Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

By HOÀI KHÁNH

Đồng Đức Bốn đa đoan lục bát gọi nhau

altĐột nhiên nhắc đến Đồng Đức Bốn tôi cơ hồ như có một hạt bụi rơi vào mắt mình cái cay xè cũng nhạt nhòa mà cái xót xa cũng nhạt nhòa. Cái dáng khệnh khạng của Đồng Đức Bốn đã bước qua cõi thơ và ngả bóng thật buồn lên ký ức bè bạn. Cái lưng to bè của Đồng Đức Bốn đã khuất dần cõi người và để lại những câu thơ lục bát gập ghềnh nỗi đa đoan.

Tôi kết giao và tri âm với Đồng Đức Bốn từ Chăn trâu đốt lửa của anh. Mỗi lần Bốn lên Hà Nội để gặp gỡ mọi người thường rẽ qua nhà tôi chơi hoặc gọi điện thoại từ đâu đó rủ đi uống café uống bia. Cùng với Bốn còn có anh Xuân Cường là họa sĩ và nhà thơ. Ba anh em chúng tôi gặp nhau khi nhà tôi khi nhà anh Xuân Cường khi hàng quán. Chẳng mấy ai biết đến tình bạn của anh Xuân Cường và tôi với Đồng Đức Bốn. Khi đó Bốn lặng lẽ hơn thơ Bốn chưa được biết đến nhiều lắm. Anh Xuân Cường thường rủ Bốn ăn cơm ở nhà. Tôi đưa cho Bốn chiếc xe đạp mifa của mình để Bốn đi đến các tòa soạn đến với giới văn chương. Khi đó gia đình Bốn gặp nạn. Tôi và anh Xuân Cường và một số bạn bè khác đã bên Bốn chia sẻ và các giúp đỡ những gì có thể. Sau này Bốn viết nhiều lên Bốn nổi tiếng nhiều lên Bốn cũng khá giả lên về kinh tế. Những lần lên Hà Nội của Bốn nhiều lên và cũng đôi lần nhớ đến thì gọi tôi lại một quán nào đó cùng với người nào đó. Bốn đã khác - ồn ào hay văng tục đeo đồng hồ nhẫn vàng to tướng dùng 2 3 điện thoại đắt tiền. Người ta bàn luận quanh những vật ngoài thân ấy. Nhưng tôi đã lùi ra xa hơn. Lùi ra và để đọc thơ Bốn trong tĩnh lặng.

Viết về Đồng Đức Bốn khi anh không còn trên thế gian nữa tôi ngồi đọc rất nhiều bài liên quan đến Đồng Đức Bốn. Những lời khen thơ của anh khá bay bổng. Những lời nhận xét lối sống của anh khá sôi nổi.  Với tôi và cả các con tôi thì vẫn là yêu thích thơ lục bát của Đồng Đức Bốn. Thế thôi.  Nhưng những gì tôi cảm nhận được đọng lại trong tôi. Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay. Có một bài viết của ai đó khi viết về thơ anh có nhắc tới ý này. Thơ lục bát của anh hay nhiều câu hay nên có lẽ chẳng cần tìm câu dễ dãi. Anh nhận mình là kẻ mượn bút của Trời. Có người cho rằng anh kiêu ngạo. Có người nói là trời cho anh những câu thơ hay. Sao Trời lại chọn Đồng Đức Bốn nhỉ?

Tôi yêu thơ lục bát và từ hồi sinh viên đã chọn ca dao làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp Nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Rất hư ảo trong tâm hồn tôi hình ảnh làng quê. Rất thiếu trong lục bát của tôi hương sắc đồng quê. Anh cho tôi hình ảnh

Chăn trâu đốt lửa trên đồng
 Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều
 Mải mê đuổi một con diều
 Củ khoai nướng để cả chiều thành tro.

4 câu thơ là 4 hình ảnh với 4 cách diễn tả khác nhau. Một kể sự việc. Một nhận xét. Một hình ảnh động. Một hình ảnh tĩnh mà có chuyển động. Không có từ tả âm thanh sắc màu nhưng vẫn như có lửa cháy có gió mang mùi rơm rạ mùi khoai nướng có chiều đang dần tàn. Và có một người trong cả 4 câu thơ- người và tâm trạng. Hình ảnh ấy ta thấy bao lần trên cánh đồng mà sao vẫn bâng khuâng. Tôi gặp trong thơ anh những hình ảnh làng quê qua cách diễn tả rất riêng của anh rất bất ngờ với tôi chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng

rồi

câu thơ nấp ở sân đình
 nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau
nhuộm buồn những hạt mưa mau
thành sao nở trắng vườn cau trước nhà

rồi

đất nâu tường đã cũ càng
 tiếng chim trong bụi tre làng cứ non.

Tiếng kêu mẹ khi đê vỡ trong thơ anh nỗi lo lắng khi đê vỡ trong thơ anh khiến ta nghĩ đến những làng quê ngập trắng trong lũ lụt mới ngày nào

Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong…
Ôi mẹ ơi đê vỡ rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không.

Tôi thích những câu thơ tình của anh. Nó thô mộc như con người anh. Nó mạnh mẽ  và thoáng liều lĩnh thoáng ngang tàng giống anh. Nó được thổ lộ tha thiết mà độc đáo trong cách diễn tả trong cách vận dụng hình ảnh ngôn từ cuộc sống quanh anh. Nó bất ngờ với người đọc. Hình như tôi chưa yêu như vậy trong thơ hay tôi chưa bao giờ bộc lộ được như vậy trong thơ. Cũng có thể vì tôi là phụ nữ chăng. Sông Thương ngày không em có nhiều câu làm nao nao lòng người con gái. Rồi Đừng buông giọt mắt xuống sông/ anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm. Cứ mỗi lần qua sông cứ mỗi khi chia ly lại thấy giọt mắt sao nặng nề xa xót thế lại lẩm nhẩm trong đầu câu thơ của Bốn. Rồi cái hôm em ở với chồng… cùng với xa một ngày bằng triệu mùa đông/ em bỏ chồng về ở với tôi không lại làm bâng khuâng chạnh lòng bao cảnh tình ngang trái. Bao nhiêu bạn đọc thích bài thơ Trở về với mẹ ta thôi. Cắt ngang trong mạch tình cảm ấy là những câu thơ về tình mẹ với con về tình con với mẹ là thân phận con người là chiêm nghiệm cuộc đời…Đọc mà buồn mà đau ngậm ngùi. Và rồi một trong những bài thơ cuối của anh để lại cho mẹ cho đời cúi đầu lạy mẹ con đi về trời…Cho đến lúc này đây Đồng Đức Bốn đã đi về trời mà câu thơ vẫn như nghẹn lại

Tôi đọc và ngẫm những câu thơ Bốn suy ngẫm về đời về thân phận – đọc trong tâm trạng của người cũng trải qua bao nỗi đời tâm trạng của người làm thơ cũng nặng lòng suy tư. Nào Chín xu đổi lấy một hào để đắng cay thì ngậm xót chua thì cầm. Nào Vào chùa để được một lá bùa  và  ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.

Nhiều câu thơ khác với những cách diễn tả khác nhưng ý tứ xa xôi mà cũng có liên tưởng gần gũi

Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa có gì

Cầm vàng bán cái vàng đi
Để mua những cái nhiều khi không vàng

Sống gần tới phút chia tay
Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không

Chợ buồn Đời tôi Con sáo sang sông Đường đi Em là lục bát của tôi…và trong nhiều bài thơ khác đều chứa những câu đau đáu về phận làm người.

Đấy là một lời an ủi quen dùng và sự thật trong đời

Bảo rằng khổ trước sướng sau
Mà trăm năm vẫn thấy nhau bọt bèo

Đấy là bao nhiêu nỗi đau mà tưởng kêu lên khóc đi thì vợi

Bao nhiêu là giọt mắt rơi
Làm mưa chứ chẳng làm trời nổi giông

Đã đành nói như Bốn Mỗi người có một cõi riêng mà đọc lục bát của anh cứ ngẫm ngợi và day dứt. Lời anh buông ra thơ anh buông ra dù lời yêu hay lời chua xót cũng tự nhiên giống như con người anh nhiều khi tiếp xúc cũng thấy nó tự nhiên như vậy. Anh chẳng làm duyên trong thơ mà lục bát của anh thật có duyên. Tôi học anh cái không cần bằng bằng xuôi xuôi đúng luật trong thơ – cuộc sống cuộc đời có phải lúc nào cũng đúng luật đâu. Tôi học anh cách vận dụng hình ảnh từ ngữ rất thực mà độc đáo bất ngờ. Nhưng làm sao học được cái tự nhiên đôi khi đến thật thà mà câu lục bát của Đồng Đức Bốn lại làm ta ngã lòng đến thế. Bốn nói đến trâu bò thất thuể long đong tả chiều thành tro thương mẹ áo nâu vẫn bạc bên nắng chờ nói tửng từng tưng- sư ra cho một lá bùa rồi đi nói đến tha thiết- thương em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang… nghe tiếng quốc kêu – tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu mái chùa…nghe tiếng  chuông chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò

Nhiều người làm thơ về Hà Nội. Có nhiều câu thơ hay về Hà Nội. Tôi cũng viết nhiều về Hà Nội nhưng chưa bao giờ nhận thấy hết được lòng mình với Hà Nội. Đồng Đức Bốn chỉ lên Hà Nội chơi lên Hà Nội làm thơ. Anh đi qua ngõ nhỏ Tạm Thương

Có ai yêu giả bao giờ
Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương

Anh đi thuyền trên Hồ Tây

Chiều nay Hồ Tây có giông
Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm

Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm và không thấy chìm khi ngồi trên sóng khi trên đầu có giông. Câu thơ không tả mà cho ta cảnh Hồ Tây chiều giông. Câu thơ cho ta tâm thế của người ngồi trên thuyền. Đồng Đức Bốn viết về Hà Nội yêu Hà Nội theo cách riêng của anh ý tứ và say mê. Không nhiều lắm nhưng ta vẫn gặp ở đâu đó trong thơ anh sự gắn bó với Hà Nội Nhà em ở giữa phường Trung Tự/ Cây tháp nước bồn hoa còn nhớ chỗ ta ngồi

Có người nói Đồng Đức Bốn được những câu thơ Trời cho còn cả bài thì…Thì cứ được những câu Trời cho đi. 600 bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn  cứ từ từ đọc để được những câu lục bát cho mình. Rất có thể thơ anh vang lên trong lòng mỗi người chúng ta khi bất chợt đối diện sự xao xác nhân duyên hoặc khi vô cớ loay hoay sự trắc ẩn ân tình!

Tôi có 3 bài thơ tặng Bốn. Tôi chưa bao giờ đọc và chỉ cho Bốn thấy. In trong các tập dù viết tặng ai tôi cũng không bao giờ đề tặng nên cũng chẳng ai nhận biết. Mấy câu này tôi viết khi bắt đầu đọc thơ Đồng Đức Bốn

đọc câu lục bát của người
tôi đi tìm lại mảnh đời bỏ quên
 
nửa câu thơ để bên thềm
nửa đời yêu để tình duyên nhạt nhèo
 
nỗi nhớ quên chẳng mang theo
niềm vui buồn tự cánh bèo nhẹ trôi
 
bâng khuâng tôi lại tìm tôi
giữa câu lục bát nhịp rơi lỡ làng.

