô (Giấc mơ vô tận). Nhưng nếu nói về cái chết chỉ như vậy không thôi có thể ấn tượng đấy cũng sẽ không mấy ý nghĩa. Bởi đã có nhiều thi sĩ cổ kim đông tây nói về cái chết rất ám ảnh. Điều quan trọng là: Mai Văn Phấn xem cái chết như một sự khởi đầu mở ra sự sống mới rồi cứ thế hóa hóa sinh sinh vô cùng vô tận miên viễn. Ý thức hóa sinh này bắt nguồn từ một cảm niệm có ý nghĩa triết học: chết chưa phải đã chấm dứt chết có thể là một sự khởi đầu của một quá trình mới. Điều này bắt gặp tinh thần Phật giáo. Phật học cho rằng cái chết là sự luân hồi(1). Có thể Mai Văn Phấn không suy tư theo hướng Phật giáo. Nhưng với một nhân sinh quan khỏe khoắn cộng với bản tính tự nhiên hồn thơ này luôn hướng về sự sống tái sinh phục sinh hồi sinh sinh lại khai sinh phôi thai - những chữ được nhà thơ sử dụng nhiều lần với tần suất cao. Nhà thơ có những hình ảnh về sự thảm bại của cái chết hoặc về tư thế vươn lên quyết giành giật sự sống làm cuộc tái sinh mầu nhiệm: Chân trời vừa mai táng bóng đêm (Linh hồn đã bay); Con quạ khật khừ xuyên đêm/Thảng thốt kêu/ Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại (Biến tấu con quạ); Trồng khóm hoa nơi gốc cây đã mục/ Hương thơm rình nấp phía chân trời (Ngày đẹp trời)… Và đỉnh cao là vẻ đẹp của bông sen:  Bên nhau lặng im nghe bông sen trắng/đang nhói sáng/vươn trong huệ tưởng (Hình đám cỏ). Thơ Mai Văn Phấn khuyến dụ con người hy vọng vào sự sống bất tử nhờ lẽ hóa sinh mầu nhiệm - một nguyên lý tinh thần nằm ngoài tầm kiểm soát của lý trí/ ý chí con người.

Vào những năm sau này Mai Văn Phấn đẩy ý niệm hóa sinh luân chuyển tiến thêm một bước nữa: ảo giác về sự tồn sinh- lẽ sống chết của kiếp người sự biến hóa của muôn vật. Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ chính là ảo giác về một kiếp người vô định. Không thể tin là ảo giác về nguyên ủy của các con vật sống. Quay theo mái nhà lại là ảo giác về trật tự không gian nội thất. Đúng vậy phải chăng là ảo giác về chính sự hiện hữu của con người… Những bài thơ này đã diễn tả một cách thật tinh tế những ảo giác kỳ lạ đến mức kỳ bí của con người. Trạng thái hóa sinh của hiện tồn được đẩy ở mức tới hạn nằm ngoài trí năng bất khả giải.

Đến đây có thể hình dung được cách nhìn thế giới của nhà thơ Mai Văn Phấn. Một thế giới phồn sinh động cựa và luân chuyển hóa hóa sinh sinh vô hồi vô hạn với tất cả vẻ đẹp bí ẩn và mầu nhiệm nhất đã tràn vào thơ anh thống ngự thơ anh chiếm ngôi trị vì không nhượng bộ. Bằng một cách tự nhiên nhất thơ Phấn đã biểu đạt thế giới này trong trạng thái đó và coi đó là hiện thân của Cái Đẹp.

Quan niệm mỹ học này đã chi phối toàn bộ những tìm kiếm và lựa chọn của nhà thơ để có được một thế giới nghệ thuật riêng không lẫn.

2. Đất đai Ánh sáng và Em

Như trên đã nói quan niệm thẩm mỹ như thế nào sẽ có cách lựa chọn và biểu đạt đối tượng thẩm mỹ tương ứng. Trong rất nhiều thi ảnh bề bộn ở thơ Mai Văn Phấn có ba hình ảnh cô đọng nhất chụm nhất nên trở thành tiêu biểu nhất: Đất đai Ánh sáng Người tình (được gọi là Em). Cả ba hình ảnh này đều nằm trong sự quy chiếu của lẽ phồn sinh và hóa sinh bất định với tất cả sự sống động của chúng.

Xin nói trước về hình ảnh đất đai. Trong thơ Phấn không một hình ảnh nào lại có mặt với một mật độ dầy đặc như hình ảnh đất đai. Vốn trong tâm thức dân gian đất được hình dung như là Mẹ mang tính Mẫu (Cha trời mẹ đất) gắn liền với sự bình yên che chở sinh sôi (khác với nước vừa dung dưỡng vừa hủy diệt). Nhưng trong thi cảm nhà thơ Mai Văn Phấn thì đất lại được ví với người đàn ông nhất thể hóa với người đàn ông: Đất đai- người đàn ông nằm ngủ/( …)Trên ngực còn vương tro than của mùa đốt đồng (Sau mùa gặt); Anh mơ được em gieo trồng trên ngực/( …)Anh cựa mình nồng nàn tươi xốp (Bài ca buổi sớm). Hóa ra nhà thơ đã nuôi nấng trong mình một nỗi khao khát thật lạ: Ta thèm một lần nhân danh đất đai (Khúc phóng túng). Đây là điều thực sự độc đáo ở thơ Phấn. Tôi chưa thấy nhà thơ đàn ông nào lại ví bản thân mình với đất. Hẳn phải có lý do gì đó. Tôi cho rằng do tôn thờ tột bậc sự phồn sinh và hóa sinh bất định nên nhà thơ đã nhất thể hóa bản thân và hóa sinh bất định đó. Một câu thơ thật trìu mến: Đồng đất quê ta hao hao giống những mặt người/Một sớm dậy nhìn ta thân thiết thế…/Đất vạm vỡ dưới bầu trời tươi tốt (Tiếng gọi từ cánh đồng). Đất cũng mang vóc dáng suy tư của phận người: Mẹ ơi mẹ! Giờ con thấy bóng râm từ bùn đất/ Đất ở dưới chân mà cao hơn những suy nghĩ của mình (Nhật ký đô thị hóa). Một khía cạnh nữa về hình ảnh đất: đất luôn luôn trong trạng thái che chở dung dưỡng sinh sôi; và chỉ có như vậy đất mới hiện lên như một biểu hiện thuộc về Cái Đẹp. Hãy dừng lại với những câu thơ này: Kìa thửa ruộng đang vươn lên che chở những ngôi nhà (Cấu trúc tạm thời); Lao vào đất những ngón chân khát nước/ Chiếc lá mới nhô lên đặt lại ca từ (Sáng mùa hè); Trên ngực bùn nâu đã linh thiêng ban lộc/Máu hồi sinh rần rật chạy qua (Hồi sinh).  Với câu thơ Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt/ dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời (Bài hát mùa màng) lại một lần nữa chứng thực một cách chắc nịch tinh thần phồn thực sinh nở như hiện thân của Cái Đẹp trong thơ Mai Văn Phấn.

Tiếp đến là hình ảnh Ánh sáng. Tương tự như đất hình ảnh ánh sáng cũng có mặt tràn lan trong thơ Phấn. Ở nơi nào có ánh sáng ở nơi đó có giã từ bóng tối chết chóc hủy diệt. Và hơn thế nữa nơi nào có ánh sáng nơi đó đồng nghĩa với sự phì nhiêu sinh nở hóa sinh. Thật nhất quán trong thế giới nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn.

Đó là những thời khắc tạo sinh lộng lẫy và màu nhiệm của vũ trụ trong hào quang ánh sáng mà chủ yếu là ánh sáng ban mai: Như vừa mở được chiếc hũ nút/ Bóng tối tràn tím rạng đông (Tự thú trước cánh đồng); Lá sen và ngó sen/ Tỉnh dậy trong vòng tay của nước (Sáng mùa hè);  Sông rất sáng/Một ngày dài rất đẹp (Ngày đẹp trời); Có giọt sương đêm qua đang cựa mình thăng hoa dưới ánh mặt trời (Hải Phòng trước năm 2000); Ấy là dấu hiệu tái sinh/ Hay bắt đầu những điều trọng đại/Chưa kịp xúc động/ Mới mơ hồ nhận ra/ Ban mai đã cuốn lấy ta những vòng tã lót (Khúc dạo đầu)Đó còn là ánh sáng trong những phút giây chan chứa tình yêu tuổi trẻ: Anh bước lên vạt nắng/ Một con thuyền ban mai/ Em bảo hãy chờ để khóa chặt cổng (Vườn em). Bài thơ Dấu vết bình minhcăng mọng” một bầu trời sắc dục ái ân: Da thịt anh rộn ràng mang dấu chân em/ Làm những móng tay trên đất càng vang vọng/ Mỗi đốt xương muốn rời ra ngân lên bộ hơi/ Ngỡ có đôi môi trên đỉnh đầu đang thổi. Mai Văn Phấn cũng là người công khai sử dụng các yếu tố dục tính. Tuy nhiên ở Phấn dục tính hiện lên trong sự hướng đạo của ánh sáng tình yêu và tính thiêng liêng nên về cơ bản là mang tính duy mỹ. Vượt lên nhục cảm để trở thành Cái Đẹp. Ở những bài thơ sau này hoặc gần đây nhất Mai Văn Phấn vẫn không thôi ám ảnh về ánh sáng. Bài Tắm đầu năm lại tìm về ánh sáng của ngọn đèn thứ ánh sáng của không gian gia đình của tâm linh của yêu thương. Bài thơ thật xuất sắc trong một ẩn dụ thân thuộc khơi gợi sâu lắng mang chiều sâu của văn hóa nguồn cội. Trong bài thơ Ở Sokcho cũng vậy một thứ ánh sáng thanh khiết trìu mến thuộc về ban mai: Cửa sổ mặt hồ yên tĩnh/ Giọng nói thân tình bỡ ngỡ ban mai.

Phải công bằng mà nói hình ảnh ánh sáng không có gì xa lạ trong thi ảnh của các nhà thơ. Nhưng đến lượt thi sĩ họ Mai ánh sáng bừng lên đồng nghĩa với sự sống ngời hiện. Có lần nhà thơ ví lòng ống sáo là bóng tối của địa ngục mỗi khi giai điệu cất lên là mỗi lần tìm lối tới thiên đường và với người thổi sáo thì: Mỗi góc tối trong tôi đang ngậm lấy âm thanh như ngậm vào vú mẹ từ miệng mình he hé ánh sáng bồng bế nhau thong thả tràn vào. Đó chính là sự lên tiếng của sự sống phồn sinh và hóa sinh kỳ diệu.

Sẽ là không đầy đủ nếu không nói đến hình ảnh Người tình nhân vật được gọi là Em với nhiều dáng vẻ trong thơ Mai Văn Phấn.

Thứ nhất người tình hiện ra qua khuôn hình của kẻ đang yêu vô cùng tình tứ: Con sâu đo em đu lên người anh/ thì thầm gặm hết những xanh non (Gió thổi). Thứ đến người tình như một thứ quyền năng mầu nhiệm: Em đã nghe/Nên gốc cây vừa mới tưới ngấm nhanh đến thế/ Vòm phượng vĩ đẫm sương sáng nay bốc cháy/ Những quả ngô đồng khô nỏ khua vang (Sáng mùa hè). Và sau nữa là hình ảnh Em trong vẻ đẹp sinh nở hoài thai: Khẽ nhắm mắt khẽ ngậm vào tóc em/ Đang chết đi và đang sinh sản/ Dù có lả đi thành âm u bóng tối/ Lại thấy huy hoàng chạm những môi hôn (Anh đã rơi)Nói về thơ tình Mai Văn Phấn có không ít những bài thơ thật quyến rũ trong vóc dáng thanh tân hiện đại: Sáng mùa hè Gương mặt em Gió thổi Nghe em qua điện thoại Vườn em. Những bóng hình Em trong các bài thơ ưu tú ấy đều mang tư thế của kẻ đem cho che chở dâng hiến tạo dựng giá trị. Nữ tính và mẫu tính hài hòa trong mỗi giai nhân. Nhà thơ trong vai Anh hiện ra như kẻ được ân hưởng được “rửa tội” được “ban phép lành thánh thể” như một tín đồ trong tính thiêng liêng mầu nhiệm của Đạo Yêu.