Tôi đến nhà Bốn 3 lần chẳng có lần nào là theo lời mời của Bốn trong dịp vui nào của Bốn. Trách Bốn ư? Chưa bao giờ trách Bốn. Vả lại những gì mà Bốn thích - ồn ào khoa trương – không thuộc tính cách tôi. Tôi là bạn nữ và Bốn cũng thường dành cho tôi sự gặp gỡ ít ỏi yên lặng ấy. Lần 1 ở nhà cũ khi con Bốn hoạn nạn.  Lần 2 khi Bốn ốm. Lần 3 đến viếng Bốn. Có 2 lần đi nhờ xe anh Bằng Việt và cùng với anh Bằng Việt chị Phan Thị Thanh Nhàn.Tôi đến khách sạn Hoa Hồng thăm khi Bốn đang trị bệnh. Lần nào cũng buồn. Buồn không nói được. Buồn về làm thơ viếng bạn. Để lại nhiều ấn tượng nhất trong tôi là lần thứ 2 về thăm Bốn ốm. Đập vào mắt tôi lạnh trong tôi là 2 câu thơ gắn vào đá trước nhà. Đập vào mắt tôi là sự lộn xộn dến bừa bãi của những chai rượu tượng Phật tượng các cô gái khỏa thân là những đồ đẹp mà Bốn mua và được tặng . Sao ông lại để như vậy?  Vì Bốn ốm hay vì nhiều đồ quá mà không kịp sắp xếp không rõ nữa. Bốn cười mà không trả lời. Tôi chỉ tự cảm thấy không an lòng cảm những gì đang đến rất gần cho bạn nên cũng  lại không nói nữa. Bốn vẫn nhớ thăm gia đình tôi nhớ những gì gia đình tôi dành cho Bốn thăm con gái tôi cũng bị bệnh hiểm nghèo như Bốn và trước Bốn. Hai chú cháu mình cùng chiến đấu. Bốn đã động viên cháu và chính mình như vậy. Hai chú cháu đều rất nghị lực. Bốn vẫn làm thơ. Con gái tôi vừa đi làm vừa chữa bệnh. Con gái tôi vẫn chiến đấu còn chú Bốn đã đi về trời

Xin cho tôi được đọc bài thơ viếng Đồng Đức Bốn năm đó để thay cho lời kết

Chuông nào đánh chẳng ngân nga

biết tìm đâu gió đâu mưa
biết tìm đâu cái ngày xưa bây giờ
 
phải là duyên nợ tình thơ
mà câu lục bát thẫn thờ cơn mê
 
mặc người nơi cánh đồng quê
mặc ta ngơ ngẩn chiều tê tái lòng
 
qua cầu lại thương dòng sông
khát con nước chỉ dám trông vào trời
 
vội chi tính bỏ cuộc chơi
để câu lục bát cho người sang trang
 
vội chi lỡ kiếp đa mang
câu thơ dở phố dở làng dở yêu
 
gánh gồng trong cuộc phiêu diêu
quẳng đi lăn lóc mọi điều buồn vui
 
dẫu tha thiết dẫu ngậm ngùi
tử sinh âu cũng mệnh trời số ta
 
chuông nào đánh chẳng ngân nga
phải chuông chùa tiếng mới nhòa khói mây.

BÙI KIM ANH

More...

Thơ Hải Phòng viết về Đảng

By HOÀI KHÁNH

Thơ Hải Phòng viết về Đảng

Sáng tác về Đảng từ bao năm nay là đề tài hấp dẫn đối với giới nghệ sĩ nói chung với người làm thơ đất Cảng nói riêng. Chưa kể sáng tác của công chúng chỉ kể những tác giả là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng có thơ viết về Đảng nếu tuyển chọn chắc sẽ có một tập sách ấn tượng với người yêu thơ. Viết về Đảng thực sự trở thành một yêu cầu thấm đậm nghĩa tình từ trong tâm hồn người làm thơ. Bởi Đảng chính là hình hài máu xương của dân tộc hun đúc nên. Đúng như nhà thơ cao niên Nguyễn Viết Lãm trong bài Sinh thành viết:

Đứa con sinh ra

Từ nỗi đau của mẹ

Mầm non mới hé

Từ nỗi đau của cây

Từ nghìn đời nô lệ

Đảng ta sinh thành.

Từ nhân dân mà ra Đảng trở về với nhân dân Đảng gắn bó với dân keo sơn mật thiết như thuyền với biển:

Lòng mẹ là biển cả

Biển là thuyền được mẹ nâng niu.

Sự gắn bó ấy đã trải bao gian nan thử thách càng tôi luyện càng trở nên sắt thép càng thấm đậm tình người đúng như nhà thơ Nguyễn Viết Lãm trong bài Ân tình một bài thơ khá hay viết về Đảng:

Đảng về với nhân dân bước bước chông gai

Đường vạn lý đâu chỉ có hoa hồng và tiếng hát

Giữa rét mướt triền miên quạnh quẽ đêm dài

Bỗng nồng ấm yêu thương hai tiếng thiêng liêng: đồng chí!

Cũng từ trong gian nan thử thách biết bao người con yêu quý của nhân dân những đảng viên trung kiên của Đảng đã không tiếc máu xương vì lý tưởng của Đảng ngay cả sự hi sinh thân mình như trong bài Trọn niềm tin của nhà thơ Nguyễn Siêu Phàm:

Cùng đồng đội tôi lăn mình vào cái chết

Hai tai ù bom dập bom rung

Tôi vẫn lắng đâu đây tiếng hát

"Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng".

Còn đây là hình ảnh rất đẹp sự hi sinh cao cả của người đảng viên trước giờ phút quyết liệt được nhà thơ Nguyễn Viết Lãm khắc họa khá đậm nét trong bài Ngày ấy với những câu tỏ rõ phẩm chất người đảng viên:

Trước giờ phút giao tranh ác liệt

Đột phá khẩu này ai sẽ lao lên

Chi bộ Đảng là những người tình nguyện đầu tiên.

Còn đây là cảm xúc rất gợi của nhà thơ Trân Lưu khi đi trên đường phố Hải Phòng đang đổi mới từng ngày nhìn những tên đường mang tên người cộng sản mà không khỏi bâng khuâng nhớ đến tấm gương chiến đấu và đức hi sinh cao cả của các anh cả người đựơc lấy tên đặt cho dẫy phố và người chưa có đường phố mang tên:

Trần Phú đội than nghĩ về Luận cương của Đảng

Nguyễn Đức Cảnh ăn vắt cơm khô lập Công hội đỏ năm nào

Người thủy thủ nào ủ trong ngực mình báo Người cùng khổ

Ai đã treo lá cờ trên Sáu Kho chói ngời sắc đỏ

Tên tuổi các anh ư đâu thấy giữa sổ vang!

Đúng rồi biết bao đảng viên trung kiên ngã xuống đâu phải để đựơc ghi tên vào sổ sách mà vì lý tưởng của Đảng mục tiêu của Đảng là làm cho nước ta độc lập dân ta tự do đồng bào ai cũng có cơm an áo mặc ai cũng được học hành hay như các Nghị quyết Đại hội Đảng gần đây ghi rõ: vì dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh. Và đấy cũng là mơ ước hằng bao đời của ông cha ta thế nên dù trong hoàn cảnh nào thì người đảng viên của Đảng cũng phấn đấu làm hết sức mình vì lí tưởng của Đảng. Đức hi sinh cao đẹp ấy được nhà thơ Nguyễn Siêu Phàm khắc họa trong bài Ở huyện ủy đêm mưa qua hình ảnh người cán bộ giữa ngày mưa bão hết lòng lo phương tìm kế cứu úng cứu dân:

Mưa cứ rơi như dội nước triền miên

Đồng chí bí thư lòng như lửa đốt

Chiếc áo khoác nước mưa còn nhỏ giọt

Lại cùng người đi đến sáng đêm.

Còn đây lại là một đảng viên cụ thể đồng chí Nguyễn Văn Ngo còn gọi là Ba Ngọ quê xã Cộng Hiên Vĩnh Bảo được nhà thơ Xuân Đường viết khá gợi trong bài thơ lục bát Anh cả Đỏ với khổ kết nặng nghĩa tình:

Quê hương nghĩa nước tình đời

Mặt trời là Đảng mặt người là con

Người có tuổi đất có tên

Sông Chanh dào dạt mát lên luống cày

Vẫn dòng sữa mẹ nuôi cây

Nhớ anh Ba Ngọ nặng đầy tình quê.

Từ những hi sinh cao cả những phẩm chất ngời sáng người đảng viên như những viên gạch góp phần xây đắp nên sự vĩ đại lòng nhân ái bao dung trong suốt như pha lê của Đảng ta. Đấy là điều được nhà thơ Nguyễn Viết Lãm trong bài Ân tình có những câu thơ vừa gợi suy tưởng vừa mang tính khát quát cao:

Nghe trái đất biết ơn khí quyển

Cho trời xanh năm tháng cứ xanh thêm.

Đảng đẹp như lương tâm trong sáng tựa tâm hồn

Vô tận như cuộc đời hồn hậu như thiên nhiên.

Vì thế mỗi người Việt Nam yêu nước đều tìm thấy sự gần gũi gắn bó đồng chí đồng tình vững tin vào con đường Đảng vạch ra:

Tôi có Đảng Đảng vì tôi tỏa sáng

Tôi vì người trọn vẹn một niềm tin.

Dẫu đường đi còn nắng sớm mưa chiều như một tác giả viết nhưng một khi đã có Đảng dẫn đường có niềm tin vào con đường Đảng bác Hồ và nhân dân ta đã chọn thì:

Đường chúng ta đi dù nắng sớm mưa chiều

Ta vẫn giữ lòng chung thủy tin yêu

Tâm hồn chúng ta là của nhân dân của Đảng.

Bởi vì tin vào con đường Đảng đã vạch ra cũng chính là tin vào tiền đồ tương lại tươi sáng của quê hương đất nước tin vào trí tuệ của chính mình. Dù khó khăn đến mấy một khi đã có niềm tin và nghị lực thì không khó khăn nào cản ngăn như nhà thơ Nguyễn Viết Lãm trong bài Chân trời khẳng định: "Ta đã thấy kia rồi/ Chân mây hồng ánh dương soi/ Cờ Đảng vẫy ta đi/ Ai ngăn được lòng ta lên tới đích/ Hãy cầm lấy tay anh/ Chưa đến được chân trời ta chưa dừng bước nghỉ".

Thơ viết về Đảng của các nhà thơ Hải Phòng còn nhiều nhưng trong bài này người viết chỉ muốn điểm qua một số thơ như một sự ngẫu nhiên ngắt đóa hoa tươi kính dâng Đảng kính yêu nhân mừng Xuân dân tộc mừng Đảng quang vinh vào mùa xuân thứ 81 tràn đầy niềm tin hi vọng.

CAO NĂM

More...

Sáng tạo tinh thần cho điểm đến

By HOÀI KHÁNH

Sáng tạo tinh thần cho điểm đến

HOÀI KHÁNH: Liên hoan Thơ văn Hàn Quốc - ASEAN với chủ đề "Sáng tạo của nhà thơ châu Á tinh thần cho điểm đến" vừa được tổ chức thành công. Nhận lời mời của Ban tổ chức Liên hoan nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Mai Văn Phấn của Việt Nam đã đến Hàn Quốc tham dự Festival này từ ngày 2 đến 7-12-2010. 2 nhà thơ đã đọc thơ tham luận và giao lưu với bạn đọc xứ sở Kim Chi tại 3 thành phố Seoul Ansan và Sokcho của Hàn Quốc. Blog Hoài Khánh xin chúc mừng chuyến đi giao lưu văn học tại Hàn Quốc của 2 nhà thơ và xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Mai Văn Phấn cho tạp chí Thi Bình (Poem and Comment Magazine) một tập chí hàng đầu về thơ ở Hàn Quốc: Bài do Ko Hyeong Ryeol - Tổng biên tập tạp chí Thi Bình - thực hiện.

Ko Hyeong Ryeol: Chào nhà thơ Mai Văn Phấn. Trước hết xin thay mặt Ban tổ chức cảm ơn ông và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận lời tham dự Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc - ASEAN. Sau khi đọc kỹ các tác phẩm của ông tôi có vài điều muốn hỏi liên quan tới tinh thần chủ đạo của Festival "Sáng tạo của nhà thơ châu Á tinh thần cho điểm đến". Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ về ông hơn trước khi ông đến Hàn Quốc. Câu hỏi nhân loại trong đó có các nhà thơ đang đi về đâu? Nhà thơ anh là ai trong thế giới đương đại này là chủ đề tất cả chúng ta đang quan tâm. Vậy xin ông cho biết quan niệm riêng của ông về thơ ca?