Tuy nhiên cả ba hình ảnh Đất đai Ánh sáng và Người tình trong nhiều trường hợp cùng hiện lên phối thuộc lẫn nhau hòa quyện trong nhau tương tác và tôn vinh nhau: Yêu nhau. Là những nghi thức dâng tụng trời đất. Bây giờ là mùa xuân. Anh mệnh Kim và em mệnh Hỏa. Từ lửa làm ra Thổ ra Mộc ra Thủy. Đất rùng mình. Sông chảy. Ngàn vạn đọt mầm từ thân thể nở bung (Anh anh em em…); Hôn em trời đổ mưa/ đất đai hồi sinh tươi tốt/ Hạt giống nẩy mầm rồi bỏ đi xa (Những bông hoa mùa thu)… Đó là những biểu hiện toàn vẹn sung mãn nhất về hiện thân của Cái Đẹp phồn sinh và hóa sinh bất định. Nói theo cách nói của thi pháp học đó chính là thế giới nghệ thuật đặc sắc của thơ Mai Văn Phấn.

3. Mỗi bài thơ là một câu chuyện nhỏ

Nhìn lại các chặng thơ Mai Văn Phấn thấy có sự thay đổi. Từ khởi đầu đến 1995 (chặng 1) là thơ của tự tình. Từ 1995 đến năm 2000 (chặng 2) là thơ của ý tưởng. Và từ 2000 đến nay (chặng 3) thơ tìm về ảo giác.

Ở chặng 1 thơ nghiêng về truyền thống: thể điệu lục bát thơ Đường tự do có khổ có vần diễn tả cảm xúc tâm tình thi tứ thi ảnh đôi chỗ hơi lẫn với người khác chưa có nhiều chất riêng. Chặng thứ 2 là cả một nỗ lực bứt phá: giờ đây không trọng tự tình nữa mà trọng xác lập ý; hình ảnh hóa cảm xúc hóa ý. Ở chặng này cũng đã xuất hiện chất ảo như là sự manh nha để rồi phát huy rõ rệt ở chặng 3. Sang chặng sau cùng này Mai Văn Phấn đã có được một mùa màng nặng hạt. Nhiều bài thơ được coi là đỉnh cao của chính Mai Văn Phấn đồng thời cũng là những thi phẩm sáng giá trong nền thơ ca đương đại: Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ  Nghe em qua điện thoại Tắm đầu năm Gió thổi… Và còn có không ít những bài thơ khá ấn tượng độc đáo: Bưng chậu nước lên cao Cốm hương Vườn em Khuôn mặt tôi ở Ansan… Có người cho rằng thơ ở chặng này của Phấn mang tinh thần thơ siêu thực. Tôi không phải là người súng sính khái niệm lạm dụng khái niệm nhưng quả là tinh thần siêu thực ở Mai Văn Phấn đã có ít nhiều. Đó là những cách biểu đạt có tính vô thức tìm kiếm giấc mơ ảo giác những mê sảng những hình ảnh mang màu sắc huyền bí; hệ thống thi ảnh phi logic đầy những nghịch lý bất ngờ; đặt sáp nhau những hình ảnh vốn rất xa nhau…Tuy nhiên đích đến cuối cùng của mỗi tìm kiếm phải là những bài thơ hay. Nếu quả thực Mai Văn Phấn có ứng dụng siêu thực và không chỉ siêu thực hay việc phối kết giữa siêu thực và khung cảnh thực tại để có được những bài thơ đặc sắc như trên thì đó chính là thành công trong nỗ lực cách tân của nhà thơ. Tôi lại nghĩ thêm: cái mà ta gọi là siêu thực ở thơ Mai Văn Phấn chắc hẳn cũng đã được nhà thơ chiêm nghiệm và phát huy từ truyền thống văn hóa phương Đông đặc biệt ở Việt Nam. Nơi đây có cả một thế giới truyền kỳ hư ảo ma quái trong truyện cổ trong thần tích thần phả trong tín ngưỡng đa thần giáo dân gian… Mai Văn Phấn vẫn có thể đi tiếp con đường kiếm tìm này bởi vì trữ lượng của nó có thể nói là vô tận.

Tôi muốn nói điều này: Những bài thơ thành công nhất của Mai Văn Phấn đều được cấu trúc theo những câu chuyện nhỏ có thể  gọi là những truyện ngắn mini bằng thơ. Đã gọi là truyện ngắn đều phải có tích truyện có nhân vật có chi tiết nghệ thuật độc đáo. Nhìn vào thơ của Phấn thấy có cả ba yếu tố này. Ở chặng đầu chưa rõ. Càng về sau tính truyện càng hiển lộ. Ví dụ 1: Bài thơ Gương mặt em  là câu chuyện về nhỏ về nỗi nhớ của nhân vật anh đang ở xa em- người tình khi nhớ nhung nhân vật có nhu cầu phải nói lên thậm chí hát lên như một đứa trẻ cốt để cho vợi đi nỗi nhớ ai dè nỗi nhớ lại càng cháy bỏng và kết thúc câu chuyện là một chi tiết thật đẹp tài hoa: Nơi mắt em nhìn đang nở ra những chiếc hài/ Cho tuổi thơ chân đất của anh. Ví dụ 2: Vẫn trấn tĩnh tiễn khách ra ngõ. Nhân vật xưng “mình” trong câu chuyện này kể về một buổi sáng tiếp một ông khách khi pha xong ấm trà quay ra không nhìn thấy ông khách đâu nữa; thế rồi nhân vật rơi vào tình trạng mất tỉnh táo mất trí nhớ hoang mang về chính bản mình; rồi đột nhiên bước vào một hành vi có tính vô thức: đẩy chén trà về phía ông khách tự nhiên thấy: Luồng tử khí cao chừng một mét sáu dựng đứng trước mặt/ Chốc lại cúi gập. Câu chuyện có lớp lang cốt truyện (4 lớp: gặp gỡ- mất trí nhớ- kiểm tra lại trí nhớ của mình- gặp lại hình hài tử khí của vị khách) có tình huống kỳ ảo có tâm lý nhân vật có chi tiết đặc sắc có kết thúc bất ngờ. Nghĩa là bài thơ có đầy đủ tính cách của một truyện ngắn mini mang hình thức thơ. Nói cách khác đó là một kiểu thơ- truyện rất ngắn (không phải truyện ngắn thông thường hoặc truyện dài). Gần đây một số nhà lý luận phê bình đặt ra vấn đề: điểm gặp gỡ giữa thơ và truyện ngắn (2). Tôi cho rằng một số bài thơ thành công nhất của Mai Văn Phấn là những minh chứng nghệ thuật sống động cho sự giao thoa gặp gỡ giữa hai thể loại tưởng như rất xa nhau này.

*

Mai Văn Phấn đã đi qua một chặng đường thơ 20 năm có lẻ.

Với người nghệ sĩ này một xác tín hiện lên thật nhất quán: Còn sự sống là còn phồn sinh và hóa sinh bất định; và còn phồn sinh hóa sinh bất định là còn khiến con người có quyền hy vọng vào những gì đẹp đẽ và nhân bản nhất. Thơ Mai Văn Phấn hát ca niềm hy vọng không bao giờ ngơi nghỉ ở con người.

Ngoài những gì đã thành thơ anh cũng có những điều còn dang dở. Tôi nghĩ rằng anh chưa khẳng định được mình trong thể loại trường ca và thơ văn xuôi. Với trường ca thì đã rõ. Riêng với thơ văn xuôi anh viết khá nhiều. Đây là một thể loại cũng đã có lịch sử khá dài trong thơ Việt Nam hiện đại mà người thành công sớm nhất có lẽ là Hàn Mặc Tử (3). Từ bấy trở đi có không ít nhà thơ thể nghiệm nó. Nhưng phải thành thật với nhau rằng số các thi phẩm thành công là không nhiều. Và các tác giả định vị một các chói sáng ở thể thơ này là vô cùng ít ỏi. Trong số này chưa có tên Mai Văn Phấn. Những bài thơ đỉnh cao của Phấn lại ở những bài thơ tự do như đã nhắc tới trên kia. Mỗi lần đọc thơ văn xuôi của Phấn tôi đều phải tự nhủ cần cố gắng mới đi hết được. Không biết có ai cùng cảm giác giống tôi về thơ văn xuôi của Phấn: bộn và kềnh càng cho dù nếu chịu khó đọc vào cũng vẫn bắt gặp đây đó những câu hay những hình ảnh độc?...

Thế hệ thơ cùng thời với Mai Văn Phấn được gọi là thế hệ hậu chiến trưởng thành sau 1975 dần khẳng định mình từ sau 1986 thực sự định vị vào thập niên cuối của thế kỷ XX. Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại/đương đại thế hệ này đã có được vị trí xứng đáng.

Mai Văn Phấn đã khiến người ta buộc phải kể tên mỗi khi nhắc đến thế hệ của mình.

Hà Nội vào hè 2011

VĂN GIÁ

_____________
(1) Khi bàn về nguyên lý tất định và bất định trong Tinh hoa triết học Phật giáo (NXB Phương Đông 2008 bản dịch Tuệ Sỹ) Junjiro Takakusu cho rằng: “Theo đạo Phật tất cả mọi loài chúng sinh đã nhận đời sống hiện tại như là kết quả tự tạo và ngay ở hiện tại chúng cũng đang tự tạo lấy. Nói cách khác mỗi loài là một giai đoạn của dòng biến hành sinh động. Mặc dù đẳng cấp và hình thái của sự sống biến thiên trong mỗi lớp thọ sinh nhưng đừng tưởng có sự phân biệt chặt chẽ của thời gian như quá khứ hay vị lai. Sự thực chỉ có hiện tại là duy nhất. Nghĩa là chúng ta có một diễn trình hiện hữu lâu dài mà sống và chết chỉ là những đợt sóng lên hay chìm xuống trong một đại dương của đời sống. Sống và chết không phải là số phận định trước cho một chúng sinh mà là một “hậu thân của hành động (nghiệp)” như một số người thường gọi. Ai hành động phải nhận lấy hậu quả hoặc sớm hay muộn. Khi cảm nghiệm một hậu quả người ta đang gieo trồng những hạt giống mới như thế tạo ra đợt sóng kế tiếp của đời sống cao hay thấp tùy theo bản chất của các hành động trước kia của mình” (tr.59).
(2) Những điểm gặp gỡ tương đồng giữa thơ và truyện ngắn đó là: tính cô đúc tính gợi tình huống nghệ thuật (tứ) nhân vật tâm trạng coi trọng chi tiết nghệ thuật kết mở. Xem thêm các bài:
-“Truyện cực ngắn” của PGS.TS Đặng Anh Đào Tạp chí Văn học và tuổi trẻ số tháng 2-2005
-“Thể loại truyện rất ngắn trong đời sống văn học đương đại
của TS. Lê Dục Tú -http://www.vienvanhoc.org.vn/reader/?id=58&menu=106
-“Về những tiểu thuyết ngắn” [1/2]-Kristjana Gunnars (Hải Ngọc dịch) -evan.vnexpress.net/News/phe-binh/nghien-cuu/2004/07/3B9AD364
-“Thử nhận diện loại tiểu thuyết ngắn ở Việt Nam những năm gần đây” của Văn Giá-evan.vnexpress.net/News/phe-binh/phe-binh/2004/12/3B9AD44A đăng trong cuốn Đời sống và đời viết (Văn Giá NXB Hội nhà văn- TT Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây 2005).
(3) Xem thi phẩm thơ văn xuôi “Chơi giữa mùa trăng” của Hàn Mặc Tử

More...