Mai Văn Phấn: Các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất. Từ khi hình thành ngôn ngữ tiếng nói loài người luôn bị biến dạng vừa đào sâu vào bản chất sự vật... vừa làm chúng méo mó dị hình trong vỏ bọc ngôn ngữ. Vậy phải chăng thơ ca ngoài mục đích tải đạo tuyên truyền mô phỏng diễn tả... nó còn tìm cách đặt tên lại sự vật định hình lại thế giới. Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn phức tạp của con người. Một bình minh vừa rạng con sâu trong nách lá hay tiếng thở dài của một thiếu phụ... tất cả hiện lên trong thơ ca luôn tươi non mới mẻ như vừa được thấy lần đầu. Cùng một hiện tượng sự vật đời sống nhưng chúng hoàn toàn khác nhau trong cách nhìn mỗi nhà thơ. Có bao nhiêu nhà thơ là bấy nhiêu con đường đến với thi ca. Tầm vóc nhà thơ càng lớn dung chứa không gian thi ca càng rộng càng riêng biệt cũng như ảnh hưởng áp lực lên cộng đồng càng mạnh. Nó như bóng cây lớn có thể làm râm mát thảo mộc ở gần. Nhà thơ là người được chọn (tạm gọi Thượng đế chọn) được "ơn gọi" trong tinh thần của Jesus Christ gặp được "nhân duyên" trong Phật giáo. Là người được may mắn nhìn thấy một thế giới khác mang hình hài nó nhưng không phải nó. Gọi tên vẻ đẹp cụ thể nhưng khó nắm bất ấy chính là lý tưởng thi ca mà nhà thơ vươn tới. Vẻ đẹp này không phải lúc nào cũng hiển hiện truớc mắt nhà thơ mà xuất hiện như một "cơ duyên" hoặc đột khởi trong những biến động tinh thần con người. Thường được ra đời trong những cơn dư chấn nên nhiều người đã lầm tưởng thơ ca chính là lòng phẫn nộ nỗi tuyệt vọng hay sự quá khích của hưng phấn. Tất cả đều nhầm lẫn và ngộ nhận. Mọi trạng thái tình cảm con người như mừng giận yêu ghét buồn vui muốn... đều là cái cớ cho thi ca chứ hoàn toàn không phải mục đích. Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường để trong không gian đặc biệt ấy tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lại hoặc tìm về với quá khứ hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt.

Ko Hyeong Ryeol: Trong tham luận gửi tới Ban tổ chức Festival ông có nêu khái niệm "sáng tạo là phủ định bản ngã một cuộc vong thân". Vậy xin ông nói rõ hơn về tính phủ định trong nghệ thuật thi ca?

Mai Văn Phấn: Sáng tạo của nhà thơ hoàn toàn khác với sáng tạo của một nghệ nhân hay người thợ thủ công. Bài thơ vừa viết tôi quan niệm không thuộc về tôi nữa mà thuộc về người khác về đám đông. Với bài thơ này nhà thơ đã hoàn thành sứ mệnh xin hãy coi như anh ta đã chết. Nhà thơ muốn tiếp tục tồn tại phải được tái sinh trong một bài thơ khác đang chờ đợi phía chân trời. Đó là cuộc lột xác khác thêm một lần lên đường một cú nhảy vượt thoát... Muốn thực hiện được hành trình tiếp theo nhà thơ phải nhìn thấy lý tưởng thi ca tức ánh sáng vừa mơ hồ vừa minh bạch đang soi rọi phía trước. Và nhà thơ tư duy và cảm xúc bằng ánh sáng đặc biệt đó. Do vậy những hình ảnh tưởng chừng quá quen thuộc từ bóng mây bước chân trảng cỏ... đến những đồ vật vẫn dùng như bàn ghế bát đũa sách vở... khi tái hiện trong thơ ca nó được mang một tinh thần khác tạo nên một thế giới khác.

Ko Hyeong Ryeol: Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Poetry Kit của Anh Quốc quốc ông có nói: "Bằng những quan niệm tiên tiến đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống". Ông đồng thời cũng nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vậy ông đã tìm được nội dung và hình thức mới cho mình chưa?

Mai Văn Phấn: Đổi mới thi pháp không phải như thay đổi mẫu mốt hay thay bình cho rượu mà chính là "cuộc cách mạng" giữa nội dung và hình thức. Trong thi ca hiện thực đời sống đ­ược viết đi viết lại nhiều lần như­ng vẫn giữ nguyên nội dung thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức đ­ược xác định và hình thức không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình thức được chuyển hoá thành nội dung đó mới là đổi mới thực sự. Nội dung mới trong thơ tôi là những quan tâm mang tính thời đại và thời sự như lý tưởng sống của thế hệ trẻ vấn đề ý thức hệ quan niệm về tự do công bằng dân chủ... Tôi đau đáu và trăn trở về đời sống khổ cực của những người dân nghèo đói khao khát cho dân tộc tôi không thua kém bất kỳ dân tộc nào. Nội dung ấy phải được dung chứa trong hình thức mới của thi ca. Hình thức mới ấy nằm trong nhịp điệu tiết tấu nhanh trong chuyển động tốc độ của đời sống hiện đại. Cách diễn đạt dứt khoát tối giản liên kết rời và xa nhau tạo cho thơ một hơi thở mới người phương Đông chúng ta quen gọi là "Khí". Theo tôi "Khí" làm nên cốt cách thi sỹ và phân biệt được các thế hệ thi ca.

Ko Hyeong Ryeol: Ông từng nói "Rất nhiều những bóng dáng đang loay hoay nằm ì trong bản năng với vẻ mặt coi thường học vấn". Vậy xin hãy giải thích thêm về  "học vấn"?

Mai Văn Phấn: Quan niệm học vấn đối với một nhà thơ không đơn giản như phải có học hàm học vị. Nhà thơ phải tự trang bị cho mình  kiến thức tổng hợp ở mọi lĩnh vực. Nhà thơ theo tôi phải là nhà văn hoá. Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên và tới một hoàn cảnh "hữu duyên" nào đó nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca. Lúc ấy tứ bài thơ vụt đến bất ngờ tưởng như "của nhặt được" nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó đã lâu. Một bóng cây lạ ngôi nhà lá đơn sơ một gương mặt... Tất cả tưởng như vô tình thoáng qua nhưng vào một thời khắc đặc biệt nó sẽ hiển hiện trong không gian thơ thật riêng biệt và lộng lẫy.

Ko Hyeong Ryeol: Câu thơ "The silent lamp shines even brighter" (Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ) trong bài thơ Tắm đầu năm theo tôi dường như tiêu biểu cho phong cách thơ Mai Văn Phấn. Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc "giao tranh" giữa văn xuôi theo lối "tư bản" và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Ông có nghĩ rằng sự súc tích trong những bài thơ của ông ở một mức độ nào đó phù hợp với thi ca hiện đại?

Mai Văn Phấn: Về bài thơ Tắm đầu năm của tôi nhà văn Bão Vũ đã viết: là sự tắm ánh sáng trong nỗi cô đơn chơ vơ vào một đêm đầu năm chống chếnh. Ánh đèn xối vào những góc khuất của tâm hồn làm sạch những ngóc ngách. Sự vệ sinh tâm hồn vào đêm đầu năm là sự thanh toán với quá khứ xám ngắt một sự sám hối.  Cái ánh sáng ấy cũng bồng bềnh hoài thai sắp sinh nở những điều rực rỡ mà ta đang kỳ vọng... Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ. Trong hoàn cảnh này tôi gọi một ai đó một người bất kỳ cũng không một tiếng vang không một sự  hưởng  ứng nỗi cô đơn tột cùng. Ở đây chẳng có gì ngoài vừng sáng trong sạch và cao quý. Đúng như ông nói: Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc "giao tranh" giữa văn xuôi theo lối "tư bản" và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Khuynh hướng cách tân của tôi là xoá nhoà ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Tôi đã từng thử nghiệm thành công viết nhiều bài có hình thức văn xuôi nhưng quyến rũ bạn đọc vào một không gian thơ rộng lớn và thậm phồn. Thơ hiện đại ít chú trọng vào nhịp điệu tu từ đặc biệt tránh dùng mỹ từ. Nhưng những câu văn xúc tích giản dị được đặt trong một "từ trường thơ" có sức mạnh thôi miên gấp nhiều lần những câu mang nhịp điệu quen thuộc. Những bài thơ của tôi viết theo cách này lúc đầu bị bạn đọc phản đối quyết liệt bởi họ đã quá quen với quan niệm truyền thống. Nhưng thời gian qua đi những giá trị thi ca đích thực vẫn còn đó. Những giá trị thi ca mới mẻ thậm chí xa lạ hôm nay sẽ dần chinh phục được bạn đọc và nó sẽ trầm tích thành "truyền thống". Tôi rất biết sở thích của số đông bạn đọc nhưng không bao giờ có chủ ý làm thơ để "ve vuốt" sở thích đó. Thơ tôi là ngôi nhà của riêng tôi truớc hết ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghi thức nhất định.

Ko Hyeong Ryeol: Cảm ơn ông!

KO HYEONG RYEOL (Hàn Quốc) thực hiện

More...

Những thách thức với người viết cho thiếu nhi hiện nay

By HOÀI KHÁNH

Những thách thức với người viết cho thiếu nhi hiện nay

Nước ta hiện nay số dân đã gần 86 triệu người. Với sự phát triển của hệ thống giáo dục khắp toàn quốc đến tận vùng sâu vùng xa tổng số học sinh phổ thông theo con số của Tổng cục Thống kê là trên 15 triệu trong đó gần 7 triệu học sinh tiểu học trên 5 5 triệu học sinh trung học cơ sở và gần 3 triệu học sinh trung học phổ thông.

Trong khi đất nước đạt rất nhiều thành tích về phát triển và hội nhập thế giới hàng năm nền kinh tế luôn luôn tăng trưởng thì số lượng các nhà văn viết cho thiếu nhi ở nước ta càng ngày càng sụp giảm. Cho đến thời điểm năm 2010 này số lượng các nhà văn viết cho thiếu nhi còn đủ sức khỏe sáng tác và có tác phẩm mới công bố chắc chỉ còn ở hai chữ số .

Phải chăng hiện nay người viết cho thiếu nhi đang đứng trước nhiều thách thức lớn?

Trước hết chúng ta đều thấy rõ sáng tạo của các nhà văn được công bố và phổ biến trong xã hội chủ yếu là nhờ việc xuất bản Sách. Bạn đọc thanh thiếu nhi và cả nhi đồng và mẫu giáo đều rất ham đọc sách. Có lẽ trong đời người thời gian tuổi thơ tuổi đi học chính là thời gian đọc sách nhiều nhất. Ở tuổi thơ dường như ta đọc sách cho cả quãng đời bận rộn về sau . Hồi kí tự truyện của tất cả các nhà văn hoá lớn Việt Nam và thế giới đều nói về một tuổi thơ say mê đọc sách.

Nhưng từ hơn hai mười năm qua sách đã bị các hình thức truyền thông ( còn được gọi là văn hóa nghe nhìn) từ ti vi video đến internet và trò chơi điện tử trực tuyến (game online) càng ngày càng lấn lướt vào thời gian quý giá của tuổi thơ.

Việc dạy và học ở nhà trường với các hình thức dạy thêm luyện thi cùng áp lực điểm số thi cử cũng đã lấy đi của tuổi thơ rất nhiều thời gian vàng bạc nữa . Thời gian đọc sách của trẻ em càng ngày càng bị co hẹp lại. Đó là thách thức đầu tiên của các nhà văn.

 Từ khi đất nước đổi mới các nhà xuất bản đã chuyển đổi hoạt động theo sự vận hành của cơ chế thị trường do đó "văn hóa đọc" của trẻ em đã đón nhận một "phát minh thời đại" đó là "truyện tranh hiện đại khôi hài và liên hoàn" (quốc tế gọi là comic hoặc manga) được dịch và du nhập từ nước ngoài. Là thành tựu văn hóa trẻ em của thế giới nhiều bộ truyện tranh có ích đã trở thành người bạn thân thiết của trẻ em Việt Nam. Có thể nói rằng đó là một thành công lớn của ngành xuất bản nhưng lại lại một thách thức lớn với các nhà văn đặc biệt là nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam.

 Với tinh thần trách nhiệm với thế hệ trẻ không đặt lợi nhuận lên trên hết các nhà xuất bản trong đó có nhà xuất bản Kim Đồng đã duy trì định hướng thẩm mỹ cho bạn đọc thanh thiếu niên với những Tủ Sách Vàng Tủ sách Thơ với tuổi thơ... Những cố gắng duy trì tình yêu văn học bằng cách tái bản liên tục các tác phẩm cổ điển cũng đã lưu giữ bạn đọc trẻ với những giá trị thẩm mỹ có ý nghĩa bồi dưỡng nhân cách. Nhưng việc ấy lại tạo ra một sức ỳ trong sáng tạo các tác phẩm mới đó là một thách thức không nhỏ với những nhà văn đặc biệt là với người viết trẻ lần đầu tiến cầm bút hoặc với những người viết chưa có may mắn thành công ngay từ cuốn sách đầu tay.

Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI cùng với sự phát triển hội nhập sâu của đất nước với thế giới hàng loạt các công ty sách mới ra đời cùng với sự xuất hiện của các dịch giả trẻ tuổi sách thiếu nhi thế giới đủ các phong cách khác nhau được dịch và tuyên tuyền quảnh bá rầm rộ ở nước ta. Chưa bao giờ trẻ em nước ta ( và cả bạn đọc lớn tuổi trong đó có tôi) được thụ hưởng những cuốn sách như những món đồ chơi những loại bánh kẹo cao cấp mầu sắc rực rỡ... trước đây chưa bao giờ được nếm thử thế mà nay được mời chào tràn ngập và ê hề khắp nơi . Vâng thực tế đó chính là thách thức lớn nhất hiện nay với các nhà văn Việt Nam.