Đọc Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng: “Nghiệt chướng” và “nghiệp chướng” trong cách thể hiện của nhà văn

By HOÀI KHÁNH

altHOÀI KHÁNH: Những năm gần đây đội ngũ những người viết văn ở Việt Nam được phát triển mạnh về số lượng. Nhưng trong só đó không có mấy người đang là công nhân trực tiếp đứng máy thực sự bắt tay vào những phần việc lao động cụ thể trong những công trường xưởng thợ nhà máy xí nghiệp. Thật mừng là ở Hải Phòng vẫn có một tác giả viết văn xuôi đang là một công nhân thực thụ trên bến cảng. Đó là Nguyễn Quốc Hùng (ảnh bên) – tác giả từng đoạt giải thưởng cuộc thi truyện ngắn của báo Văn Nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam từng có tiểu thuyết đoạt giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009) của anh thời gian qua ít nhiều tạo được dư luận tốt trong công chúng bạn đọc. Nhân Ngày quốc tế Lao động 1-5 Blog Hoài Khánh xin giới thiệu bài của Vũ Thúy Hồng bàn về tiểu thuyết này. Bài vừa đăng trên báo Hải Phòng cuối tuần số 16 (bộ mới) phát hành ngày 24-4-2011.

Đọc Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng: “Nghiệt chướng” và “nghiệp chướng” trong cách thể hiện của nhà văn

Nhà văn công nhân Nguyễn Quốc Hùng làm việc tại Cảng Hải Phòng. Với tay nghề lái cần trục chân đế 4/4 được đào tạo bài bản và có thâm niên công tác 25 năm anh hiện là giáo kiêm chức hướng dẫn thực hành về lái đế cho công nhân trẻ mới vào làm việc tại Cảng. Như một định mệnh không thể chối bỏ Nguyễn Quốc Hùng dấn thân vào văn chương và viết khá đều tay. Vốn liếng của anh là 2 tập truyện ngắn và 2 cuốn tiểu thuyết. Dòng sông chở kiếp do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành là cuốn tiểu thuyết thứ hai của anh gây được sự chú ý trong văn đàn cũng như với độc giả. Đặc biệt những vấn đề xoay quanh các nhân vật chính của tiểu thuyết đã được làm “nóng” lên trong cuộc hội thảo về Dòng sông chở kiếp của Hội Nhà văn Hải Phòng. Trong bài viết của mình tôi xin đề cập đến “nghiệt chướng” - tư tưởng chủ đạo của tiểu thuyết thông qua tuyến nhân vật chính của tiểu thuyết.alt

Bối cảnh của Dòng sông chở kiếp là một làng nhỏ vùng đồng bằng Bắc Bộ gắn với con sông Vàng. Mâu thuẫn này sinh truyền đời hàng thế kỷ giữa hai dòng họ Nguyễn và họ Vũ - một đề tài tương đối phổ biến về nông thôn trong văn học Việt Nam. Mâu thuẫn ấy nảy sinh từ thời Pháp thuộc và vẫn còn tồn tại đâu đó trong  giai đoạn hiện nay. Bỏ qua một số hạn chế về tính xác thực trong các giai đoạn lịch sử hay cách diễn đạt về văn hóa ngôn ngữ còn đôi chỗ không đồng nhất - Dòng sông chở kiếp đưa ra thông điệp về “nghiệt chướng” xuất phát từ “dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi”. Đứa con bất hợp pháp của chị đĩ Nhụ với lý Ngang đã sinh ra oan nghiệt. Thằng Sông là trưởng họ nhà chồng chị lại chính là đứa con của kẻ thù. Người mẹ muốn giữ kiếp làm người trong sạch cho con như liệu nó có sống như nguyện ước của người mẹ?

Tác giả xây dựng hai tuyến nhân vật đối kháng nhau: “Phe” tích cực tiêu biểu là gia đình ông Tổng Cò anh Diệc anh Dự anh Sơn chị Thư  - những con người có ý chí vươn lên học hỏi sẵn sàng đi theo cách mạng làm cách mạng. Tuyến nhân vật phản diện là gia đình Lý Ngang Trương Bân thằng Trường thằng Sông “rau nào sâu ấy”... Những cái chết của các nhân vật chính trong truyện thể hiện quy luật có vay có trả ở đời ác giả ác báo con người công bằng trước cái chết. 

Nguyễn Quốc Hùng thấm thía chân lý Bốn Chân Lý Diệu Kỳ của Đấng giác ngộ Buddha (Đức Phật Thích Ca): Chân lý về nỗi đau khổ chất chứa trong cuộc đời; Chân lý về nguyên nhân của nỗi đau khổ: Khi trong người chất nặng lòng tham và sự thèm muốn người đó chỉ luẩn quẩn với nỗi khổ mà thôi; Chân lý về sự chấm dứt nỗi đau khổ: Khi con người ta diệt trừ được mọi ham muốn và dục vọng thì nỗi khổ đau cũng sẽ chấm dứt; Và cuối cùng là chân lý về con đường sáng: Nếu như ta tránh làm tổn hại đến mọi sinh linh nếu như ta mài sắc trí tuệ và thiếp thu được mọi tri thức ắt sẽ có hạnh phúc trọn vẹn ắt sẽ chấm dứt mọi khổ ải.

Trong bài viết “Bức thông điệp về dục vọng con người” được trao đổi tại hội thảo về Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng cách đây ít lâu nhà văn Vũ Hoàng Lâm có bàn: “... Tác giả còn dùng từ “nghiệt chướng” để nói về thằng Sông. Sách nhà Phật chỉ có từ “nghiệp chướng” - một trong ngũ chướng: “Phiền não chướng nghiệp chướng sinh chướng pháp chướng sở tri chướng”... Ông cho rằng có thể Nguyễn Quốc Hùng dùng nhầm từ “nghiệp chướng” thành “nghiệt chướng” chăng?

Trong sách Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo phần Di Lặc chân kinh giải nghĩa “Nghiệt chướng” như sau: Nghiệt là cái mầm ác tạo nghiệp ác Chướng là trở ngại. Nghiệt chướng là sự ngăn trở do nghiệp ác gây ra. Kiếp trước mình làm nhiều việc gian ác nó sẽ trở thành Nghiệp ác ảnh hưởng lên kiếp sống này làm cho kiếp này phải bị nhiều chướng ngại như: bệnh tật tai ương. Số báo ứng đó hoàn toàn theo đúng luật Nhân Quả.

Về từ “Nghiệp chướng” sách chú giải: “Nghiệp là con đường đi từ Nhân tới Quả. Nghiệp được tạo ra bởi các việc làm lành hay dữ trong kiếp trước tuy nó vô hình nhưng nó ảnh hưởng lên kiếp sống hiện tại bằng sự may và sự rủi để làm cho kiếp sống hiện tại được hạnh phúc hay đau khổ. Việc làm lành sẽ tạo nên Nghiệp lành (Thiện nghiệp) cái Nghiệp lành này nó theo ủng hộ mình nâng đỡ mình (mà mình gọi đó là dịp may). Còn việc làm ác sẽ tạo ra Nghiệp ác (Bất thiện nghiệp) cái Nghiệp ác này nó theo báo hại mình (mà mình gọi đó là xui xẻo rủi ro) khiến mình bị hoạn nạn tai ương và phiền não. Vậy Nghiệp chướng là những ngăn trở khó khăn trong kiếp sống hiện tại do Nghiệp ác tạo ra”.

Như vậy có thể thấy Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của nhà Phật coi hai từ “Nghiệt chướng” và “Nghiệp chướng” đồng nghĩa nhưng “nghiệt chướng” hàm ý rõ rệt hơn.

Trong Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng từ “nghiệp chướng” có nghĩa rộng hơn tích cực hơn. Nghiệt chướng và tai ương trong cuộc đời mỗi nhân vật nói riêng và cả xã hội nói chung đều do những dục vọng của con người mà ra. Nghiệt chướng tai ương đời nào cũng có thời nào cũng có. Thằng Sông ra đời không bình thường. Chị đĩ Nhụ biết quan hệ với lý Ngang là không phải biết làm điều sai trái ngay dưới điện thờ thành hoàng là ngang trái sẽ phải tội. Nhưng chị bất lực với chính cuộc đời mình. Bởi ham muốn dục vọng trong con người chị lớn quá không kiềm chế nổi. Nghiệt chướng ra đời từ đó. Chị biết nghiệt chướng mắc oan cho nhà chồng: “Hắn (lý Ngang) tỏ ra tử tế đúng là nghiệt chướng đeo đẳng nhà này (nhà chồng) rồi …. Nhưng đi thế nào đây cho mọi người khỏi nghi ngờ và rồi còn phải đi đâu để thằng nghiệt chướng (thằng Sông) sau này học được làm người tử tế”.

Nghiệt chướng thể hiện trong tham vọng của con người: Lý Ngà cùng quan tri Nghiệp không từ một âm mưu thủ đoạn tàn ác nào để đạt mục đích lấy lòng quan thầy để tiến thân. Lại bàn đến luật Nhân Quả: Lý Ngang chết khổ sở. Lý Ngà ăn phân chó để tỏ lòng trung với quan thầy. Thằng Sông phải bỏ nhà cửa quê hương để trốn nợ. Thời xưa là vậy còn thời nay: Thằng Sông vì muốn làm giầu nhanh nên lừa đảo…

Con sông Vàng như một nhân vật trong tiểu thuyết từng chứng kiến bao biến động trong cái làng quê nhỏ bé và nghèo khó ấy. Và cũng chính con sông ấy phải hứng chịu những tai ương vì lòng ích kỷ của con người. Để hóa giải “nghiệt chướng” ông cụ Cờ - bố ông Tổng Cò phải đánh đổi tính mạng để giữ nguyên dòng sông Vàng để dân hai làng cùng hóa giải thù hận sống hòa bình với nhau. Nhưng từ một dòng sông nó đã biến thành hai con mương bởi người đời sau vẫn đang tâm xẻ đôi dòng nước: “Thì bên Thuận Thanh họ đòi chia. Sông của họ thì họ dùng sông làng mình thì làng mình dùng. Mất khối công đắp bờ”.

Liệu những kẻ bị gọi là nghiệt chướng của xã hội có cải biến được. Thật khó! Thằng Sông được giáo dục bởi những con người có tấm lòng vị tha như bà Nhụ trong một gia đình nhân ái nhưng bản tính của nó vẫn không thay đổi. Cái kết của Dòng sông chở kiếp vẫn mở ra những mâu thuẫn mới mâu thuẫn điển hình và phổ biến của xã hội thời kinh tế thị trường: “Nghiệt chướng” vẫn tồn tại là do “dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi”.

 Tháng 4-2011

VŨ THÚY HỒNG

More...

Cách dùng chữ trong thơ Trịnh Anh Đạt

By HOÀI KHÁNH

Cách dùng chữ trong thơ Trịnh Anh Đạt

altCó lẽ tôi là người hiếm hoi không dám làm thơ lục bát. Đọc Nguyễn Bính thuộc thơ Nguyễn Bính đến khi biết làm thơ là tự mình thấy rằng mình viết lục bát kiểu gì cũng thành “vè” thành “ca dao mới”. Lại hãi. Sao mà tiền nhân viết lục bát hay vậy.

Thế rồi tôi đọc ông Nguyễn Duy. Cái đất Thanh Hóa lạ kỳ sinh ra những bài lục bát đọc lên mà sởn gai ốc. Lại càng thấy sợ. Thôi chả dám đụng đến món quê kiểng linh thiêng ấy nữa.

Mãi sau này tôi mới biết Trịnh Anh Đạt nghe đâu lại là bạn ông Nguyễn Duy. Lúc đầu có vẻ hơi chủ quan trong cách nghĩ: “Một ông nhà giàu - doanh nhân làm thơ mà lại làm thơ lục bát thì thế nào nhỉ ?

Hóa ra mình chủ quan duy ý chí thật.

Lại càng thấy lạ đời. Sao cái đất Thanh Hóa sinh ra nhiều quái nhân lục bát. Hay hồn cốt của bùn - đất - cỏ - rơm thấm vào người họ từ bé mà thành quê kiểng như thế.

Nhưng đọc mãi đọc mãi lại thấy Trịnh Anh Đạt không hẳn là quê kiểng. Cũng là chữ là nghĩa mà chữ của Trịnh Anh Đạt xem ra khác biệt. Ngẫm ra thấy đúng là do cái tài của người xếp chữ. Ý tứ vần điệu nhuyễn vào nhau mà khẩu khí thì rất hiện đại. Ẩn giấu đằng sau cách dùng chữ tưởng chừng nhà quê là nhẩn nha bao chuyện thế sự. Thương trường là chiến trường vợ chồng dựa vào nhau để không “dễ gì buông lái”; con người lòng dạ thẳng ngay nên “chẳng dễ lưng này uốn cong” …

Đọc Trịnh Anh Đạt người ta nhặt ra nhiều câu thơ hay. Thấy hay cả câu cả đoạn dễ nhận ra mọi người cũng đã nghe đã trích nhiều tôi không nhắc lại. Tôi phục Trịnh Anh Đạt cách dùng chữ.