Lòng khao khát viết cho thiếu nhi vẫn là lòng khao khát muốn hướng con trẻ đến vẻ đẹp của cái tâm hướng thiện . Nhưng ngay cả với trẻ em bây giờ các em cũng đã phải đổi mặt với thói "Đạo đức giả" và thói "vô trách nhiệm"( hai đề văn thi đại học vừa qua). Hành xử bạo lực đã nhiễm cả vào trò chơi con trẻ. Và hơn nữa con trẻ phải đối mặt với bạo lực và sự xâm hại. Tất cả những điều mắt thấy tai nghe ấy là những nỗi đau nhức nhối tâm can khiến người viết cho thiếu nhi phải lựa chọn khuynh hướng thẩm mỹ khi cầm bút. Nhà văn Trần Hoài Dương trong dịp Hội sách thiếu nhi Hè 2009 tại thành phố Hồ Chí Minh vừa qua đã từng phát biểu "Bảo tôi viết về chơi game chắc là tôi chịu chết!"

Trình bày những thách thức trên không có nghĩa là các nhà văn viết cho thiếu nhi Việt Nam đã hoàn toàn "chịu chết!". Sách của anh Trần Hoài Dương vẫn được trẻ em đón nhận hàng nghìn bản. Anh Nguyễn Nhật Ánh vẫn làm sôi động các Hội chợ sách TP Hồ Chí Minh. Các anh Trần Quốc Toàn Cao Xuân Sơn và nhiều anh chị em trẻ như Nguyễn Ngọc Thuần Phan Hồn Nhiên... rồi cả những người "không có tuổi" như cụ Tô Hoài anh Trần Đức Tiến anh Bùi Chí Vinh chị Quế Hương chị Nguyễn Thị Bích Nga...(trong đó có cả tôi) liên tục trong các năm 2008 2009 2010 đều có sách mới .

Mỗi người một cách đều đã nuôi dưỡng trong mình một tâm hồn trẻ thơ để đến với trẻ thơ. Nhà văn Erich Kaestner một nhà văn Đức viết theo tư tưởng hòa bình ông nổi tiếng viết cho thiếu nhi và từng đạt giải thưởng Hans Christian Andersen đã nói : " Chỉ những người trưởng thành mà vẫn giữ được tâm hồn trẻ thơ kẻ đó mới thật là một con người. "Tôi thiết nghĩ đấy là cách nói của nhà văn muốn cảnh báo sự vẩn đục của tâm hồn sự tha hóa của nhân cách thói gian trá trong hành xử...Những điều ấy đối lập với tư duy trong sáng và tình cảm chân thành nguyên vẹn của tuổi thơ.

Những cuốn sách văn học ( cả tác phẩm cổ điển và tác phẩm mới sáng tác)những mong đem đến cho trẻ em những cảm xúc tươi đẹp hiện nay đang đứng trước con số phát hành phổ biến là: một hai nghìn bản. Thật là "muối bỏ biển" so với số lượng trên 15 triệu học sinh cả nước.

Ở đây chúng tôi muốn bàn đến vai trò điều tiết của nhà nước và pháp luật gia đình nhà trường và các tổ chức xã hội.

Thời gian qua cứ sắp đến ngày Tết thiếu nhi (1-6) hay Tết Trung thu với tư cách là một nhà văn viết cho thiếu nhi tôi thường bị các nhà báo "bao vây" chất vấn về Văn học thiếu nhi :Tại sao sách thiếu nhi Việt Nam lại thiếu lại yếu thế? Tại sao sách ngoại át sách nội ...v. . v

Trong một cuộc họp Văn học thiếu nhi năm 2008 nhà văn Tô Hoài đã nói : "Nếu giải thưởng văn học thiếu nhi là 1 tỷ thì tôi cho rằng tình hình văn học thiếu nhi sẽ khác" (Câu nói này đã được nhiều phong viên báo chí nhắc lại trên các phương tiện truyền thông). Nhà văn Võ Quảng trong một bài viết để lại cho thế hệ sau có nói đại ý : "Phải có một cơ quan lo cho thiếu nhi (đặc biệt là về văn học) phải to ngang với một Bộ!". Tôi thiết nghĩ rằng trước hết đây là cách nói hóm hỉnh của các nhà văn. Các ông đã dùng cách nói ấy để thể hiện tâm huyết của các nhà văn lớn lo lắng cho tương lai văn họcViệt Nam. Và hơn nữa đấy cũng là nhu cầu hội nhập quốc tế của văn học thiếu nhi Việt Nam.

Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin nhà văn chúng ta có thể tự tìm hiểu tình hình văn học thiếu nhi trên thế giới. Chúng ta được biết có tổ chức Ủy ban quốc tế sách cho thanh thiếu nhi (International Board on book for young people - IBBY) được thành lập từ năm 1953.  Tổ chức này cứ hai năm một lần trao giải thưởng văn học thiếu nhi Hans Christian Andersen cho tác giả thiếu nhi xuất sắc nhất.  Giải thưởng này được coi như giải Nobel của văn học thiếu nhi. Một trong những người sáng lập ra tổ chức quốc tế về văn học thiếu nhi này chính là nữ văn sĩ Thụy Điển Astrid Lindgren. Sau khi bà mất năm 2002 một giải thưởng văn học thiếu nhi mang tên bà cũng đã ra đời (được thành lập bởi IBBY - Thụy Điển). Tổ chức này cũng sáng lập ra giải thưởng Peter Pan bắt đầu từ năm 2000 hàng năm trao giải cho tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc nước ngoài dịch sang tiếng Thụy Điển. Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần của chúng ta đã vinh dự đạt giải thưởng này ( năm 2008)...

Nêu những thông tin trên tôi mong muốn chúng ta thấy rằng ở các nước càng phát triển Văn học thiếu nhi càng được chú ý thông qua việc tôn vinh các nhà văn viết cho thiếu nhi bằng các giải thưởng thích đáng.

Đối với các nhà văn viết cho thiếu nhi sự khích lệ bằng giải thưởng là cần thiết nhưng không có hạnh phúc nào bằng việc nhìn thấy trẻ em say mê cuốn sách của mình. Trong tình hình hiện nay tôi xin đề nghị trong chưong trình nhà trường có thêm môn học "Tự đọc sách" hướng dẫn trẻ em đọc sách từ lớp một để hy vọng hưóng các em học sinh tìm chọn sách hay để đọc. Tôi được biết hiện nay ngành giáo dục đang rất quan tâm và đang có hướng giải quyết vấn đề văn hóa đọc với thanh thiếu nhi.

Trong thời gian qua các nhà văn viết cho thiếu nhi cũng đã nhận được sự quan tâm của Hội Nhà văn Việt Nam với nhiều hoạt động nổi bật hơn cả là Trại sáng tác dành cho các tác giả chuyên viết cho thiếu nhi được tổ chức tại Quảng Bá ( Hà Nội ) tháng5/2008 tạo điều kiện cho 22 nhà văn từ mọi miền đất nước đến gặp gỡ trao đổi và sáng tác . Từ năm 2009 Trung ưong Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã khởi động chưong trình phối hợp với Hội Nhà văn để tổ chức Trại sáng tác dành cho lứa tuổi thiếu nhi và tổ chức biểu dương các nhà văn viết cho thiếu nhi hàng năm. Dự án Hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch do Nhà xuất bản Kim Đồng Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch thực hiện với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Đan Mạch đã được tiến hành từ 2006-2010 . Thông qua các cuộc thi các cuộc tập huấn các "Chuyến tầu kể chuyện" phong trào sáng tác cho thiếu nhi đã được khích lệ. Nhà xuất bản Kim Đồng Nhà xuất bản Trẻ đã đỡ đầu nhiều tập sách có giá trị gây sôi động phong trào đọc sách trong thanh thiếu nhi và đạt các giải thưởng cao trong nước và quốc tế. Hội xuất bản Việt Nam cũng dành giải thưỏng Sách Hay Sách Đẹp cho sách thiếu nhi hàng năm.

Tôi tin rằng Đại hội Nhà văn Việt nam lần thứ VIII sẽ tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức với sự phát triển văn học nước nhà. Sau Đại hội văn học dành cho thiếu nhi sẽ được nhà nước và toàn xã hội quan tâm hơn nữa. Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá tới sẽ có những biện pháp cụ thể hiệu quả để văn học thiếu nhi có một bước ngoặt mới đày triển vọng trong tương lai.

LÊ PHƯƠNG LIÊN

More...

Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng nhiều thách thức

By HOÀI KHÁNH

Văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng nhiều thách thức

Xưa nay văn học thiếu nhi luôn là mảnh đất đầy tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức. Sở dĩ như vậy là vì văn học thiếu nhi tuy có đề tài phong phú hấp dẫn nhưng lại khó viết khó hay và khó tìm độc giả. Vì cuộc sống là một dòng chảy không ngừng nên theo thời gian độc giả của văn học thiếu nhi cũng đòi hỏi các tác giả phải đổi mới cách nhìn cách viết cho phù hợp với thời đại mới.

Các bạn nhỏ ngày nay vừa "già" hơn trong suy nghĩ và hành động lại tỏ ra "non" hơn trong cảm xúc so với các thế hệ trước.Vậy nên viết cái gì viết như thế nào cho lứa tuổi măng non cùng việc tìm ra một đường hướng phát triển cho văn học thiếu nhi là những vấn đề đang được đặt ra cho người sáng tác và tất cả những ai quan tâm đến mảng văn học này.

Mảnh đất đầy tiềm năng

Nhiều độc giả hẳn còn nhớ những năm 80 90 của thế kỉ trước trong mạch nguồn đổi mới văn học mở ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI văn học thiếu nhi thời kì này xuất hiện nhiều tác giả tác phẩm như Nguyễn Quang Sáng với Dòng sông thơ ấu Phùng Quán với Tuổi thơ dữ dội Duy Khán với Tuổi thơ im lặng Ma Văn Kháng với Côi cút giữa cảnh đời Sơn Tùng với Búp sen xanh... Có thể nói rằng các tác phẩm ấy cho đến nay vẫn còn đầy sức sống và khả năng chinh phục người đọc. Những năm giao nối giữa hai thế kỉ khi thế hệ trẻ Việt Nam bắt đầu làm quen và say mê với internet với game online thì cũng là lúc một loạt các tác phẩm văn học thiếu nhi xuất sắc được Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản như Dế mèn phiêu lưu kí (Tô Hoài) Góc sân và khoảng trời (Trần Đăng Khoa) Đất rừng phương nam (Đoàn Giỏi) Quê nội (Võ Quảng) Bầu trời trong quả trứng (Xuân Quỳnh)... Những tác phẩm này được tôn vinh trong "Tủ sách vàng" dành cho thiếu nhi của Việt Nam được dịch ra nhiều thứ tiếng và được thiếu nhi ở nhiều nước đón nhận nồng nhiệt. Dế Mèn và Dế Trũi trong Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài đã trở thành các nhân vật kịch mà trẻ em Nga rất thích nếu được vào vai trên sân khấu. Nhân vật Cục và Cù Lao trong Quê nội của Võ Quảng được độc giả nhí nhiều nước hâm mộ không kém gì Huckle Berry Finn trong Những cuộc phiêu lưu của Huckle Berry Finn và Tom Sawyer trong Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer do Mark Twain viết. Những vần thơ của Trần Đăng Khoa cũng được nhiều bạn nhỏ Cuba thuộc nằm lòng... Nhà xuất bản Kim Đồng thời gian này đã đầu tư cho nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thực hiện bộ sách Kính Vạn hoa - bộ sách sinh hoạt thiếu nhi dài kì đầu tiên ở Việt Nam với 45 tập (được phát hành từ 1996 và kết thúc ở 2002). Như vậy việc tìm về và trân trọng các giá trị văn học thiếu nhi trong quá khứ đã góp phần định hướng thẩm mĩ cho bạn đọc nhỏ tuổi khi văn hoá đọc đang có nhiều thay đổi.