Khóc Tản Đà thì viết “rượu đắng nứt lời” nghe cứ như có ai cấu vào tâm can. Cái tiếc nuối cho sự vô tình nhỡ nhàng lỗi hẹn thì anh viết “chưa trả nợ lời mời” - sao nặng trĩu nỗi niềm một lời mời dài gần hết cuộc đời. Tôi đọc “Mắt lá” anh viết về hoa trinh nữ lại thấy thương cái mắt xanh khép hờ rồi liên tưởng đến ngành “công nghệ không khói” nổi tiếng ở Đồ Sơn (là nghe người ta đồn thổi thế) lại thắc mắc chẳng biết những số kiếp hoa trôi bèo dạt vật vờ hành nghề ở khu du lịch này có vận vào thơ anh hay không ? 

Trong “Làng Chua” đọc qua vài câu miêu tả ban đầu kiểu “lúa nghẹn đòng chiêm mùa tần tảo” lại chủ quan nghĩ:  À bình thường thôi cũng là cảnh quê nghèo cả ai viết cũng giống ai. Nhưng đến hai câu cuối “Làng Chua như gái dậy thì - Ngực căng hương cốm bật khuy giữa trời” mới thấy chữ nghĩa của Trịnh Anh Đạt thật đắt. Anh cố tình lừa người ta bằng hình ảnh rất cũ rồi đột ngột bung ra ý tứ tràn trề ở cuối câu để người đọc thấy sự phát triển thấy sự rực rỡ tươi mới thấy đất chua phèn đã hóa thành màu mỡ tự khi nào.

Lại xem anh bàn về rau má ngọn rau của làng quê mọc tràn lan bờ ruộng bờ ao cái thứ rau lạ lùng át hết cả cỏ để rồi “xanh rười rượi với đời”. Nếu bạn có dịp về Thanh Hóa vào bất cứ nhà hàng bình dân quán ăn đặc sản hay bữa nhậu thù tạc bạn bè y như rằng thấy rau má thay cho rau thơm rau sống ngoài Bắc. Thành ra rau má là đặc sản được ví như Sâm Cao Ly của Triều Tiên. Tôi cứ nghĩ cây rau má ấy như là Trịnh Anh Đạt vậy. Lăn lộn chiến trường bươn trải trong thương trường quăng quật với gió cát miền cửa biển để rồi thành doanh nhân thành tác giả. Người Hải Phòng chúng tôi cứ vơ vào mà nhận Trịnh Anh Đạt là nhà thơ Hải Phòng nhưng thực ra cái chất Thanh Hóa hồn Thanh Hóa cứ “ngai ngái” trong thơ anh và nhận ra rằng dù ở đất nào quê nào thì con người ta vẫn phải về với cội nguồn. Hạnh phúc sao khi có một quê hương có điểm tựa để người ta đi mãi trên đường đời để người ta ngẫm về ốc cua về rau má mà nên người. Anh nói tưng tửng “em chớ vội cười” mà thấy anh đang cười giễu ai đó mất gốc. Cái gốc của anh bắt nguồn từ “bậc thềm mòn vẹt” từ “cọng rau cái tép..” để “nuôi phần hồn vin vào con đã lớn khôn đến giờ” bằng lời ru của mẹ. Có một cái gốc như thế chữ nghĩa bình thường tự nhiên được hồn thi sĩ chắp cánh thành ra thơ.

Hành trình vật lộn với con chữ của Trịnh Anh Đạt là cả một quá trình tìm ngọc từ trong đá. Chữ nghĩa của Trịnh Anh Đạt chắt lọc từ quặng từ cát từ sạn thô nhám của cuộc đời mà đưa vào trang thơ. Tôi cứ nghĩ “Lặng lẽ” là một tuyên ngôn của anh:

Không dưng sạn hóa ngọc đâu
Trai vo tròn lẳn nỗi đau không lời
Luyện trong bùn cát sa bồi  
Sáng nay nhả một mặt trời dịu êm.

Hải Phòng tháng 9-2010

VŨ THÚY HỒNG

More...

Nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh với "Sóng hát nhọc nhằn"

By HOÀI KHÁNH

Nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh với Sóng hát nhọc nhằn

altLâu nay vẫn biết Nguyễn Long Khánh là nhà biên kịch phim truyện với những bộ phim do anh viết kịch bản chiếu trên truyền hình Việt Nam được người xem chăm chú theo dõi; thỉnh thoảng lại còn đọc bài viết của anh về điện ảnh hoặc phẩm bình tác phẩm thơ văn của bạn bè. Nhưng đọc trọn tập sách dầy với 30 bài viết phê bình chuyên sâu về hai lĩnh vực điện ảnh và văn học như Sóng hát nhọc nhằn (Nhà xuất bản Văn Học - 2010) thì mới biết Nguyễn Long Khánh còn là người viết phê bình với những ý kiến nhận xét đánh giá và đôi khi cả đề đạt kiến nghị về nhiều vấn đề của điện ảnh và cả trong văn chương với tinh thần xây dựng và ý thức trách nhiệm công dân. Giữa thời kinh tế thị trường không phải ở đâu và lúc nào tác phẩm văn học nghệ thuật ra đời cũng nhận được cảm tình của người đọc người xem nên sự phẩm bình nhận xét mang tính hướng dẫn dư luận của người am hiểu sâu về từng lĩnh vực nghệ thuật là cần thiết giúp công chúng không những hiểu tác phẩm mà còn cảm nhận và hòa đồng cùng tác giả tác phẩm. Với ý nghĩa đó việc nhà biên kịch nhà văn Nguyễn Long Khánh ra mắt bạn đọc tập Sóng hát nhọc nhằn là việc làm rất đáng trân trọng nhất là trong bối cảnh lâu nay giới văn nghệ sĩ đất Cảng dường như “quên” trận địa phê bình văn nghệ.

Là tập sách phê bình chuyên về hai lĩnh vực điện ảnh và văn học Sóng hát nhọc nhằn được kết cấu làm hai phần mạch lạc: những bài viết về điện ảnh những bài viết về văn học. Dẫu vậy bút pháp của Nguyễn Long Khánh vẫn nhất quán: khách quan chân thực và trân trọng cảm thông. Vì thế anh luôn điềm tĩnh chừng mực ngay cả khi vấn đề đưa ra tưởng gay cấn ồn ào chẳng hạn: “Hội chứng “buồn” của văn hóa điện ảnh…”   “Người tốt thời nay hiếm thế ư?” “Một lối sống và những quan niệm không nhận được sự đồng tình…” thì cách lí giải vấn đề trình bày chính kiến của anh vẫn trầm tĩnh có lí có tình đi sâu phân tích mặt này mặt kia chứ không căng cứng một chiều “nói lấy được” nên dễ nhận được sự đồng thuận của người đọc. Với sự am tường khá sâu lĩnh vực mình hoạt động và bề dầy vốn sống cùng kiến thức văn hóa Nguyễn Long Khánh đưa ra nhiều ý kiến phân tích đánh giá phẩm bình theo tôi là khá khách quan chính xác về những tác giả tác phẩm mà anh đề cập tới.

Là tác giả hàng chục kịch bản phim Nguyễn Long Khách vui mừng trước sự trưởng thành của điện ảnh truyền hình bao nhiêu thì anh lại cảm thấy trách nhiệm và bức xúc bấy nhiêu trước tình trạng phim của ta: “Kể lể dài dòng không hấp dẫn xem “nhạt’ quá…”. Anh dóng nên hồi chuông khá xác đáng với người làm điện ảnh nói riêng với những người làm văn hóa nghệ thuật nói chung: “Không thể lấy nội dung hay độc đáo mà che lấp được những khuyếm khuyết về kĩ thuật”; từ đó anh đề xuất một sự quan tâm khá toàn diện của Đảng và Nhà nước cho lĩnh vực điện ảnh từ đầu tư kĩ thuật xây dựng trường quay đến chế độ đãi ngộ đào tạo lực lượng kế cận… Những ý kiến của anh về hình tượng nhân vật điển hình trong phim truyện của ta hiện nay là khá mới mẻ chính xác và hợp thời. Đã qua rồi cái thời cứ là nhân vật điển hình tích cực thì nhất nhất cái gì cũng tốt không có cái gì xấu trong con người anh ta; mà cái gì cũng có hai mặt của nó con người cũng vậy cái thiện cái ác luôn song hành chỉ có điều “nhân vật điển hình tốt là để mọi người học tập noi theo; còn nhân vật xấu giúp mỗi người tự nhìn lại mình đấu tranh với những gì xấu xa để trở thành con người tốt có ích”. Những ý kiến của anh về cái lạ cái hay cái hấp dẫn của phim cũng đáng để không những người trong ngành mà cả người xem phim cũng rất nên tìm hiểu để trang bị cho mình một kiến thức nhất định trong khi tiếp cận điện ảnh truyền hình.

Nếu ở mảng bài viết về điện ảnh nhà biên kịch Nguyễn Long Khánh có cái nhìn tương đối bao quát và ở một số mặt là khá sâu chất phê bình khá đậm thì phần về văn học thiếu đi sự khái quát dẫu chỉ về một tác giả; nhưng để bù lại anh lại đào sâu vào phẩm bình tác phẩm rồi qua đó làm hiện ra nét đặc trưng bút pháp của từng tác giả qua mỗi tác phẩm. Lối viết này đòi hỏi người viết không những đọc kĩ hiểu sâu tác giả tác phẩm mà còn có một năng lực cảm thụ tinh tế và khả năng phân tích thấu lí đạt tình “chẻ sợi tóc làm tư” mới có sức thuyết phục người đọc. Có thể thấy rõ điều đó qua những bài Nguyễn Long Khánh viết về các nhà thơ Đồng Đức Bốn Hồ Anh Tuấn Thi Hoàng Phạm Xuân Trường và nhà văn Ma Văn Kháng Nguyễn Quốc Hùng. Ở những bài này người đọc không chỉ thấy ở nhà văn Nguyễn Long Khánh một khả năng cảm thụ văn chương tinh tế mà hơn thế còn thấy ở anh một tình cảm thân thiết sẻ chia đồng cảm với tác giả mà anh có dịp tiếp xúc qua tác phẩm. Vì thế dù là người đã thành “cây đa cây đề” trong làng văn như Ma Văn Kháng Thi Hoàng hay những người  đang tiếp bước như Nguyễn Quốc Hùng Lương Văn Chi anh cũng không ngần ngại nhận xét phẩm bình một cách khách quan chân thực. Thế nên khi đọc những bài “Tôi là thi sĩ đồng quê” “Lần cuối cùng gặp nhà thơ Đồng Đức Bốn” “Hồ Anh Tuấn - Cánh chim thơ mang đến mùa lành” “Thử tiếp cận với những khoảng trống không thể lấp của Thi Hoàng” “Đôi điều trao đổi với Nguyễn Quốc Hùng” người đọc bị lôi cuốn ngay từ cách nhập đề trích dẫn thơ văn đến phân tích lí giải câu chữ văn cảnh vừa từ văn bản lại không hẳn từ văn bản kí ức xen lẫn thực tại đọc khá hấp dẫn.

Sóng hát nhọc nhằn là tập phê bình điện ảnh và văn học có chất lượng hơn nếu tác giả mạnh tay bỏ ra một số bài còn nặng về tân văn báo chí kiểu “ý kiến ngắn” như “Sự lay động diệu kì” “Người của công chùng” “Có lẽ…”. Dẫu còn những “hạt sạn nhỏ” thì Sóng hát nhọc nhằn vẫn là tập phê bình điện ảnh văn học đầu tiên khá chững chạc và rất đáng khích lệ của giới văn nghệ sĩ đất Cảng sau 25 năm đổi mới.

CAO NĂM

More...

Ra mắt tuyển thơ Nguyễn Quang Thiều

By HOÀI KHÁNH

Ra mắt tuyển thơ Nguyễn Quang Thiều

Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vừa cho ra mắt bạn đọc tập tuyển thơ Châu thổ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Tập thơ gồm 144 bài thơ được tuyển chọn từ 6 tập thơ của tác giả đã xuất bản từ năm 1990 tới nay. Giới thiệu về tuyển thơ này nhà thơ Mai Văn Phấn viết: "Thế hệ sau năm 1975 Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ cách tân toàn triệt sớm nhất ảnh hướng đến các nhà thơ trẻ mạnh mẽ nhất tạo dư luận đa chiều sôi nổi nhất... Nhiều bạn trẻ say ông như điếu đổ. Cũng không ít nhà thơ thế hệ trước chửi ông như hát hay từng gắn mác "thơ dịch" cho những bài thơ mới lạ của ông. Nhưng sau cơn bốc đồng chê như hắt nước đổ đi họ cũng lặng lẽ nhận ra: từ nay họ không thể viết như cũ. Nguyễn Quang Thiều đã hoàn thành sứ mệnh của thi sĩ tiên phong trong thời đại thi ca còn dày đặc sương mù. Tập thơ đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi đặc biệt Sự mất ngủ của lửa là cánh cửa để Nguyễn Quang Thiều lên đường. Ông đã đem đến cho thơ Việt một cấu trúc thơ mới lạ những hình ảnh rời xa nhau trong những kết dính mờ nhạt tinh thần phản tỉnh mãnh liệt làm đổ vỡ những trật tự cũ tường minh từng góc sâu tăm tối trong ký ức mỗi người tạo những góc nhìn tỉnh táo sắc lạnh vào đời sống hiện thực. Nếu ở Sự mất ngủ của lửa ta dễ nhận ra luồng sáng thanh khiết chụp lên người nhắm mắt toạ thiền thì đến Cây ánh sáng - tập thơ của Nguyễn Quang Thiều xuất bản năm 2009 lại thấy ánh sáng lan toả ra mọi nơi những bước đi trầm tĩnh của người "thiền động". Cây ánh sáng dễ hiểu hơn những tập thơ trước nhưng cũng khó đọc hơn bởi không phải ai cũng dễ nhận ra nguồn năng lượng vô hình từ con người thơ này. Thơ Nguyễn Quang Thiều luôn chờ đợi bạn đọc ở phía trước. Đánh dấu một giai đoạn quan trọng vẻ vang của thơ Việt đương đại Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam vừa tuyển chọn và ấn hành tập thơ mang tên Châu thổ của thi sĩ Nguyễn Quang Thiều".

HOÀI KHÁNH

More...

Qua bao thăng trầm Dòng sông chở kiếp vẫn phẳng lặng trôi

By HOÀI KHÁNH

Qua bao thăng trầm Dòng sông chở kiếp vẫn phẳng lặng trôi

Mấy năm gần đây người viết về nông thôn ngày càng ít; lùi lại thời gian dựng lại khung cảnh nông thôn với những người nông dân một nắng hai sương hiền lành chất phác và giàu lòng tin lại càng ít. Trong bối cảnh không lấy gì làm vui ấy tôi thật sự mừng khi được đọc cuốn tiểu thuyết thứ hai mới ra lò của nhà văn trẻ Nguyễn Quốc Hùng Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009).

Với 354 trang sách khổ 13 x 19 cm Dòng sông chở kiếp như một bức tranh về một vùng nông thôn có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa với những quan hệ dòng tộc xóm làng mang đậm ý thức hệ phong kiến nhuốm màu nho giáo. Trong bức tranh có cả chiều sâu ý tưởng và chiều rộng không gian ấy quả là tác giả đã tạo dựng được lợi thế cho tiểu thuyết có "đất" tung hoành. Không phải người viết nào cũng dễ lựa chọn được hoàn cảnh và nhân vật thích hợp trong một môi trường với những xung lực luôn tương tác nhau ở mọi lúc mọi nơi dẫu đôi khi lẽ ra cũng chẳng có gì đáng để xung khắc nếu như con người có thể dễ quên đi sự ham muốn nhiều khi rất nhỏ nhen như một miếng ăn một chỗ ngồi nơi đông người thì đâu đến nỗi mang niềm hận thù cha truyền con nối. Chọn được một môi trường như thế xét về mặt nào đó đã là thành công của người viết; bởi trong công việc của nhà văn có lẽ chọn lựa ý tưởng (chủ đề) sáng tác để từ đó tổ chức nhân vật và xây dựng cốt chuyện là công việc có ý nghĩa quyết định đến quá trình hình thành tác phẩm. Bởi suy cho cùng trong tiểu thuyết nếu không tìm được mảnh đất mà ở đó yếu tố xung đột cả nhân vật và cốt chuyện như quả bom định giờ có thể bùng nổ bất cứ lúc nào thì dẫu có là nhà tiểu thuyết cũng khó có đất dụng võ. Thế nên trong Dòng sông chở kiếp Nguyễn Quốc Hùng đã chọn được cư dân làng Trằm một làng nhỏ tin hin vài trăm hộ nằm bên dòng sông Vàng đồng ruộng tiếng màu mỡ nhưng động mưa là úng động nắng là hạn quanh năm mặt bán đất lưng bán trời nhưng cứ treo liềm là treo niêu rất điển hình cho làng quê vùng châu thổ sông Hồng những năm trước Cách mạng Tháng Tám. Thế nhưng sự tranh giành quyền lực và ảnh hưởng giữa các dòng họ thì thật khủng khiếp nhất là khi quyền lực đó lại được bộ máy chính quyền và người đứng đầu hành chính cấp trên trợ giúp cả về quyền và lực như trường hợp Lí Ngà với quan tri huyện Thăng thì sự tranh giành đó càng quyết liệt hằn thù dòng họ càng khoét sâu.

Mở đầu bằng cảnh cư dân làng Trằm chạy lụt vào cái đình nhỏ rau cháo không còn đủ ăn lại còn chen chúc khổ sở ngày hai bữa Nguyễn Quốc Hùng ngay từ những trang đầu tiểu thuyết đã tạo được môi trường cho sự xung đột để từ đó bộc lộ bản chất và tính cách nhân vật. Chính trong ngôi đình nhỏ nhoi giữa ngày lụt lội nhưng chỉ một cái hẩy chân tưởng như vô tình của Lí Ngang khi đi qua chỗ chị đĩ Nhụ ngồi lại như một bóng ma cầm kéo chị đi. Rồi cái gì đến tất phải đến cuộc tình vụng trộm giữa một người là Lí trưởng làng trưởng dòng họ Vũ và một ngườ là dâu trưởng dòng họ Nguyễn vốn có mối hiềm khích không đợi trời chung diễn ra ngay gầm ban điện thờ. Cũng chính lúc đó chỉ cách gầm điện thờ mấy bước chân bà tổng Cờ mẹ chồng chị đang lăn lóc vượt cạn giữa lúc nước ngập mấp mé cửa đình. Chưa nói tới vai trò ý nghĩa của đứa con chắc sẽ sinh ra sau cuộc tình vụng trộm này cũng chưa nói tới đứa con bà tổng Cờ sinh ra ở đình giữa trận lụt hai đứa trẻ ấy rồi có đi hết tiểu thuyết hay không nhưng chỉ với việc tái tạo cuộc tình của hai con người ở hai dòng họ vốn mang niềm hận thù thâm căn cố đế và đứa trẻ sinh ra trong một hoàn cảnh rất éo le cũng có thể phần nào thấy năng lực của Nguyễn Quốc Hùng trong tạo dựng tình huống. Đây có thể coi là "nút thắt" có khả năng làm "bùng nổ" nhân vật và cốt chuyện đẩy nhân vật đi đến tận cùng tác phẩm nếu nằm trong tay người viết tiểu thuyết có nghề. Cũng trong cảnh chạy lụt còn thấy hiện ra hai gia đình hai dòng họ Nguyễn họ Vũ ở làng Trằm với những người trụ cột trong gia đình dòng tộc là tổng Cờ và Lí Ngang. Mối hiềm khích giữa hai nhà hai dòng họ dai dẳng từ mấy mươi năm. Nhưng giữa trận lụt ngoài sông Vàng trôi về từng súc gỗ to cha con Lí Ngang hò nhau bơi ra lôi vào bờ; cụ tổng gàn không cho Lí Ngang mang gỗ về nhà vì gỗ ấy là gỗ ngài (tức Phù Đồng Thiên vương) cho làng để làm lại đình làm Lí Ngang tức nổ ruột. Nhưng dẫu sao làm đình cũng là việc thiêng một Lí Ngang chứ mười Lí Ngang không thể cản nổi. Nhưng đến việc cụ tổng đề xuất và được quan tri huyện Thăng về tận nơi khảo sát để cấp tiền gạo cho làng Trằm mở sông Vàng phân lũ sang Thuận Thanh thì Lí Ngang ngấm ngầm phá kịch liệt. Ném đá giấu tay Lí Ngang sai trương Bân và Duân sang xúi giục trai đinh Thuận Thanh gậy gộc dáo mác ra ngăn không cho làng Trằm đào sông. Cuộc xô sát giữa hai làng diễn ra ác liệt bất chấp có mặt quan tri huyện Thăng. Thấy thế cụ tổng không thể kìm lòng sau khi giục Lí Ngang lệnh cho trai làng không xông ra đánh nhau nữa nhưng Lí Ngang ngược lại còn xúi trai làng xông vào đánh nhau kịch liệt hơn cụ tổng quyết lấy tấm thân già ngăn không để dân hai làng đổ máu cụ đi ra giữa ranh giới đào sông thuộc đất hai làng ngồi như trời trồng xuống sông mặc cho nước từ hai bên ào ào chảy vào và bất chấp sự can ngăn của mọi người. Cái chết của cụ tổng như một sự tuẫn tiết để ngăn cản điều ác bảo về lẽ phải. Cũng những ngày mở rộng sông Vàng Lí Ngang giao cho nhà Duân bỏ công ra đào chuôm cứ đào được một chuôm thì nhà Lí cho cấy hai sào ruộng. Một kiểu bóc lột lao động có thù lao tức thì bộc lộ rõ bản chất xảo quyệt của Lí Ngang. Nhưng ái oăn thay khi chuôm đào xong thì Duân cũng không còn sức cày cấy trên mấy sào ruộng nhà Lí trả công rồi phần vì làm kiệt sức phần vì rượu say ra đồng cảm gió Duân gục xuống ngay bên bờ chuôm do chính tay hắn đào. Với ở đâu cái chết kiểu như thế cũng chẳng thể thành chuyện nhưng ở làng Trằm bất kể cái gì cứ mang tính khác thường một chút kì dị một chút đều có thể được lan truyền là ma. Nhất là về sau Lí Ngang trong một tâm trạng vui buồn lẫn lộn uống rượu say rồi lẩn thẩn ra cánh đồng Đỗ đến chỗ mấy cái chuôm Duân đào rồi cũng lại bị cơn gió độc chết gục xuống bờ chuôm thì chuyện ma ở làng Trằm càng trở thành "cơm bữa". Nhưng cái gì cũng thế chừng mực là vừa nhiều quá đâm sái và chuyện ma ở làng Trằm ở chỗ này chỗ kia quả là cũng có phần hơi sái!