Bên cạnh đó các cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi đã được hai nhà xuất bản ở hai miền Bắc - Nam tổ chức rầm rộ. Qua các cuộc vận động của Nhà xuất bản Kim Đồng hàng loạt tác phẩm được giải như Đợi mặt trời của Phạm Ngọc Tiến Bỏ trốn của Phan Thị Thanh Nhàn Bí mật hồ cá thần của Nguyễn Quang Thiều Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân Khúc đồng dao lấm láp của Kao Sơn... đã ghi nhận sự cố gắng của nhiều tác giả. Cây bút Nguyễn Ngọc Thuần xuất hiện với tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ trong cuộc vận động "Văn học thiếu nhi - Vì tương lai đất nước" của Nhà xuất bản Trẻ sau đó là tác phẩm Một thiên nằm mộng được giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá cao phong cách mới trẻ trung trong văn học thiếu nhi của tác giả này. Viết cho thiếu nhi còn phải kể đến các nhà văn tâm huyết như Trần Quốc Toàn Cao Xuân Sơn Lê Phương Liên cùng một đội ngũ khá đông các cây bút văn thơ khác liên tục có sách xuất bản cho thiếu nhi như Phan Hồn Nhiên Nguyên Hương Hồ Việt Khuê Lê Hồng Thiện Hoài Khánh Phạm Đình Ân... Những năm gần đây với sự ra đi của các cây đại thụ như Võ Quảng Phạm Hổ cùng tình trạng tuổi cao sức yếu của một thế hệ nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi như Định Hải Vũ Tú Nam Nguyễn Kiên Phong Thu Thy Ngọc Nguyễn Ngọc Kí... yêu cầu tiếp nối nguồn mạch cho văn học thiếu nhi trở nên cấp bách.

Gần đây Nguyễn Nhật Ánh đã làm sôi động diễn đàn văn học thiếu nhi với các tác phẩm Kính vạn hoa Chuyện tình xứ Lang Biang Tôi là Bêtô Cho tôi một vé đi tuổi thơ... tạo nên một "làn sóng đọc sách" trong các em nhỏ. Góp phần khởi sắc cho mảng văn học này thể hiện qua các cuốn sách thường xuyên xuất hiện trên thị trường còn có Hồ Phương với Cha và con Lý Lan với Bí mật giữa tôi và thằn lằn đen Lưu Thị Lương với Con cá mày ở trong nhà Trần Thị Hồng Hạnh với Chuyện của nhóc Bill Trần Hoài Dương với Nàng công chúa biển Lê Phương Liên với Cuộc phiêu lưu của chú Rối Tễu Nguyễn Đình Chính với Ngàn dặm xa Đoàn Thạch Biền với một loạt tác phẩm Những ngày tươi đẹp Tôi thương mà em đâu có hay Tôi hay mà em đâu có thương Tình nhỏ làm sao quên Mùa hè khắc nghiệt Phượng yêu... "Tủ sách Tuổi mới lớn" với một số cây bút trẻ như Nguyễn Thuý Loan Nguyễn Thị Yến Linh Nguyễn Thiên Ngân cùng các cây bút miền núi tham gia viết cho thiếu nhi như Nguyên Bình Đoàn Hữu Nam Đoàn Lư... cũng ít nhiều mở ra một triển vọng mới.

... và nhiều thách thức

Trên thế giới đã và đang xuất hiện không ít tác phẩm hay viết cho thiếu nhi và tuổi mới lớn như Bao Công xử án Phong thần diễn nghĩa bộ Tôn Ngộ Không (mô phỏng theo các truyện cổ Trung Quốc) và sau này là Đôrêmon Harry Potter... Những truyện tranh này đã làm sôi động không khí đọc sách của trẻ em nhiều nước. Bạn đọc nhỏ tuổi ở nước ta một thời cũng đã từng say sưa với tủ sách thiếu nhi của nền văn học Nga (nhất là những cuốn sách in rất đẹp do Nhà xuất bản Cầu vồng Moskva ấn hành) như Chuyện phiêu lưu của Mít Đặc và các bạn (Nikolai Nosov) Ở xứ cỏ rậm (Vladimir Bragin) Chiếc chìa khóa vàng hay chuyện li kì của Buratino (Aleksey Tolstoy) Thời thơ ấu (Maxim Gorki) Timua và đồng đội (Gaida)... và các tác phẩm văn học thiếu nhi đặc sắc của nhiều nước khác như truyện cổ Grim truyện cổ Andersen Không gia đình (Hector Malot)... Ở Việt Nam điểm qua những tờ báo hiện nay có khoảng 600 - 700 ấn phẩm báo và tạp chí nhưng chỉ có rất ít tờ dành cho lứa tuổi măng non. Dường như mọi người nghĩ rằng chỉ cần một số tờ Hoạ mi Nhi đồng Thiếu niên tiền phong Hoa học trò Khăn quàng đỏ Mực tím Áo trắng Văn học và Tuổi trẻ... là đủ đem lại những thông tin về học đường và thể hiệnđủ đời sống tinh thần phong phú của các em. Thực ra nhu cầu được đọc được học được tìm hiểu các kiến thức khoa học và đời sống từ phía các em là rất lớn. Và dù vẫn có những tác phẩm viết cho thiếu nhi như đã nêu trên nhưng số lượng chưa nhiều và chất lượng chưa đáp ứng được đòi hỏi của đông đảo bạn đọc nhỏ tuổi. Có thể nói rằng thời gian gần đây ở nước ta văn học thiếu nhi ít được nhìn nhận một cách bình đẳng so với nhiều mảng văn học khác.

Không ít người sáng tác có suy nghĩ kì cục là viết cho thiếu nhi hay mấy cũng chỉ là nhà văn... trẻ con. So với các giai đoạn trước hiện nay số nhà văn chuyên tâm cho văn học thiếu nhi trở nên thưa thớt. Một số cây bút trẻ viết được vài tác phẩm cho thiếu nhi nhanh chóng chuyển sang viết cho người lớn. Điểm lại các giải thưởng vài năm trước chỉ mới có tác phẩm Miền xanh thẳm của Trần Hoài Dương và Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam về văn học thiếu nhi và bộ Kính vạn hoa của Nguyễn Nhật Ánh được tặng thưởng. Từ năm 2006 trở lại đây không có tác phẩm văn học thiếu nhi nào được giải của Hội Nhà văn. Đó là điều đáng để chúng ta suy nghĩ.

Có thể nói sách cho thiếu nhi đọc ở Việt Nam hiện nay "thừa" nhưng vẫn "thiếu". "Thừa" bởi sự xuất bản tràn lan truyện tranh nước ngoài trong đó không ít cuốn mang tính bạo lực kích động song lại thiếu các tác phẩm văn học hay mang tính giáo dục và mang bản sắc văn hóa Việt Nam. Có lẽ chưa bao giờ bạn đọc nhỏ tuổi được tiếp cận với văn học thiếu nhi thế giới kịp thời như bây giờ trong khi trên các quầy sách ít thấy tác phẩm hay nào của văn học thiếu nhi trong nước. Trẻ em hiện nay lại thích đọc truyện tranh hơn truyện chữ và hầu như không đọc thơ... Văn hóa nghe nhìn lấn át văn hóa đọc các sản phẩm thời thượng lấn át các giá trị đích thực - đó là một thực tế tất yếu trong sự vận động phát triển của xã hội nhưng phải chăng vì thế mà chúng ta quay lưng lại với văn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng?

Viết cái gì và viết như thế nào cho thiếu nhi?

Đây là câu hỏi không dễ trả lời đối với những người cầm bút. Theo nhà văn Trần Đức Tiến (người đạt giải Nhất cuộc vận động sáng tác văn học cho thiếu nhi với chủ đề "Bước qua hai thế giới" do Nhà xuất bản Kim Đồng Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Đan Mạch phối hợp tổ chức gần đây) văn viết cho thiếu nhi của ta còn nghiêm trang quá lên mặt "đạo đức" quá trong khi phẩm chất đầu tiên của nó phải là hồn nhiên tự nhiên gần gũi với đời sống các em. Hai là văn học thiếu nhi còn thiếu sự hài hước và trí tưởng tượng. Hài hước giúp các em duy trì được trạng thái hưng phấn đọc mãi không chán; tưởng tượng dẫn dắt các em đến những vùng đất lạ chân trời lạ như đi du lịch. Ba là tốc độ còn chậm - mạch văn sự biến hóa của câu chữ và diễn biến của những tình tiết đều chậm - trong khi nhanh mới tạo ra sự cuốn hút. Trẻ em không thích rề rà chỉ chậm một chút là sự chú ý của chúng bị ngắt quãng. Bởi vậy khi viết cho thiếu nhi người viết cần tránh những nhược điểm này.

Viết cho thiếu nhi là lựa chọn không đơn giản. Trẻ em khác người lớn nhận thức chưa chín kinh nghiệm sống chưa có tâm hồn mỏng manh trong sáng như cây non. Làm sao viết để các em đọc thấy đúng là mình gần gũi với cuộc sống và suy nghĩ tâm lí xúc cảm của mình không lên gân xơ cứng... - đó là thử thách đối với người sáng tác. Ở một số tác phẩm viết cho thiếu nhi quả thực có tình trạng áp đặt suy nghĩ của người lớn. Có truyện mang tính dạy dỗ như những bài học đạo đức công dân. Đã đến lúc người viết cho thiếu nhi phải đổi mới cách viết và cách nhìn - mỗi một tác phẩm phải là tiếng nói gần gũi với các em phải là sự cộng hưởng những tâm tư tình cảm của các em và mang không khí nhịp điệu của cuộc sống hiện đại chứ không thể áp đặt cái hay của một thời vào mọi thời. Nói cách khác người viết phải thực sự hiểu các em và thời đại các em đang sống. Nhà văn lão thành Thy Ngọc từng cho rằng: "Viết cho thiếu nhi trước hết phải có tính giáo dục song lại phải giản dị mà vẫn hấp dẫn. Ngay cả đến giờ càng viết tôi càng thấy khó. Bởi hấp dẫn không phải là cầu kì mới lạ mà là cách đặt vấn đề như thế nào. Nhưng trên hết mình phải hết lòng với các em thì mới viết được. Phải chăng vì vậy mà những cây viết trẻ hiện nay hình như không mấy tâm huyết với đề tài thiếu nhi?".

Giải pháp nào để văn học thiếu nhi phát triển?

Sáng tạo cho thiếu nhi hôm nay cần một sự nỗ lực đổi mới hết mình. Những người cầm bút viết cho lứa tuổi này cần phải làm sao sáng về nhận thức và trong về nghệ thuật như cách nói của nhà văn Lê Phương Liên Trưởng ban Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam. Đi tìm một giải pháp cho sự phát triển của văn học thiếu nhi là điều khó khăn nhưng cũng vì thế mà cần những suy nghĩ tìm tòi.

Trước hết cần khơi dậy văn hoá đọc. Việc cho trẻ em tiếp cận các tác phẩm văn học thiếu nhi ưu tú từ nhỏ là một biện pháp hết sức quan trọng góp phần định hướng nhân cách và phát triển tâm hồn trí tưởng tượng của trẻ. Trong thời đại ngày nay làm sao để các em say mê những trang sách hơn trò chơi game trên máy tính yêu thích truyện chữ hơn truyện tranh đó là việc không dễ dàng và cần có sự quan tâm sâu sát của gia đình nhà trường và toàn xã hội. Ở nhiều trường hợp các bậc phụ huynh cũng không nên "cắt giảm" thú vui được nghe bố mẹ đọc sách trước khi đi ngủ của con em mình. Bên cạnh đó các hoạt động tuyên truyền cho văn học thiếu nhi cần được đẩy mạnh. Các cơ quan truyền thông xuất bản cũng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học thiếu nhi.

Nhà văn Tô Hoài từng nói sở dĩ văn học thiếu nhi ở ta tồn tại như hôm nay là do chúng ta đang thiếu một phong trào viết cho thiếu nhi. Muốn tạo ra được phong trào này phải có nhiều cuộc thi phải quan tâm và chăm lo bồi dưỡng đội ngũ viết cho thiếu nhi có những hỗ trợ thích đáng kịp thời để tác phẩm có chất lượng đến được với bạn đọc. Tác giả Dế Mèn phiêu lưu kí Đảo hoang đã quả quyết: "Nếu trao giải thưởng một tỉ đồng thì sách thiếu nhi sẽ hay ngay". Chúng ta chưa đến mức quá bi quan về lực lượng sáng tác cũng như đối tượng tiếp nhận mảng văn học này vấn đề là phải tạo ra được một phong trào viết cho thiếu nhi hiệu quả thiết thực và lâu dài. Chỉ khi nào tác phẩm văn học cho trẻ em thực sự được chú ý được đầu tư và quảng bá mạnh thì mới có thể thay đổi suy nghĩ của người viết thúc đẩy một số cây bút tiềm năng dành nhiều tâm huyết cho mảng đề tài này.