Đi sau vào phần một trong số bốn phần (không kể đoạn kết) của tiểu thuyết bởi lẽ theo tôi đây là những trang viết khá nhất của Dòng sông chở kiếp cả về mặt xây dựng tích cách nhân vật cũng như kết cấu chuyện. Sau phần này nhất là từ cuối phần hai trở đi đến hết tác giả dường như có cái gì đấy như sự hẫng hụt cả về cách dựng chuyện và kết cấu tổ chức nhân vật. Sau khi Lí Ngang chết làng bầu người thay và tri huyện Thăng cũng người họ Vũ cùng họ nhà Lí về tận làng "chỉ đạo" hội đồng tiên chỉ làng cử Ngà con trai trưởng Lí Ngang làm Lí trưởng. Có lẽ Ngà làm Lí trưởng vắt qua hai thời trước sau cách mạng tháng 8-1945 vì trong kháng chiến chống Pháp với vai trò Lí trưởng làng Trằm Ngà còn thâm hiểm xảo quyệt và tàn ác hơn bố hắn thời trước mà đỉnh điểm là cuộc giặc càn Lí Ngà chỉ hầm nhưng lại không ra mặt giặc đào được hầm ở nhà bà Hướng bắn chết bà Hướng và Toản còn Sơn bị thương rồi bị bắt về đồn. Còn một người nữa tuy không ra mặt nhận Ngà là anh ruột nhưng về lòng tham và sự xảo trá cũng chẳng kém Lí Ngà là mấy đấy là Sông đứa con sinh ra sau cuộc tình vụng trộm giữa chị đĩ Nhụ và Lí Ngang bố Lí Ngà dưới gầm bàn điện thờ ở đình giữa ngày chạy lụt. Đến đây có thể hiểu cái "nút thắt" có khả năng làm "bùng nổ" tiểu thuyết mà tác giả dụng công "cài đặt" ở phần một hóa ra lại chẳng có sự "bùng nổ" nào hay có chăng chỉ là một minh chứng cho câu châm ngôn "Giỏ nhà ai quai nhà ấy" bởi Sông tuy sinh ra lớn lên và được nuôi dưỡng khá chu đáo trong nhà vợ chồng anh Diệc chị Nhụ nhưng dòng máu lại một nửa là của Lí Ngang. Thế nên có lẽ Sông mang nhiều tính cách và bản lĩnh của Lí Ngang nên cái hôm Lí Ngà làm khao lên chức Lí trưởng Sông săng sái cỗ bàn cứ như việc nhà mình cũng là điều dễ hiểu xét về mặt tình cảm huyết thống. Sông có lúc không cần giấu giếm nói toạc ra ước muốn tham danh hám lợi thậm chí có lúc còn trách mình sao không được giàu sang và quyền lực như Lí Nga! Như đã nói cuộc tình vụng trộm giữa Lí Ngang và chị đĩ Nhụ ở đình sản sinh ra thằng Sông nếu tác giả dầy dạn một chút tỉnh táo một chút và cả tài hoa một chút nữa thì rất có thể tạo ra một cái gì đấy có sức "công phá" đẩy tiểu thuyết lên một bước nữa. Bởi thằng Sông được sinh ra giữa hai dòng máu hai dòng họ có mối hằn thù thâm can cố đế nhưng thằng Sông lại lớn lên dưới chế độ mới giữa những con người ít nhiều tạm quên đi mối hiềm khích vì thời Việt Nam dân chủ cộng hòa khác hơn nhiều thời đế quốc phong kiến trước đó. Đây là sự khác biệt căn bản của cái nền tiểu thuyết nhưng không hiểu khi viết Dòng sông chở kiếp Nguyễn Quốc Hùng có lởn vởn trong đầu chăng. Tôi đồ rằng tác giả không mấy để tâm bởi nếu để tâm đã không để cho sự nhập nhằng không phân định ranh giới giữa hai thời kì có tính bước ngoặt là trước và sau cách mạng tháng 8/1945. Thế nên khi đọc đến phần ba thấy hoàn toàn ngỡ ngàng không hiểu đây là thời nào còn đế quốc phong kiến hay đã khởi nghĩa Tháng Tám rồi từ bao giờ sao không thấy dân làng Trằm có biểu hiện nào trước bước ngoặt lịch sử của quê hương đất nước chẳng lẽ họ đứng ngoài cuộc. Đứng ngoài cuộc thì họ không thể đi theo kháng chiến bằng sự hy sinh lớn lao như vậy và ngay cuộc kháng chiến ở đây là vào giai đoạn nào đầu hay cuối cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp? Bởi nó rất có ý nghĩa khi dựng lại cuộc đời và số phận nhân vật vì muốn nói gì thì nói con người không thể tách rời hoàn cảnh ngược lại chính hoàn cảnh làm bộc lộ tính cách con người (nhân vật). Vì thế nhân vật thứ hai sinh ra giữa lúc chạy lụt vào đình là Sơn một người được cả dòng họ Nguyễn kì vọng lại sớm theo Việt Minh tưởng một hai có thể làm nên trò trống gì khả dĩ có thể làm rạng danh dòng họ nhưng lại không. Sơn mới đi Việt Minh đã bị thương rồi bị giặc bắt về đồn đày ra Côn Đảo mãi hòa bình lập lại mới về sau chuyển ngành sang thương nghiệp rồi chỉ mới chơi với cô y tá cơ quan đã bị tay trưởng phòng vu cho gây hỏa hoạn thế là vào tù. Sơn là người con trai duy nhất còn lại trong gia đình cụ tổng có tới mấy người con trai xét về hoàn cảnh và tính cách của Sơn nói riêng và nhà cụ tổng nói chung Sơn hoàn toàn có thể làm được cái gì đó để duy trì và giữ vững truyền thống gia phong nhà cụ tổng và họ Nguyễn rất có thể là người xoá đi hiềm khích bao đời giữa hai gia đình hai dòng họ lớn ở làng Trằm nhất là trong hoàn cảnh quê hương đất nước đã hoàn toàn thay đổi. Và như thế tiểu thuyết mang ý nghĩa xã hội càng thêm sâu sắc hơn. Nhưng chưa triệt để khai thác những mắt xích nhân vật và tình huống chuyện nên dẫu qua bao thăng trầm thì "Dòng sông chở kiếp" vấn chỉ phẳng lặng trôi chứ chưa để lại đôi bờ những bờ sôi ruộng mật như người đọc mong đợi. Dường như ý định người viết muốn tái hiện làng quê cả một thời kì dài mấy chục năm nhưng vốn sống và năng lực có hạn nên những gì hiện ra trên trang viết chưa theo kịp với sự phát triển của nhân vật và hoàn cảnh. Có lẽ thế tác giả phải viết thêm đoạn kết quá dài (33 trang in) lại mang đậm chất tự truyện có cái gì như lạc với toàn cục không hợp với không khí tiểu thuyết.

Trong thời buổi hiện nay không ít người chạy theo "mốt hiện đại" cả về nhân vật cũng như nội dung hình thức thì việc một nhà văn trẻ như Nguyễn Quốc Hùng lại tìm về những con người ở một vùng quê với bao biến cố xảy ra trước cả hàng chục năm người viết sinh ra thì quả là việc làm rất đáng trân trọng và khích lệ. Sau Chuyến hàng mưa tác phẩm Dòng sông chở kiếp lai thêm một lần nữa cho thấy năng lực tiểu thuyết cùng khả năng đi xa của Nguyễn Quốc Hùng trên con đường văn chương đầy chông gai phía trước.

CAO NĂM

More...

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt từ góc nhìn của người xứ Thanh

By HOÀI KHÁNH

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt từ góc nhìn của người xứ Thanh

Năm 2009 Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hoá phát chương trình "Thơ và cuộc sống" giới thiệu bài thơ "Rau má" của Trịnh Anh Đạt được nhiều người mến mộ yêu cầu phát lại nhiều lần. Trịnh Anh Đạt là nhà thơ sinh ra và lớn lên ở Hà Trung Thanh Hoá sống và lập nghiệp ở Đồ Sơn Hải Phòng.

Tôi và có thể cả nhiều người Thanh Hoá biết và tiếp xúc với thơ Trịnh Anh Đạt là từ bài "Rau má" - bài thơ được giải thưởng cuộc thi thơ cuối thế kỉ (năm 2000) của Tạp chí Xứ Thanh. Đã có nhiều người làm thơ về đề tài này nhưng Trịnh Anh Đạt có lối đi riêng và thành công hơn cả. Thơ nói về cây cũng là nói về người. Một loài rau được coi là đặc trưng của con người và vùng đất nơi đây: "Miền quê bão lụt nắng hanh/ Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi". Nhà thơ gọi cây rau má là "sâm" của người xứ Thanh quả không ngoa cây rau từng đỡ lòng ta lúc tháng ba ngày tám... Cái màu"xanh rười rượi" và vị "ngai ngái" của cây rau trong mùi mồ hôi có lẽ cũng chỉ có người sinh ra sống chết với mảnh đất này mới cảm nhận được. Cây rau nhẫn nại khiêm nhường lại có sức sống mãnh liệt vươn lên dù từ đất cằn cỗi. Trịnh Anh Đạt kể và tả về cây rau má cùng lời nhắn nhủ: "Dù ai lận đận nơi đâu/ Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi...". Trong khi Huy Trụ bóng gió: "Ơi cây rau má đất này/ Nói điều chi với tháng ngày mà xanh?" thì Trịnh Anh Đạt bộc bạch: "Vĩ nhân và các đời vua/ Cũng từ rau má ốc cua nên người!". Giá trị thông điệp nhà thơ đưa ra là ở hai câu cuối này bởi thế nó có sức nặng.

Là người sinh ra lớn lên từ xứ Thanh học xong trung học phổ thông giữa lúc cuộc chống Mỹ cứu nước đang thời kì ác liệt như bao người cùng thế hệ Trịnh Anh Đạt lên đường ra mặt trận. Quê hương và đồng đội là những kí ức thường nhật trong trái tim anh trong đó sâu nặng nhất là hình ảnh người mẹ: "Bậc thềm mòn vẹt mẹ ngồi ngóng trông". Người mẹ trong thơ Trịnh Anh Đạt là biểu tượng của bà mẹ Việt nam anh hùng với tất cả đức hy sinh chịu đựng tình thương của mẹ cao lớn bao trùm lên những đứa con. Còn mẹ thì: "Lụi lầm thân cuốc bờ ao/ Cọng rau cái tép... thế nào cũng xong" là: "Lành nhường con ấm dụm chồng/ Áo dăm mụn vá...nỗi lòng đâu yên". Mặt khác thơ Trịnh Anh Đạt cũng nói giùm tấm lòng của những đứa con những người lính nhớ về mẹ tựa vào lời ru của mẹ mà lớn khôn trưởng thành.

Có thể thấy biên độ thơ Trịnh Anh Đạt những biểu cảm ghi nhận của anh trong khoảng thời gian không gian đất nước và thế hệ anh từng trải: mái trường đồng đội con người và những vùng đất anh qua... Còn thơ lục bát Trịnh Anh Đạt lại dành cho những chiêm nghiệm những khoảng lặng ở "nửa sau cuộc đời".

Đây là phút uy nghiêm trầm mặc giữa núi rừng: "Nỗi niềm mỗi bứơc một dừng/ Lối mòn đỏ giữa điệp trùng Lam Kinh" anh lặng bước mà nghĩ tới những người anh hùng đã đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh. Cả cây rừng cũng "đánh giặc" qua kế sách của Nguyễn Trãi: sai người đi khắp nơi dùng mỡ mật viết lên lá cây cho kiến ăn thành tám chữ: "Lê Lợi vi quân Nguyễn Traĩ vi thần" để thu phục lòng dân tham gia khởi nghĩa...Qua Na Sài - cây cầu vừa nối nhịp vượt sông Mã tới Hồi Xuân thị trấn miền núi trữ tình của Thanh Hoá một ban mai trong trẻo thanh khiết: "Này em! Gùi địu trĩu quai/ Sớm xuôi chợ huyện có ai đi cùng/ Mùi thơm dủ dẻ lạ lùng/ Lịm như hương tự núi rừng chắt ra".