Trên thực tế những năm gần đây sự quan tâm dành cho văn học thiếu nhi mới chỉ là bề nổi và dừng lại ở những hội nghị hội thảo. Hoạt động trại sáng tác dành cho văn học thiếu nhi còn quá thưa thớt ngay như Hội Nhà văn Việt Nam sau 14 năm mới mở thêm được trại sáng tác. Mong rằng những năm tới các trại này sẽ được tổ chức thường xuyên hơn. Các dự án hỗ trợ cho tác giả văn học thiếu nhi cũng rất cần thiết như dự án mới đây của Đan Mạch và Nhà xuất bản Kim Đồng.

Ngoài ra để khuyến khích các cây bút chúng ta cần có các giải thưởng thật sự có uy tín giá trị trước hết là giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam chứ không chỉ dừng lại ở những cuộc vận động sáng tác của một số nhà xuất bản. Việc tham khảo cách tổ chức giải thưởng văn học thiếu nhi mang tính năng động có bề dày lịch sử của một số nước như Mỹ Canada... thiết nghĩ cũng là việc nên làm.

Ngày nay do những tác động của xã hội hiện đại tâm lý trẻ đã ít nhiều thay đổi và nhu cầu đọc của các em cũng thay đổi không giống các độc giả nhí trước đây nữa. Trước sự biến chuyển mang tính khách quan ấy các nhà văn nhà thơ cần tìm tòi đổi mới cách viết cho phù hợp với thế hệ trẻ thời đại mới nhưng nhất quyết phải giữ được tinh thần nhân văn truyền thống bản sắc văn hóa Việt Nam và giá trị văn chương đích thực không thể chiều lòng trẻ theo những thị hiếu và nhu cầu giải trí tầm thường.

 Để góp phần khởi sắc cho văn học thiếu nhi vai trò của phê bình rất quan trọng do đó giới nghiên cứu phê bình cần quan tâm hơn đến mảng văn học này. Ở đây có điều đáng lưu ý là lâu nay chúng ta mới chỉ quan tâm đến lực lượng người lớn viết cho thiếu nhi còn thiếu nhi viết cho chính lứa tuổi của mình chưa được chú ý đúng mức. Một thực tế nữa là tác giả viết cho thiếu nhi phần nhiều xuất hiện ở miền Nam trong khi miền Bắc vốn có những tác phẩm hay nhưng người viết lại ít. Trong tương lai hy vọng sẽ có sự cân đối hơn ở các phương diện này.

Trước khi trông chờ sự hỗ trợ từ các cơ quan tổ chức việc đổi mới và phát triển văn học thiếu nhi - mảnh đất đầy tiềm năng nhiều thách thức - vẫn được quyết định bởi tài năng và tấm lòng của các nhà văn nhà thơ yêu quý trẻ em và tâm huyết với mảng đề tài này. Và câu trả lời cho câu hỏi "Bao giờ văn học thiếu nhi lớn mạnh?" còn tùy thuộc vào sự chung tay của cả một dây chuyền: người viết - nhà xuất bản - người phát hành tiếp thị sách và cả xã hội. Văn học thiếu nhi của ta có đứng vững tại thị trường trong nước mới mong tiến ra hội nhập với văn học thiếu nhi thế giới.

PHẠM NGỌC HUỆ

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

More...

Dòng sông chở kiếp - câu chuyện trăm năm về những kiếp người

By HOÀI KHÁNH

Dòng sông chở kiếp - câu chuyện trăm năm về những kiếp người

Nguyễn Quốc Hùng là tác giả văn xuôi trẻ của Hải Phòng cầm bút mới khoảng mười năm năm nay nhưng đã có bước tiến đáng kể với một số truyện ngắn công bố trên tạp chí Cửa Biển (Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng) và tuần báo Văn Nghệ cùng các tiểu thuyết Chuyến hàng mưa (Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 2006) và Dòng sông chở kiếp vừa mới xuất bản.

Sống gắn bó với những người công nhân và cuộc sống thành thị nên Nguyễn Quốc Hùng đã có một số thành công ở những đề tài này. Vì vậy không khỏi bất ngờ khi Dòng sông chở kiếp lại viết về nông thôn; không những thế còn là một nông thôn có những quãng thời gian đã trở thành quá khứ xa mà chắc chắn tác giả chỉ được biết nhờ nghe kể và đọc sách vì với tuổi mình anh không thể chứng kiến. Bên cạnh đó thời gian được đề cập đến đâu có ngắn. Nhụ một nhân vật trong tiểu thuyết lúc xuất hiện còn là người phụ nữ 30 tuổi đến trang cuối đã là bà lão 100 tuổi tròn! Nhân vật thì trải suốt bốn thế hệ. Tất cả được trình bày một cách tường tận với những chi tiết sinh động. Phải am hiểu về nhiều mặt đồng thời khá vững tay nghề mới có thể dồn nén được chừng ấy thời gian sự kiện và con người vào chỉ có 350 trang sách.

Đó là chuyện mâu thuẫn truyền đời giữa hai gia đình tại làng Trằm một làng nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ. Đứng đầu hai gia đình và cũng là hai họ đều là những người có địa vị cao trong làng. Tuy nhiên cái cách để có được vị trí ấy mỗi gia đình mỗi khác: Họ Nguyễn nhờ đạo đức còn họ Vũ là do thủ đoạn.

Câu chuyện bắt đầu từ những ngày lụt lội cả làng phải đến trú ở đình làng chờ nước rút. Người của hai gia đình có gặp nhau ngoài đường cũng cố tránh không nhìn nhau giờ ra vào giáp mặt va chạm là không thể tránh khỏi. Cứ cụ đồ Cờ họ Nguyễn nói hoặc làm thế này thì thể nào lý Ngang họ Vũ cũng nói hoặc làm thế khác. Cụ Cờ càng cung kính trước thần linh bao nhiêu thì lý Ngang lại tìm cách giễu cợt điều đó bấy nhiêu. Nhưng thật oái oăm chị đĩ Nhụ cháu dâu cụ Cờ lại lòng thòng với lý Ngang! Chẳng phải chị yêu thích gì lý Ngang vì con người hắn đụng vào đã phát khiếp cứ lạnh nhầy nhẫy như da rắn lại toát ra mùi hôi gián. Có điều chồng làm ăn xa vắng nhà mà chị ta lúc nào cũng thấy thèm khát! Còn lý Ngang cái tính háu gái của hắn làng không ai lạ hắn không chỉ dan díu với chị đĩ Nhụ mà còn với nhiều người đàn bà khác. Trong những ngày ngập lụt ấy lý Ngang và chị đĩ Nhụ đã làm cái chuyện ấy ngay ở gậm điện thờ thành hoàng làng. Tưởng chỉ để thoả cơn khát ai ngờ chị đĩ Nhụ lại có mang sau sinh ra thằng Sông "chắt đích tôn" của cụ Cờ! Sau này thằng Sông gây ra đủ chuyện tai quái khi bé thì ăn cắp áo quan tri khiến cụ Cờ phải đem trả trịnh trọng đặt áo trên khay như dâng lễ vật để tạ tội; lớn lên ăn cắp tiền người ta; rượu vào say bị cháu lý Ngà đánh mà không biết nhục lại còn mách nơi hai chú nó (ông Sơn và ông Toản) trốn để lý Ngà dẫn lính đến bắt. Họ Nguyễn đối nhân xử thế tốt đẹp bao dung nhân ái bao nhiêu thì họ Vũ hẹp hòi xấu xa bấy nhiêu ngay hòn máu lạc loài là thằng Sông cũng vậy. Nó càng lớn càng giống lý Ngang từ mặt mũi dáng người đến tính nết. Nó là thứ nghiệt chướng (tác giả gọi là nghiệt chướng chứ không phải nghiệp chướng). Vậy nghiệt chướng của cuộc đời là do dục vọng của con người gây ra.

Sau lụt huyện cho khơi lại sông Vàng để  tránh cho làng Trằm khỏi cái nạn lúc nước trắng đồng khi lại cạn khô. Đến chuyện như vậy lý Ngang cũng phá để dẫn tới cái chết của cụ đồ Cờ. Nhưng cái chết của cụ khiến mọi người thêm kính trọng: Cụ ra giữa sông chắp tay can ngăn hai làng và cứ thế chết cứng ở tư thế ngồi xếp bằng tròn dưới sông. Còn cái chết của lý Ngang thật nhục nhã hắn như bị ma làm đến điên dại nên cởi quần áo trần truồng rúc vào bụi dứa dại cho gai cào khắp người và cứ nhồng nhỗng như vậy mà chết bên bờ sông.

Cách mạng tháng Tám rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Phía gia đình họ Nguyễn thế hệ mới nhiều người tham gia cách mạng và kháng chiến. Còn con lý Ngang là lý Ngà nối đời làm lý trưởng đã dẫn địch về làng và họ Nguyễn đến 4 người bị bắn chết Sơn con út ông tổng Cò bị đi đầy Côn Đảo.

Những trang cuối của tiểu thuyết là hình ảnh sông Vàng con sông gắn bó với bao kiếp người làng Trằm nay không là sông nữa mà biến thành hai con mương chạy song song vì bị chia làm đôi bởi bờ đất ở giữa với lý do sông bên nào thì làng bên ấy dùng. Sự hằn thù cách đây hàng chục năm giữa hai làng do lý Ngang gây nên tới lúc này mới thật trắng trợn. Có con ông Sơn đặt tên con gái là Ngà với thâm ý lý Ngà tuy về tuổi tác là cha chú cái Ngà nhưng chỉ đáng mặt làm con ông! Đúng lúc Vương con trai lý Ngà xin vào Đảng Bí thư chi bộ thôn Trằm và ông đảng uỷ viên xã mang theo con gà trống thiến và đùm gạo nếp đến nhà ông Sơn muốn xin xác nhận ngày trước ông bị bắt không liên quan gì đến lý Ngà. Mắt ông Sơn long lên dữ tợn: "Chúng mày lạy được thằng Ngà ở quê thì bây giờ có dám lạy con Ngà này không! Chúng mày đủ gan thì tao xác nhận cho. Nếu không làm được thì bước!" Từ đó cho thấy cái cách con lý Ngà xin vào Đảng để hòng thăng quan tiến chức không khác gì cách ông cha hắn từng làm.

Chuyện mâu thuẫn dòng họ ở một số vùng nông thôn giờ đây tuy không nhiều nhưng rải rác đâu đó vẫn còn Nguyễn Quốc Hùng góp vào một hiện tượng và thử tìm nguyên nhân thông qua lý giải của ông tổng Cò. "Phải chăng mỗi dòng họ đều có tính cách riêng. Ông là người không thể nói được một câu xu nịnh mà không thấy ngượng mồm thấy mình hèn mọn trước người được nghe những lời xu nịnh ấy. Còn gia đình nhà lý Ngang từ dáng đi bình thường cũng khúm na khúm núm vai co rụt vào như con giun uốn mình chứ chưa nói đến chuyện chỉ vì khéo luồn lọt mà có được chức lý trưởng truyền đến ba đời." Người đọc chỉ băn khoăn chẳng lẽ suốt trăm năm cái họ Vũ kia đời lý Ngao lý Ngang khỏi phải nói đến con cháu thời nay vẫn không thay đổi tính nết chút nào? Thậm chí thằng Sông bao nhiêu năm sống với gia đình họ Nguyễn tốt đẹp gần mực thì đen gần đèn thì sáng nó "gần đèn" mà chẳng hề sáng lên tí nào! Sự có mặt của thằng Sông trên đời chỉ có mình bà Nhụ biết bà đã cố giấu tung tích của nó để nó được sống làm người. Sau này có người con ông Sơn biết nhưng liệu anh ta sẽ xử sự như thế nào trước việc người đứng đầu họ nhà mình lại là con của kẻ thù! Tiểu thuyết không đòi hỏi tác giả phải giải quyết sự việc một cách trọn vẹn đúng với định hướng.

Tìm được nội dung hoàn toàn mới cho tiểu thuyết là một vấn đề cực kỳ khó ngay cả với tác giả có tên tuổi nên góp được vào cái chung một câu chuyện một hiện tượng đời sống xã hội như trong Dòng sông chở kiếp cũng là đáng kể. Cùng với đó là khắc hoạ chân dung các thế hệ và giúp người đọc hiểu được quyền lực làng xã ngày trước. Cũng không thể đòi hỏi tác giả những độc đáo ở kỹ thuật tự sự hay ngôn ngữ thể hiện; anh tuân thủ cách kể chuyện truyền thống với kết cấu trục thời gian kể khá hấp dẫn và rành mạch. Tác giả hiểu những chuyện ngày trước ở nông thôn nắm được phong tục tập quán cuộc sống và tính cách người nông dân cũng như lời ăn tiếng nói của họ. Dòng sông chở kiếp có những chi tiết hay sinh động ít nhiều có những cái mới lạ.

Cuối cùng là tên tác phẩm. Dòng sông chở kiếp - cái tên và nội dung hướng đến cái ý dòng sông gắn với những kiếp người tuy nhiên có lúc tác giả dường như quên mất định hướng ấy của mình hay nói cách khác tên tác phẩm chưa đủ khái quát nội dung. Tất nhiên đây là vấn đề khó. Người viết bao giờ cũng có đến năm bảy cái tên để chọn lấy một tên mà chưa chắc đã bằng lòng.

Nhìn chung Dòng sông chở kiếp là tiểu thuyết đáng đọc.

LƯU VĂN KHUÊ

More...

Bài thơ đầu tiên viết về Bác Hồ ở Hải Phòng

By HOÀI KHÁNH

Bài thơ đầu tiên viết về Bác Hồ ở Hải Phòng

Ngày 20 tháng 10 năm 1946 sau hơn bốn tháng thăm nước Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp con tàu Đuy-mông Đuyếc-vin của hải quân Pháp đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Bến Ngự Hải Phòng. Hàng vạn nhân dân lao động thành phố Cảng hân hoan chào đón Bác trở về. Trong dòng người náo nức ấy có nhà thơ Lê Đại Thanh một người khá nổi tiếng trong giới trí thức ở thành phố Hải Phòng hồi bấy giờ không chỉ qua tác phẩm kịch Hai người trọ học (giải thưởng Tự lực Văn đoàn năm 1936) trường ca Chương Dương hành khúc năm 1945 mà còn ở những hoạt động xã hội sôi nổi của nhà thơ đang ở tuổi sung mãn (Lê Đại Thanh sinh năm 1907). Chỉ hai ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về đến Hải Phòng báo Dân chủ - một tờ báo xuất bản ở vùng duyên hải Bắc bộ có trụ sở tại Hải Phòng - trong số ra hai ngày 22 và 23 tháng 10 năm 1946 đăng ở vị trí trang trọng bài thơ Trở về với dòng đề "Kính tặng Cha già của đất nước" của nhà thơ Lê Đại Thanh. Bài thơ Trở về như sau:

Cha già đã trở lại

Reo lên sông núi Việt Nam!

Bay lên cờ đỏ sao vàng

Giờ này non nước rỡ ràng thắm tươi

Mặt ai vàng nở reo cười

Miệng ai hoa rực màu tươi đượm hồng

-Cha già hồn của non sông

Giơ tay đón cả muôn lòng dân con.

 

Cha già đã trở lại

Đăm đăm sắc mặt xanh mòn

Nghìn trùng cách biển xa non

Tiếng hoan hô dậy muôn con tim hồng

Rừng người sát cánh mờ trông

-Đây Hồ Chủ tịch hồn sông núi nhà.

 

Muôn tình hướng cả vào Cha

Tiếng dân ngập cả lời ca một chiều

Nhìn Cha lòng ngạt thương yêu

Núi sông tin ở ngọn triều nước dâng.

Bài thơ tràn ngập niềm hân hoan kính yêu tin tưởng vào vị Cha già dân tộc. Niềm hân hoan náo nức được nhìn thấy Bác Hồ trở về đã bật lên thành tiếng reo vui không thể kìm nén ngay ở câu mở đầu:

Cha già đã trở lại

Reo lên sông núi Việt Nam!

Bay lên cờ đỏ sao vàng

Giờ này non nước rỡ ràng thắm tươi.

Quả là Bác Hồ trở về mang đến niềm vui dẫu hội nghị Phong-ten-blô khi ấy không đạt được kết quả như mong muốn nhưng vẫn diễn ra một sự thật hiển nhiên là: nước Pháp bấy nay vẫn tự xưng là nước "bảo hộ" cho An Nam "nhược tiểu" thì nay lá cờ đỏ sao vàng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á - lồng lộng tung bay giữa thủ đô nước Pháp và người đứng đầu Nhà nước ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh mới hôm qua còn sống trốn tránh trong xóm nghèo Pa-ri thì hôm nay đã là vị thượng khách của chính phủ Pháp. Với một người giỏi tiếng Pháp am hiểu lịch sử văn hoá Pháp như nhà thơ Lê Đại Thanh thì việc Bác Hồ và đoàn đại biểu Chính phủ ta do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu xuất hiện giữa thủ đô nước Pháp năm 1946 là một sự kiện trọng đại mang tầm vóc ngoại giao quốc tế hồi bấy giờ. Niềm vui của nhà thơ khi cùng nhân dân lao động thành phố Cảng ra cầu tàu Bến Ngự đón Bác Hồ trở về nước ngày 20 tháng 10 năm 1946 chỉ có thể hiểu trong tâm trạng và suy nghĩ như thế của Lê Đại Thanh mới cảm thấy hết cái sâu lắng trong mỗi câu thơ tràn ngập niềm vui mừng xúc động ấy của nhà thơ. Thế nên hai lần ở hai khổ thơ trong một bài nhà thơ đều bắt đầu bằng một tiếng reo: "Cha già đã trở lại". Sau tiếng reo ở khổ thơ đầu là niềm hân hoan hiện trên màu cờ trên nét mặt người đi đón Bác; còn ở khổ thơ sau là sự gian nan vất vả của Bác sau bao ngày đêm căng thẳng đấu tranh ngoại giao ở Pháp và những ngày lênh đênh trên biển cả trở về: "Đăm đăm sắc mặt xanh mòn/ Nghìn trùng cách biển xa non". Những gian nan vất vả của Bác Hồ sau chuyến dài ngày đi Pháp trở về cũng là những khó khăn thử thách của đất nước những ngày "nghìn cân treo sợi tóc" mùa đông năm 1946. Trong hòan cảnh ấy Bác Hồ trở về là một niềm vui to lớn một sự kiện trọng đại mà mỗi người Việt Nam yêu nước lúc ấy đều không thể kìm nén: "Tiếng hoan hô dậy muôn con tim hồng/ Rừng người sát cánh mờ trông/ Đây Hồ Chủ tịch hồn sông núi nhà". Quả là nhà thơ Lê Đại Thanh có tầm nhìn và sức tưởng tượng ngay hồi bấy giờ (năm 1946) đã có thể nghĩ được Bác Hồ là linh hồn của dân tộc "hồn sông núi nhà" thì đúng là một tư duy mới và bạo. Hai câu kết vừa rưng rưng cảm động vừa tự tin vào cách mạng vào đất nước dẫu lúc đó đang "nghìn cân treo sợi tóc" nhưng một khi đã có sức mạnh của toàn dân "rừng người sát cánh" lại có vị Cha già chỉ lối đưa đường thì sức mạnh ấy như triều dâng nước đổ:

Nhìn Cha lòng ngạt thương yêu

Núi sông tin ở ngọn triều nước dâng.

Cả bài thơ là một tiếng reo vui chào đón Bác Hồ sau mấy tháng sang mãi tận trời Tây nay trở về Tổ quốc và bày tỏ niềm tin yêu vào Bác Hồ chỉ lối đưa đường. Bài thơ ra đời rất hợp với không khí hào hùng của người dân đất Cảng những ngày mùa đông năm 1946 có vinh dự lớn được đón Bác Hồ trở về sau những ngày Người sang thăm nươc Pháp. Cũng nên nhắc ở đây chính vì có khí thế hào hùng ấy mà sau khi Bác Hồ về nước đúng một tháng thực dân Pháp tự lột mặt lạ "hoà bình" nổ súng gây hấn đầu tiên ở thành phố Hải Phòng ngày 20 tháng 11 năm 1946 nhưng chúng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân dân thành phố "Trung dũng - Quyết thắng".

Trở về có thể coi là tác phẩm đầu tiên không chỉ của nhà thơ tài hoa Lê Đại Thanh mà còn là của giới văn nghệ sĩ đất Cảng sáng tác về Bác Hồ cách đây 63 năm rất đáng được lưu tâm với những ai quan tâm đến sáng tác văn học nghệ thuật về Bác Hồ.

CAO NĂM

More...

Đọc tiểu thuyết "Dòng sông chở kiếp" của Nguyễn Quốc Hùng

By HOÀI KHÁNH

Đọc tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng

Cuộc đời thì dài và có nhiều truân chuyên lắm! - Đó là điều mà tác giả Nguyễn Quốc Hùng muốn giãi bày những trải nghiệm trong cuộc sống thông qua tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009).

Nguyễn Quốc Hùng là công nhân Cảng Hải Phòng. Anh có lần tâm sự hoàn toàn ngẫu nhiên cứ sau một truyện ngắn viết về đề tài người công nhân lao động thì lại có một truyện ngắn đề cập tới một vùng thôn quê một làng nghề ở ngoại thành. Anh cho đó là những khoảng lặng là thời gian nghỉ ngơi của những nhân vật. Và với tiểu thuyết sự ngẫu nhiên đó cũng được lặp lại. Sau tiểu thuyết đầu tay Chuyến hàng mưa viết về chính những đồng nghiệp những người công nhân lao động trên bến cảng thì tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp này của anh lại viết về một làng quê nhỏ bé.

Tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp của Nguyễn Quốc Hùng khiến ta liên tưởng đến một câu chuyện cổ tích về cuộc đời của riêng từng nhân vật của riêng làng quê ấy một vùng đất nhỏ tới nỗi gặp một trận mưa to là lụt trắng cả làng gần hai trăm sinh linh phải dồn về trú ngụ tại khoảnh đất đình. Hai tuyến nhân vật thiện và ác được thể hiện rõ nét. Cuộc xung đột âm thầm giữa hai dòng họ trong làng là diễn biến chính của câu chuyện. Mô-típ tuy đã cũ nhưng tác giả muốn làm mới nó bằng cách tập trung khai thác những xung đột nội tâm của từng nhân vật. Và xung đột của những con người ấy như tiền định bắt phải thế như giời xui phải làm thế chứ cuộc sống thường ngày của họ hoàn toàn không có nguyên cớ gì để tạo nên mâu thuẫn. Nguyên nhân tại đâu?

"Tất cả chỉ là dục vọng của con người không kiềm chế được mà thôi". Một chị đĩ Nhụ rất yêu thương chồng con kính trọng gia đình nhà chồng hiểu rõ tâm địa đen tối lý Ngang đấy nhưng lại không thể kiềm chế được dục tình lúc nào cũng bốc ngùn ngụt trong lòng để dẫn tới có con với hắn. Nghiệt chướng từ đó mà ra. Chị chịu đã đành nhưng cả dòng họ nhà chồng cũng phải gánh theo. Thằng Sông giữ vai trò trưởng họ của nhà chồng chính là đứa con của kẻ thù. Để rồi cả cuộc đời chị đĩ Nhụ phải ôm mối hận mà không thể gỡ được. Chị muốn giữ kiếp được làm người cho đứa con. Nhưng liệu đứa con ấy có trở thành người? Trục câu chuyện xoay quanh mẹ con chị đĩ Nhụ.

Tuyến nhân vật chính diện là gia đình nhà ông tổng Cò những con người có học hết lòng phấn đấu cho sự phát triển tốt đẹp của cộng đồng làng xã. Ông tổng Cò không quản nhọc nhằn tìm cách đào sông khơi lạch để làng thoát khỏi cảnh lụt lội thoát khỏi cảnh đói nghèo truyền đời. Con ông tổng Cò như anh Diệc anh Dự anh Sơn chị Thư và một số nhân vật khác không sợ hy sinh tính mạng tự nguyện đi theo con đường cách mạng đấu tranh vì sự tồn vong của Đất Nước.

Tuyến nhân vật phản diện là gia đình nhà Lý Ngang Trương Bân và những tên tai sai cho ách đô hộ của thực dân phong kiến. Chúng không từ một thủ đoạn ác độc hèn hạ nào để đạt được mục đích làm lợi cho cá nhân. Lý Ngang kích động dân hai làng đánh lẫn nhau để hạ uy tín nhà ông Tổng. Thậm chí Lý Ngà ăn cả phân chó để tỏ lòng trung với quan thầy. Tráo trở trắng đen để được đứng trong hàng ngũ của Đảng với mưu đồ được leo cao sẽ lợi nhiều...