Xứ Thanh trong thơ lục bát Trịnh Anh Đạt trước hết là những kỉ niệm về mái trường về lứa bạn bè một thuở ở Trường cấp III Hà Trung quê hương tác giả là dòng sông bên lở bên bồi: "Bương luồng xanh bến sông Lèn/ Dô tà dô tá...đan chen  nhịp hò..." là mía thơm đất Ba Bùi là thứ mắm tép đỏ au ở Đình Trung... Phải gắn bó sâu nặng với quê hương thế nào không chỉ ở cảnh sắc con người mà cả cách ăn nếp nghĩ phong tục tập quán mới thấm đượm trong tâm hồn tác giả đến thế. Nhưng điều đọng lại trong kí ức của anh về quê hương vẫn là về bạn bè đồng đội về nỗi đau sau chiến tranh:"Thằng nào vùi xác cuối trời/ Hồn thiêng nhập tiếng ve sôi vọng về?/ Còn đây tím nấm mộ thề/ Run tay bạn gái...tái tê đời thường"

Yêu quê hương Xứ Thanh nơi chôn rau cắt rốn Trịnh Anh Đạt cũng gắn bó tha thiết với những miền quê anh qua nơi anh sinh sống lập nghiệp trở thành một doanh nhân thành đạt. Anh đã tìm được một lối đi riêng cho thơ lục bát của mình như đi tìm một lối không dễ giữa thị trường nhiều thử thách. Thật ngạc nhiên về những bài thơ anh viết về Đồ Sơn Hải Phòng. Đây là những địa danh ở biển Đồ Sơn: bến Nghiêng: "Sao em xuống tắm một mình/ Để con sóng biếc rập rềnh cũng nghiêng" đây là hòn Dáu: "Đảo xanh hoá chiếc ô xoè/ Bồng bềnh trôi giữa tiếng ve bồng bềnh" đây là chợ Cầu Vồng: "Mùa xuân đi chợ Cầu Vồng/ Quá mù...nên chẳng ai trông thấy giời" và đây là đồi Vung nơi có biệt thự Bảo Đại "Căng nưng nức ngực đồi Vung/ Xiêm y lơ đễnh buông chùng gió mây/ Núm hồng biệt thự nây nây/ Cho bao nhiêu kẻ run tay si cuồng"...Đọc những vần thơ này càng thấy cái tinh tế hóm hỉnh đầy vẻ trào lộng trong thơ Trịnh Anh Đạt. Điều này cắt nghĩa vì sao giữa phong cách thơ ào ạt của một thành phố biển với những thi hữu tiềm tàng sức vóc Trịnh Anh Đạt vẫn không bị "đồng hoá" vẫn tìm được lối nói riêng.

Xen giữa những bài thơ lục bát viết về quê hương về những kỉ niệm chiến tranh về cuộc sống đời thường...bài thơ "Phút bình yên Văn Miếu" lại như một thể nghiệm của tác giả về một đề tài "hiện đại" lấy cái lục bát truyền thống làm cầu nối hoà bình. Nhà thơ gặp một nhà thơ Mỹ gốc Việt vốn là cựu chiến binh từng là "hai thằng lính trận thuở nào choảng nhau" giờ "Duyên thơ nối nhịp ân tình" lần đầu tiên tại Đại lễ hội Thơ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội họ đã gặp nhau: "Vào nơi trọng dụng hiền tài/ Qua Khuê Văn các sánh vai cùng người". Vượt qua giông bão trăm miền những người lính ở hai chiến tuyến đã gặp nhau ở Văn Miếu Quốc Tử Giám sống "những phút bình yên diệu kì".

Thật tiếc nếu không nói đến mảng thơ tình yêu trong thơ lục bát Trịnh Anh Đạt trong đó có bài thơ về một nữ cựu chiến binh anh gặp ở quê Lèn. Không rõ có hẹn hò gì không hay chỉ là lời mời xã giao của người nữ cựu chiến binh ấy mà nhà thơ cứ qua lại trước dãy chung cư nhìn vào cánh cửa phòng cô khép hờ. Nhà thơ phân vân vì thấy chưa có cơ sở gì: "Đò Lèn xông xổng gió lùa/ Triền đê cỏ ấm lời lưa thưa nồng". Lời lưa thưa tức là chưa có gì mặn mà thân thiết đễn mức tự nhiên được rồi tất cả chỉ dừng lại ở đó: "Không qua nổi bước ngập ngừng/ Lòng ai then đóng giữa lưng lửng lòng/ Gió vò nhàu nát mặt sông/ Mối mai mòn mỏi miền mông mênh mờ" và anh buột tiếng thở dài:"Lách qua khe cửa khép hờ/ Gió trăng thuở ấy đến giờ vẫn suông".

Có thể còn dẫn ra nhiều câu thơ hay của Trịnh Anh Đạt ngay cả bài thơ "Màu thương thớ" viết về cô TNXP anh gặp nơi cửa Phật - một đề tài gần gặn với đề tài trên anh có những câu thơ thật ân tình nhưng nghe sao đắng đót: "Hàm răng khoé mắt ấy ơi/ Nhẽ nào làm ánh sao rơi sân chùa/ Em như taó rụng cuối mùa/ Héo lăn lóc giữa chát chua chợ người...Trường Sơn khuyết một lần trăng/ Mãi còn cánh võng xanh giăng giăng chờ"...Tình yêu trong thơ Trịnh Anh Đạt đúng hơn là tình yêu thương đồng đội sự cảm thông và chia sẻ với những phận người.

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt dung dị chặt chẽ trong câu chữ tinh tế trong lựa chọn hình ảnh liên tưởng đến tục ngữ ca dao các điển tích lời hát dân gian.... Điều đáng ghi nhận là việc anh đưa vào thơ lục bát các điệp âm các từ láy từ ghép đặt ở chữ thứ sáu của câu tám (Mối mai mòn mỏi miền mông mênh mờ; Hương nghèn nghẹn thoảng giữa rưng rưng chiều...) đã làm tăng hiệu quả nội dung diễn đạt tạo ấn tượng với người đọc và làm cho thơ lục bát Trịnh Anh Đạt có sắc thái riêng. Tuy nhiên ưu điểm này cũng là hạn chế khi anh quá lạm dùng hoặc đặt nó không đúng chỗ như những lời nói thường dễ gây nhàm chán (Mắc nơi biển cạn đã heo héo rồi...).

Giữa ồn ã của đổi mới thơ nhiều hình thức thể nghiệm mà thành công chưa thể khẳng định thì Trịnh Anh Đạt bằng việc sử dụng và nâng cao chất lượng từ thể thơ lục bát một thể thơ truyền thống làm ta vui và tin vào con đường thơ của anh. Chúc anh tiếp tục có những bài thơ lục bát hay làm rung động lòng người.

TRỊNH NGỌC DỰ

More...

Mai Văn Phấn với Bầu trời không mái che

By HOÀI KHÁNH

Mai Văn Phấn với Bầu trời không mái che

Tập thơ Bầu trời không mái che (NXB Hội Nhà Văn - 2010) của nhà thơ Mai Văn Phấn kịp ra mắt bạn đọc trước khi tác giả đi dự Liên hoan Thơ ca và Văn học Hàn Quốc - ASEAN vào đầu tháng 12 vừa qua. Tập thơ gồm 3 phần: Cửa Mẫu Mùa trăng Hình đám cỏ có thể coi đó là 3 tập hợp thơ 3 bài thơ dài hoặc 3 trường ca nhỏ cũng được. Với tập thơ này lại một lần tác giả tự đổi mới thơ mình thêm một bước tiến mới cho thơ mình. Cố gắng tạo cho mình một sự bứt khỏi vết mòn xưa cũ Mai Văn Phấn tiếp tục tự vấn bằng những thôi thúc trong chính sự hoảng loạn. Là một nhà thơ tiên phong cho việc cách tân thi ca trong cả nội dung và hình thức qua những ngôn từ lạ và nền tảng xúc cảm có bề dày Mai Văn Phấn hi vọng mang đến cho bạn đọc yêu thơ có thêm một giọng điệu mới một bầu không khí mới.

Tập thơ Bầu trời không mái che vẫn làm nổi rõ giọng điệu riêng của Mai Văn Phấn một nhà thơ Hải Phòng đủ dũng khí nhận chân bản ngã phủ định cái cũ ở chính mình mà vẫn giữ được hồn cốt của riêng anh. Mai Văn Phấn thường quan niệm dù có cách tân thi ca đến đâu thì vẫn phải hướng con người vươn tới cái cao đẹp. Chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ - đó là điều mà tác giả mong đợi từ tập thơ này. Anh đã làm được khá nhiều trong suốt cả 3 phần thơ.

HOÀI KHÁNH

Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một phần nhỏ trong tập thơ này:

Hình đám cỏ

Nhịp II

 

Tin nhắn hiển thị

Sáng ô cửa nhỏ

 

Trời xanh mưa nắng phía sau

Nỗi lo toan không thấy được

 

Thời khắc đầu ngày

Vẽ chân trời rẻ quạt

Mỗi vệt sáng ghi nhớ từng việc

Em ẩn sau chiếc quạt khổng lồ

 

Lá khô rụng xuống

Cơn giông cuối chiều ập đến

Mở đường chim bay

 

*

 

Tiếng em vọng ai quàng lên chiếc khăn ấm nhẹ

Chạm vào anh thuở khờ dại xưa

Ngắt bông hoa kẹp vào trang sách

Chim non vươn trên thành tổ

Chênh vênh vòm lá treo mưa

 

Em cười nói hồn nhiên trẻ nhỏ

Lất phất mưa anh phờ phạc ưu tư

 

*

 

Lặng lẽ một mình đan ngón tay

Không cho ánh sáng đi qua

Không cho gió đi qua

 

Ở đây không nắng và gió

Càng khủng khiếp nép vào tĩnh lặng

 

Anh thành hạt đậu mũi kim

Chiếc đũa lẻ loi

 

Trên kia có thể trời vẫn cao

Mây trôi nhanh và nắng

Chiếc khăn lượn lờ 

Vô tình từ cửa sổ ngôi nhà

Chim bay qua từng đàn

 

Gọi tên em anh khẽ gọi

Ngọn khói lên từ một mái nhà

Giữa rừng lặng thinh không gió

 

*

 

Chiếc bút trên bàn. Khi dọn dẹp vẫn muốn để lại. Cầm bút thư giãn vừa lạ vừa quen. Quản bút nhẵn ngón tay cầm. Đôi khi tháo ruột bút xem (phải tháo trộm vì hành vi quái đản). Mở nắp bút như bật cánh cửa cậy nắp hầm tối... Cảm giác chợt thức chợt mở mắt. Muốn tháo nắp bút một nơi. Nắp bút để trên thân bút bên phải hay ở dưới. Cả ngược lại.

 

Mở...

Lắp...

Lắp... mở...

Lắp lại...

Cây bút ngay ngắn bình yên

 

*

 

Tựa lan can tàu tưởng tượng

Cùng em đang bay rất gần

Lưng mềm tóc xoã hất ngược

 

Dặn chiếc túi nhỏ anh mang

Có đồ ăn và chai nước uống

 

Con tàu lướt trên ngọn sóng

Anh muốn em bay cao hơn

 

Khi xa tít một cánh chim

Anh bình tĩnh nhấp ngụm nước nhỏ

 

Biển rộng hơn

Em chao liệng xa

Bé tí ti làm anh nheo mắt

 

Sóng cuộn trước mũi tàu anh từng cột nước

 

*

 

Thanh thản uống trà

Nắng sáng màu hoa nâu ve áo

Chân em co duỗi nền gạch ô vuông

 

Mở không gian hương trà thơm

Từ cánh tay ngấn cổ

Móng chân sơn đậm màu trà

 

Nhắc anh hãy nhấp

Chậm từng ngụm

Thấy vạt chè lên xanh buổi sớm

Búp chè se lại

Từng nóc nhà đỉnh núi đội sương lên

Mây trắng đến quấn quanh ý nghĩ

 

Anh uống gần cạn ly trà

Chỉ vơ vẩn hình dung mây trắng

Gương mặt em ẩn hiện

Rạng rỡ lo âu

Hạnh phúc và em...

 

Chén trà ngon anh thêm minh mẫn

Dù đã uống cả làn mây trắng

Vẫn móng chân màu trà ẩn hiện bay qua

 

*

 

Thầm thì lời vô nghĩa

Luôn thấu hiểu nghe rõ

Trời xanh chân cỏ

 

Đất đai mỡ mầu

Em bóng tối

Lần tìm từng ngón chân anh

 

*

 

Hơi thở truyền nóng điện thoại giây lát hỏi anh ăn sáng chưa đang làm gì nhớ ngồi ngay ngắn. Anh trả lời bâng quơ đặt tay lên bàn. Tiếng em rì rầm. Quạt để tốc độ nhỏ thổi gió khắp phòng. Bàn rộng. Cánh cửa hẹp. Đưa tay có thể chạm đồ vật bất kỳ. Lọ hoa sáng nay đang tươi trở lại. Tiếng em vọng từ bông hoa phớt tím cánh lá nhỏ vây quanh. Anh nghe em cất đi cuốn sách.

 

Chiếc bút và đồng hồ tự trôi...