Tất cả các nhân vật chính trong tiểu thuyết đều có tuổi thọ cao nhưng rồi khi tiến tới cái chết mỗi người phải chịu một hoàn cảnh thật công bằng với những gì họ đã làm ở trần thế. Tác giả muốn đề cập tới sự nhân quả ở đời. Trong tiểu thuyết có một số chi tiết huyền ảo thần thoại nhưng tất cả đều giải thích được nguyên nhân từ đâu. Tất cả từ tâm con người mà ra.

Hình ảnh con sông Vàng tuy chỉ xuất hiện ở phần đầu và phần cuối nhưng nó như một sợi dây kết nối toàn bộ nội dung của câu chuyện và mở cho người đọc những suy tư về nhân thế. Con sông cụ Cờ bố ông Tổng đã phải đánh đổi tính mạng để có được để hai làng sống hoà thuận sau lỹ tre thế mà tới đời sau người ta lại đang tâm ngăn đôi để biến thành hai con mương nhỏ. lí do nước làng nào làng ấy dùng. Đó là nghiệt chướng mà con người phải gánh chịu. Tính ích kỉ.

Vốn sống thực tế phong phú là điểm mạnh trong sáng tác của Nguyễn Quốc Hùng. Qua tiểu thuyết Dòng sông chở kiếp anh còn thể hiện rõ được tính cách thâm trầm suy tư thường ngày của anh.

Mấy chục năm trở lại đây những người công nhân trực tiếp đứng máy trong các xưởng thợ tham gia sáng tác văn chương không nhiều. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng là một trường hợp hiếm hoi nhất lại viết tiểu thuyết thì thật đáng trân trọng.

HOÀI KHÁNH

More...

Hữu Loan ra đi Màu tím hoa sim còn ở lại

By HOÀI KHÁNH

Hữu Loan ra đi Màu tím hoa sim còn ở lại

19 giờ ngày 18-3-2010 nhà thơ Hữu Loan tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim đã đi vào cõi vĩnh hằng tại nhà riêng thôn Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyên Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa thọ 95 tuổi. Bài thơ Màu tím hoa sim ở lại cùng ta.

Mười năm cuối đời ông nếm trải  bao đắng đót ngày 19-12-2004 Công ty cổ phần công nghệ Việt Vitek VTB đã mua bản quyền Màu tím hoa sim 100 triệu đồng thời giá khi ấy tương đương 10 cây vàng.

Màu tím hoa sim được Nguyễn Bính đăng trọn vẹn lần đầu tiên trên báo Trăm hoa vào năm 1956. Bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc với nhan đề Áo anh sứt chỉ đường tà  cùng nhiều nhạc sĩ khác

Những ngày giới văn nghệ và độc giả cả nước thương xót nhà thơ Hữu Loan tôi lang thang trên mạng và tìm được tư liệu quý về ông và người con gái trong bài thơ Màu tím hoa sim:

" ...Năm 1941 Hữu Loan ra Hà Nội thi tú tài. Có tới 700 thí sinh dự thi nhưng số người đỗ chỉ đếm trên đầu ngón tay trong só đó có anh học trò nghèo tự học xứ Thanh. Vì mến sự hiếu học của cậu Tú Loan nên bà Đái Thị Ngọc Chất vợ ông thanh tra canh nông Đông Dương Lê Đỗ Kỳ đã bàn với chồng mời Hữu Loan làm gia sư cho các con mình: Lê Đỗ Khôi Lê Đỗ Nguyên( sau này là trung tướng Phạm Hồng Cư)và Đỗ Lê An.Từ chuyện làm gia sư mà kết thành mối lương duyên giữa Hữu Loan và cô em gái Lê Đỗ Thị Ninh của ba người anh trai này. Họ kết hôn ngày mồng 6 tháng 2(âm lịch) năm 1948 khi ấy Hữu Loan 33 còn nàng 17 tuổi)

Thế là lí lịch bài thơ Màu hoa sim đã sáng rõ: Đấy là mối tình đẹp nhất mà cũng đau xót nhất  trong kháng chiến chống Pháp của căp trai tài gái sắc này. Bài thơ có sức sống bền lâu từ ấy cho đến nay và chắc chắn rằng nó còn sống mãi. Nếu đem bình bài thơ này sẽ bất lực vì bài thơ vừa giản dị vừa truyền cảm mãnh liệt và vào sâu trong trái tim mỗi người và ở lại đó! Màu tím hoa sim có tính dân tộc rất cao ai đọc cũng hiểu ai đọc cũng khóc!

Năm 1990 Nhà xuất bản Hội Nhà Văn in tập thơ Màu tím hoa sim tập thơ vỏn vẹn có mười nhưng toàn những bài " rút ruột tằm" của Hữu Loan mà đỉnh là Đèo cả Màu tím hoa sim!

Những năm cuối đời Hữu Loan không viết nữa có ai hỏi ông đùa vui:"Thơ đểu"!

Với Hữu Loan sự chiêm nghiệm về Thơ còn quan trọng hơn viết ra những bài thơ!

Trong cuộc đời nhà thơ có mười người con và 37 cháu nội ngoại!

Trong văn nghiệp ông có mười bài thơ để đời!

Trong cuộc đời ông thồ đá để nuôi con!

Trong văn nghiệp ông im lặng để chiêm nghiệm!

Đấy là người sống đẹp nhất trong đời và trong văn!

Trong điếu văn ngày 19-3-2010 Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh nói:"Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua hôm nay và mai sau.Những gì mà ông để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi"

Chúng ta đọc lại Màu tím hoa sim để nhớ về ông nhà thơ Hữu Loan bất tử!

TRẦN QUỐC MINH 

Màu tím hoa sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng đang xanh.

 
Tôi người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh

bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng độc đáo


Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến chinh

Mấy người đi trở lại

Lỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

 
Nhưng không chết

người trai khói lửa

mà chết

người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

không gặp nàng.

Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành chiếc bình hương

tàn lạnh vây quanh.

 

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi giây phút cuối

không được nghe nhau nói.

Không được trông nhau một lần.

 
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím.

Áo nàng màu tím hoa sim

Ngày xưa

một mình

đèn khuya

bóng nhỏ.

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa...

Một chiều rừng mưa

ba người anh từ chiến trường Đông Bắc

biết tin em gái mất

trước tin em lấy chồng.

Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên

ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm thu về cỏ vàng chôn mộ chí.

Chiều hành quân

qua những đồi hoa sim

những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Nhìn áo sách vai

tôi hát

trong màu hoa.

"Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm Mẹ già chưa khâu ..."

HỮU LOAN

More...

Đọc "Phước" của Hoàng Thiềng

By HOÀI KHÁNH

Đọc Phước của Hoàng Thiềng

Tập truyện Phước của Hoàng Thiềng vừa được Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân cho ra mắt bạn đọc. Tập truyện gồm 2 truyện vừa và 2 truyện ngắn lấy tên của một truyện vừa làm tên chung cho cả tập.

Trong cả 2 truyện vừa PhướcThắng điên một cuộc sống với ngồn ngộn những chi tiết được tác giả khéo léo sắp đặt qua ngôn ngữ văn chương đã cuốn hút người đọc dõi theo những thăng trầm của từng số phận nhân vật. Nhân vật chính trong Phước đã có 10 năm khoác áo lính. Không may trong một lần hành quân Phước bị mưa lũ cuốn theo dòng suối chảy xiết rồi sau bị dạt vào mổt cánh rừng. mười ngày đêm cô độc trong cánh rừng đó anh cố sống bằng những hoài niệm về ánh mắt của Hồng lúc chia tay cùng lời hò hẹn "nhất định ngày chiến thắng anh sẽ về" về những kỷ niệm với anh em đồng đội trong tiểu đoàn 9. Những khắc khoải lo âu những thảng thốt bất chợt khi nghe tiếng những chú sóc con chuyền cành khi nhận ra đôi kỳ nhông đang âu yếm nhau Phước nhấm nháp nỗi cô đơn của con người và mới thấu hiểu nỗi khát sống là thế nào. Đói thế mà khi thấy mười quả sung Phước lại mường tượng và lần khân với đủ thứ chuyện quanh nó. Nỗi cô đơn và khát vọng sống đã đẩy tâm trạng của Phước lên tới đỉnh điểm làm người. Phước ăn dè từng quả và nghĩ đủ cách nhằm bảo toàn vài quả sung để lũ chim không thể ăn dù chỉ một miếng. Những quả sung đã khơi gợi ý chí sống của Phước. Mười ngày cô đơn trong rừng đã trở thành nỗi ám ảnh suốt đời Phước nhưng đó lại chính là những ngày minh chứng và hình thành rõ nét hơn phẩm cách làm người của anh chiến sĩ này. Nhưng mười ngày đó đã hằn vào lý lịch của Phước như một vết nhơ vì anh không thể chứng minh rằng mình bị cô độc giữa rừng. Mười năm cầm súng trải qua hơn trăm trận đánh không chê vào đâu được nhưng Phước không làm sao nói được sự thật về mười ngày. Và cũng vì mười ngày không được minh bạch Phước bị buộc chuyển ngành với quân hàm binh nhất. Về làm bảo vệ ở cơ quan Sở Kế hoạch và Đầu tư được một thời gian Phước lại bị săm soi chuyện "mười ngày" xưa cũ ấy và cuối cùng anh bị buộc thôi việc. Số phận của một người lính như Phước chỉ còn được sống thanh thản trong tình thương yêu sự nể trọng và sự cảm thông của vợ con của những người bạn lính một thời chiến trận bên nhau. Đọc Phước mới thấm nhân cách người lính và thấu hiểu vốn sống của tác giả từng có 18 năm trong quân ngũ và đã trải qua nhiều chiến dịch với nhiều trận đánh.

Nhân vật chính trong truyện vừa Thắng điên cũng vậy. Thắng đâu có điên. Anh rất tỉnh táo minh mẫn khi nhận rõ tất cả những gì đang diễn ra để rồi ao ước một điều rằng mọi người hãy sống minh bạch công tâm với chính mình. Hoàn cảnh sống của Thắng tình cảnh sống của Thắng tình bạn của Thắng đan quyện vào nhau bằng những chi tiết sống động về cuộc đời. Thắng khởi sự đi chửi dọc trên tuyến đường vào giấc trưa khi mà mọi người đang hối hả lo miếng ăn giấc ngủ. Suốt bốn mươi năm đúng 12 giờ Thắng lại ngất ngưởng huơ hai tay lúc giơ lên trời lúc ngả sang phải lúc nghiêng sang trái cất giọng sang sảng bắt đầu bằng câu về tông tộc nhà mình rồi tọc mạch lôi chuyện đời ra. Thắng chửi về sự giả dối về sự tự huyễn hoặc. Ngẫm ra tự huyễn hoặc cũng là một tội lỗi. Kẻ yếu toàn thân lại tự cho mình là khoẻ việc gì cũng xung phong đảm nhận rồi làm mứa mốt mứa hai. Thói huyễn hoặc khiến nhiều kẻ thấy cái gì cũng thèm tự túm tóc nhắc lên rồi cho rằng mình đang bay. Có sự huyền hoặc tập thể có sự huyễn hoặc cá nhân. Với lối kể đan quyện các chi tiết vào nhau Hoàng Thiềng khắc hoạ thành công thân phận của Thắng trong cảnh đói nghèo nhưng không hề bi lụy. Có gì đó như nhân vật Phước Thắng vẫn sống hạnh phúc bởi luôn biết yêu thương và trân trọng những gì mình có.

Còn 2 truyện ngắn Người đàn bà dắt xeHãy nói tên em đi của Hoàng Thiềng có cốt truyện mộc mạc gần gũi với chuyện đời thường hiện nay với lối viết giản dị giọng văn chân thành mà khá sâu sắc. Nhiều khi cuộc sống sôi động đang diễn ra mách bảo ta cần tĩnh tâm hơn về tình đời tình người.

Tập truyện Phước dường như đủ dung lượng cho một cuốn tiểu thuyết. Chắc Hoàng Thiềng có ẩn ý gì chăng? Hoàng Thiềng viết văn đã lâu. Đọc những gì mà nhà văn đã viết mới càng nhận ra nếu chỉ có vốn sống thôi chưa đủ mà cần một nhân cách sống trong sáng mới có sức lay động lòng người qua từng trang viết. Có lẽ Hoàng Thiềng là một tác giả văn xuôi sáng tác khỏe nhất Hội Nhà văn Hải Phòng hiện nay. Chỉ tính trong vòng 5 năm qua anh đã có tới 6 đầu sách được xuất bản. Đó là 4 tiểu thuyết Nguyện ơi (2004) Khúc biến tấu (2005) Bi ca Gốc Găng (2007) (2008) 2 tập truyện Cõi mêPhước (2009). 

HOÀI KHÁNH

More...