 

*

 

Muốn dừng lại bên đường

Nằm lên cỏ

Trời cao mong leo lên cây

Nhìn xuống tiếc nuối cát

Thèm trộn vào cát

 

Giây phút phân vân anh bất động

 

Mặc sương sớm ùa đến

Sóng mặn và nắng ùa đến

Kéo căng anh cỗ xe ngựa phanh thây

 

Trước lúc đặt cuốn sách xuống

Như cố trấn tĩnh đợi lệnh gã đồ tể

 

Giọt nước buồn bay lên đám mây

Nghe quả trứng ấm nóng lăn qua cơ thể

Đôi sẻ nâu vội vàng giao hoan chớp mắt.

MAI VĂN PHẤN

More...

Tình khúc mưa - tiếng lòng thơ Lê Thị Phù Sa

By HOÀI KHÁNH

Tình khúc mưa - tiếng lòng thơ Lê Thị Phù Sa

Tập thơ đầu tay mang tên Tình khúc mưa của Lê Thị Phù Sa - hội viên Hội VHNT tỉnh Tây Ninh - vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc. Có thể bắt gặp thoáng chập chờn một nỗi nhớ bâng khuâng về quê hương bạn bè về mùa thu con đò dòng sông và những vùng đất mà tác giả từng đến đó. Những nỗi nhớ ấy vừa như được ấp ủ vừa như để an ủi có khi oán trách vô cớ bạn đọc dễ cảm thấy như mình cũng có nỗi niềm trong đó.

Phảng phất chất liệu ca dao mượt mà trữ tình và đằm thắm trong những bài thơ của Lê Thị Phù Sa. Có tính ước lệ trong những câu thơ ngọt ngào. Mỗi bài thơ trong tập như là mỗi câu chuyện có nhân vật có nỗi niềm có tâm trạng.

"Nào hay ngày tháng hững hờ

Tựa lưng vách nhớ mong chờ tái môi

(Giữa thu)

Có Thời gian cứ trôi mà mình chưa làm được những điều gì. Tác giả muốn oán trách mình hờ hững với thời gian một sự tự trách mình thật đáng yêu.  Đó như là tâm trạng chung của nhiều người. Vịn theo dòng xao xuyến ấy tác giả chất vấn mình khi lưu luyến cả những gì mà thời gian đã chôn sâu trong dĩ vãng:

Phố thị trăng rằm người xa có nhớ

Góc nhỏ rừng chiều xào xạc heo may

Người quên ta chiếc bóng hao gầy

Đốt lá vàng thu hong từng nỗi nhớ.

(Thu ca)

Mùa thu như con người hằn sâu nỗi nhớ đến nỗi phải đốt lá vàng hong từng nỗi nhớ. Cách ví von sao da diết nhưng nỗi nhớ trong thơ Lê Thị Phù Sa không hề chút gì bi lụy không mang màu sắc u ám chỉ mơ hồ bảng lảng giữa quá khứ và hiện tại:

Chợt nghe lời gió bâng khuâng

Rưng rưng niềm lá...

                                    Em ngần ngại thu

(Tình khúc mưa ngâu)

Nỗi niềm người thơ thường bộc lộ tình yêu thiên nhiên và quê hương. Chỉ có điều là mỗi tác giả đều có cách cảm riêng nên khi tình yêu ấy chảy vào câu chữ  của mỗi người cũng khác nhau gợi cho bạn đọc những ring cảm nghệ thuật thú vị và chân thành trước cái đẹp của thơ.

Em dắt mùa thu đi

Loanh quanh chiều phố nhỏ

Nắng vàng vương trong gió

Mây ngập ngừng quên trôi

(Hương ca mùa thu)

Mùa thu hiện lên trong tập thơ này ở nhiều bài. Có lẽ cảnh thu dìu dịu dễ đồng điệu tiếng lòng tác giả. Mỗi bài thơ về mùa thu của Lê Thị Phù Sa lại mang tâm trạng riệng biệt:

Mới xa nhau đã nhớ nhiều

Chưa thu đã thấy hắt hiu lá vàng

(Khúc thu)

Hoặc:

Bụi còn hạt cuối tiễn đưa

Niềm riêng chưa cạn chiều chưa vơi chiều                                         

(Tiễn)

Lê Thị Phù Sa có sự bức phá ít nhiều khi phản ánh trong thơ về những phong cảnh non nước hữu tình của quê hương gấm vóc. Tác giả mượn cảnh sắc thiên nhiên để nói hộ lòngmình:

Xe lướt nhẹ lên đèo cao gió hát

Đường quanh quanh leo đỉnh dốc Rù Rì

Chợt gặp em giữa màu xanh bát ngát

Nhịp lòng rung trói buộc bước chân đi

(Lên dốc Rù Rì)

Người nhớ cảnh bao nhiêu thì cảnh cũng nhớ người bấy nhiêu. Qua những ngôn ngữ giản dị gần gũi đọc những bài thơ trong chùm thơ Nha Trang ta nghe như ai đó thủ thỉ tâm tình. Đôi khi tác giả thất vọng trước cảnh trớ trêu của lẽ đời thì những câu thơ tả cảnh cũng trở nên trầm lặng.

Đò ơi!

Đò qua bến vắng bên bồi

Một tôi khờ đợi giữa trời bơ vơ.

(Tình khúc qua đò)

Cô đơn mà không hoang mang tác giả chỉ nhớ thương tâm niệm với những số phận cùng cảnh ngộ. Mảng thơ tả cảnh của Lê Thị Phù Sa gom góp được những ý thơ vụt lóe nhưng cũng bộc lộ những cảm nhận chưa sâu có chút gì đó hơi vội vàng trực giác.

Đọc thơ Lê Thị Phù Sa ta ngỡ chính mình cũng đang nhớ đang yêu thương  hờn giận. Những câu thơ còn có khi hơi mộc mạc kia bằng chính sự chân thành của tác giả mang lại cho ta những thư lòng. Tin rằng Lê Thị Phù Sa sẽ cho bạn đọc những cảm xúc tươi tắn mà không kém phần sang trọng ở những tập thơ tiếp theo.

HOÀI KHÁNH

More...

Một cuốn tiểu thuyết hay và độc đáo

By HOÀI KHÁNH

HOÀI KHÁNH: Tiểu thuyết Biển của Trương Anh Quốc - hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh - vừa đoạt giải nhất Cuộc thi sáng tác "Văn học tuổi 20" lần thứ IV năm 2010 do Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức. Tác phẩm vừa được in ra và đang trở thành cuốn sách văn học bán chạy nhất hiện nay tại các hiệu sách trên toàn quốc. Blog Hoài Khánh xin chuyển đến bạn đọc gần xa bài giới thiệu tập sách này của nhà văn Nguyên Ngọc.

Một cuốn tiểu thuyết hay và độc đáo

Đây là một cuốn sách lạ. Thoạt không dễ đọc thậm chí có khi cầm lên đọc qua năm bảy trang đã có thể muốn bỏ xuống nếu không tò mò vì sự kích thích của đề tài lâu nay hầu như chưa hề được nói đến: cuộc sống long đong gian nan đầy thử thách hiểm nguy của những người lao động đi làm thuê trên những chiếc tàu viễn dương. Vậy mà vượt qua chút cảm giác ngờ ngợ lúc đầu bỗng dần dần thấy bị cuốn hút đến không dứt ra được và cuối cùng toàn bộ ban giám khảo nhận ra rằng mình đang đứng trước một cuốn tiểu thuyết một cuốn tiểu thuyết được viết một cách rất độc đáo của một người viết từng trải và đầy bản lĩnh.

Chỉ vài trăm trang sách nhốt trong một không gian chật hẹp đôi khi đến gần như nghẹt thở là một con tàu nhỏ lại là tàu chở dầu tức phải chịu rất nhiều hạn chế về sinh hoạt lênh đênh cô độc trên các đại dương mênh mông chỉ mấy chục con người thôi vậy mà là cả một thế giới một nhân quần cũng ngổn ngang tất cả các nổi đời các éo le và bi kịch lớn nhỏ (cả hài kịch nữa) hầu như không hề thiếu bất cứ một tính cách nào một kiểu diện mạo người nào rộng lượng và nhỏ nhen thương yêu và căm ghét âm mưu và thù hận ngây thơ và thâm hiểm cao thượng và bần tiện thơ mộng và thô lỗ trung thực và lừa bịp mơ ước và khát khao dục vọng và tuyệt vọng... tất cả đều đạt đến đỉnh điểm chính vì quá chật chội mà cô đọng tới cực độ. Quả tác giả đã rất khéo tự nhốt mình trong cái khoảng không gian cực kỳ hẹp kín và khắc nghiệt này để cho tất cả các nhân vật của anh buộc phải tự bộc lộ hết từng người và do vậy mà cũng là một bức tranh rậm rạp và khá đậm nét về nhân quần. Hơn thế nữa là cái nhân quần rất hôm nay rất thời sự của thời con người dù bất cứ ở đâu bằng cách này hay cách khác đều buộc phải đi ra thế giới đối mặt với những thách thức của cái thế giới và thời đại vừa mới mẻ nhiều hứa hẹn lại nhiều hiểm họa và nguy cơ này. Thường vẫn vậy những người biết ít lại hay hấp tấp nói vội nói nhiều mà kỳ thực rồi chẳng có mấy thông tin loay hoay mãi cũng chỉ đi lại mấy chuyện vặt. Người biết nhiều thì chỉ thường cứ như lặng lẽ mỉm cười thỉnh thoảng mới lộ ra đôi chi tiết mà cái nào cũng đắt đầy ấn tượng và hóm hỉnh nữa cái hóm hỉnh của người quá biết về sự đời ta nghe rồi còn thèm thuồng muốn nghe nhiều nghe nữa nghe mãi. Ta gặp ở đây một tác giả một người bạn quý như vậy.

Nhận ra tất cả điều đó rồi ta càng hiểu và cảm phục bản lĩnh của người viết. Một lối viết rất trầm tĩnh không hề to tiếng nhẹ nhàng đến như rủ rỉ có cả nụ cười mỉa mai mà nhân hậu cứ như thong thả kể chuyện chơi hết chuyện này tới chuyện khác không cần thắt không cần mở không cần cái thường được gọi là cao trào hầu như cũng chẳng cần quan tâm mấy đến một đường dây xâu chuỗi kết nối toàn tác phẩm. Tôi nghĩ đó là một cách viết cao tay: bởi cuộc sống thật vốn là vậy đó thế giới được kết chặt với một bề ngoài trông chừng rất rời rạc cuộc sống là tất yếu một cách trông chừng như rất ngẫu nhiên. Một người từng trải lắm mới bình tĩnh hiểu được điều đó và nói với chúng ta thật nhẹ nhàng ôn tồn thủ thỉ như tâm sự về những sự đời vừa oái ăm vừa buồn cười vừa đau đớn nhiều khi đến dữ dội vừa rất thường ngày tầm thường cứ như là tự nhiên vậy cái tự nhiên bao giờ cũng giấu đi sự uyên thâm sâu kín của mình.

Vậy nên đọc kỹ cuốn sách nhỏ này hóa ra không nhỏ chút nào. Nó dùng một mảnh nhỏ thậm chí một mảnh nhỏ bị rứt ra khỏi thế giới bốn bề để nói về chính cái thế giới ngổn ngang đó. Còn điều này nữa: để nói về cả chính đất nước chúng ta những vấn đề của con người chúng ta xã hội chúng ta cái được cái không cái hay cái dở cái đáng hy vọng và cái đáng vô cùng âu lo của đất nước này hôm qua hôm nay ngày mai. Như là một kiểu đi ra xa đi ra cái lạ đối chiếu mình với cái lạ ấy để lại nhìn về gần về chính mình tự hiểu về mình hơn trong cái thế giới vừa cũ vừa mới vừa yên tĩnh vừa đầy biến động khôn lường này. Cuốn sách vì vậy mà rất khiêm nhường lại có thể chứa một chiều sâu suy tưởng không ngờ nếu ta biết bình tĩnh lắng nghe...

Đọc rồi vì vậy mà bỗng muốn được gặp người viết quá để ít ra nói một lời cám ơn. Cám ơn bạn rất nhiều người bạn viết chưa từng được giáp mặt.

Biển là tên tác phẩm. Cũng có nghĩa là một biển nhân quần ít ra một góc nhìn trông vậy mà thật sắc sảo về cõi nhân quần hôm nay chăng?

NGUYÊN NGỌC

More...