Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
HOÀI KHÁNH

E-mail: hoaikhanhhp@yahoo.com

Lịch
« August 2009 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Lời giới thiệu tập thơ Miền đất Dương Kinh

2009-08-30 @ 03:33 in Bàn về văn chương

HOÀI KHÁNH: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ Miền đất Dương Kinh. Đây là ấn phẩm của những người yêu thơ ở huyện Kiến Thụy (thành phố Hải Phòng) chào mừng kỉ niệm 65 năm Ngày thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của huyện Kiến Thụy (22/9/1944-22/9/2009). Tập thơ có sự góp bài của nhiều nhà thơ, như: Huy Cận, Nguyễn Bùi Vợi, Trương Vĩnh Tuấn, Kim Dũng, Phạm Ngà, Hoài Khánh, Hồ Anh Tuấn,...Blog Hoài Khánh xin đăng toàn bộ bài của nhà thơ Vũ Quần Phương giới thiệu tập thơ này và mong nhận được sự chia vui của bạn đọc.

Lời giới thiệu tập thơ Miền đất Dương Kinh

Đây là thơ của người trong một huyện, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng. Tôi nhận ra mấy bài của các nhà thơ chuyên nghiệp. Còn hầu hết là thơ của bà con Kiến Thụy, làm ruộng, làm cán bộ, làm đử các thứ nghề, trừ nghề làm thơ. Văn chương chữ nghĩa với họ, chỉ là thú chơi tài tử. Ấy vậy mà thơ trong tập này lại khá đều tay. Các bài đều có bút pháp, có bố cục, kết cấu dụng công hẳn hoi. Bài thơ đã có cái gọn chắc ý thức, không phải cứ hồn nhiên nhi nhiên mà viết. Hỏi ra mới biết: đây đã là tập thơ thứ sáu của các công dân Kiến Thụy. Năm tập trước cũng đã nhận được những lời khen. Cầm trịch biên tập, lựa chọn là một ban chủ nhiệm câu lạc bộ thơ do một cụ cao niên chủ trì. Anh Hoài Khánh, hội viên thơ Hội nhà văn Việt Nam, người hỗ trợ chọn lọc nhiều tập thơ trước của Kiến Thụy, cũng ngạc nhiên và vui mừng trước năng lực thơ và cả niềm say mê thơ của người dân Kiến Thụy.

Tôi chưa có dịp đọc thơ Kiến Thụy. Phần lớn những người viết trong tập tôi chưa được biết, càng không biết đến thâm niên thơ, đến kinh nghiệm viết của từng người. Vậy mà có nhiều bài thơ, tôi đã phải dừng lại nghĩ ngợi. Không biết nên vui hay nên buồn khi thấy có những bài thơ trong tập này không thua gì tài sắc một số bài của các nhà thơ gọi là chuyên nghiệp bây giờ. Đó là bài thơ lục bát Đợi đò của Trần Văn Sênh về cái bến đò quê nhà. Hơi thơ duyên dáng mà nội dung lại chân thật, nói được vào tình cảm đương thời của người dân Kiến Thụy nơi bến đò Đa đang chuyển sang phà, và rồi sẽ thành cầu, cây cầu hiện thực. Thơ nói việc nhưng lại bộc lộ tình người ý nhị như một cách ướm lời ngỏ ý xa xưa :

                        Mai ngày trên bến đò Đa

                        Em sang sông dười mái phà nón nghiêng

                        Đôi bờ nối nhịp cầu duyên

                        Bên Đa Ngư hẹn, bên Tiên Lãng về

                        Nắng chiều chênh chếch triền đê

                        Bên này ngóng đợi, bên kia gọi tìm

                        Em trao ánh mắt làm tin

                        Anh xin xẻ nửa trái tim làm đò

Bài thơ tám câu Thăm đất Dương Kinh của Nguyễn Văn Sổ cũng hoàn chỉnh. Đất Dương Kinh, làng Cổ Trai, nơi gắn với tên tuổi Mạc Đăng Dung và vương triều nhà Mạc, đã như dấu son lịch sử lưu lại trong lòng người dân sở tại. Bài thơ nói nỗi dâu bể của nghiệp vương và tấm lòng độ lượng của người dân khi nhìn lại lịch sử:

                        Từ thời vương đế đến nay

                        Biệt ly mấy bận, đổi thay mấy lần

                        (...) Cố đô nền cũ còn đây

                        Dấu xưa tìm lại đất này Dương Kinh

Người dân quê nhìn mảnh đất thân thuộc nơi chôn rau cắt rốn của mình thường xúc động, chất chứa biết ơn, thương cảm. Với người Kiến Thụy, có gì còn hơn thế. Tự hào? Cái đó có, dù sao nơi này cũng đã thành một cố đô Dấu xưa đâu dễ phai mờ. Nhưng điều thích thú của người đọc thơ lại là tầm nhìn của các tác giả, người dân thường hôm nay. Chất chứa trong tầm nhìn ấy là bao nỗi gian lao, chua mặn, nổi chìm của lịch sử hình thành quê hương mình:

                        Đào mương đắp đập... thành làng

                        Nổi chìm chua mặn mấy ngàn năm qua

(Sông quê ngày ấy - Đặng Trinh Tư)

Đỗ Quang Huy mượn tình cảm người phương Bắc nhìn Ô Giang mà khóc cho Hạng Vũ để nói nỗi cảm kích của lòng mình khi đứng ở Bãi Nhà Mạc, tức cửa sông Bạch Đằng nhớ về lịch sử:

                        Xin được chép đôi dòng dư lệ

                        Và ngợi ca công đức Mạc triều

(Cảm khái Mạc Đăng Dung)

Thơ viết trong lập trường cá nhân về lịch sử, nhận thức ấy không dễ xếp vào cấp phổ cập của thơ ca. Chúng ta cần ghi nhận thơ nghiệp dư như quan niệm thông thường là tự biên tự diễn, hôm nay đã có những phát triển mới, rất đáng lưu tâm. Có lẽ do trình độ người viết, do năng lực tiếp nhận và lý giải đời sống của mỗi người dân. Nguyễn Thế Tạc trong bài Tâm sự với thơ đã có những tình, những ý có lý và sâu sắc ngang "thi thoại" của một nhà thơ chuyên nghiệp. Đã thế, chuyện niêm luật về thơ lại lẫn trong chuyện trong đục về đời của một người cả nghĩ đã vào tuổi từng trải, nên ý ngoài lời khá thấm thía:

                        Đâu là tìm ý gieo vần

                        Bao nhiêu niêm luật thì ngần ấy đau

                        Nào là trong đục vàng thau

                        Nào là dâu bể, bể dâu nhân tình

Nhiều tác giả tập thơ chuộng lục bát và thể lục bát cũng dẫn tới được nhiều ý thơ bất ngờ, ý vị. Trong nghĩa trang:

                        Tượng đài sừng sững đồi cao

                        Nghe hồn tử sĩ vọng vào không gian

(Viếng bạn ở nghĩa trang Điện Biên - Triệu Thành)

Trong trang sổ tay tuổi học trò:

                        Em mang sắc tím đi xa

                        Để dòng lưu niệm phôi pha nét gầy

(Ngày trở lại - Vũ Phán)

Chủ đề thu hút nhiều cây bút là phẩm chất người dân quê Kiến Thụy và cũng là phẩm chất người nông dân, người lao đông ở khắp nơi trên đất nước. Đất lề quê thói. Có những nét tình nghĩa của muôn đời như vị ngọt bát canh cua mẹ nấu, trong thơ Minh Thức, có phần đóng góp của cả nhà: Con ra vặt khế bờ ao / Bê âu mắm tép...,Cha về vắt nắm tiêu cay ?Tay nâng chén rượu... Đó là vị ngon của tình gia đình nông dân Việt Nam ta, ở thành phố không còn, ở Âu - Mỹ không có. Nó là văn hoá thuần Việt. Thơ quần chúng hôm nay gìn giữ như ca dao xưa đã từng gìn giữ: Râu tôm nấu với ruột bầu...

Cụ ông nhận từ tay cụ bà, chỉ là bát nước chè xanh mà bồi hồi bao nhiêu tình nghĩa đời người mưa bão gió giông. Lưu Đình Văn nâng niu tứ thơ ấy, người đọc cũng nâng niu theo mà kính trọng chữ tình, chữ nghĩa trong cuộc đời thầm lặng vất vả của biết bao nhiêu bà con ta, qua thời thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người lại đến thời sân gôn, dự án... bao nhiêu nông nỗi cơ cực mà lúc nào cũng thảo thơm trọn vẹn. Câu thơ mộc mạc ở lại với lòng người nhờ cái tình chân thực:

                        Sông nào cũng về biển khơi

                        Biển nào sánh được tình tôi với bà

(Bát nước chè xanh)

Nhưng thơ của công dân Kiến Thụy không chỉ nói tình mà còn kín đáo gửi gấm những bài học nhân sinh có ý vị triêt học. Một nữ tác giả, chị Bùi Thị Hồng Bàng, mượn vòng đời chiếc lá trên cây rụng xuống thành mùn bón cho cây mà luận đời người. Mạch lập luận thoải mái, ý thơ dễ tiếp nhận. Bàn luận mà cũng là an ủi động viên mỗi đời người:

                        Cuộc đời như giấc chiêm bao

                        Công danh sự nghiệp đâu nào ai ơi

                        Nếu không biết sống cho đời

                        Sao bằng chiếc lá khi rơi khỏi cành.

(Hãy như chiếc lá)

Biển rộng, biển sâu nên biển mới bạc đầu, mới mặn mòi, mới vật vã... nhà thơ nông dân nhìn biển mà như nhận ra mình: Bể dâu lòng chẳng đổi thay - vẫn tình (Tình biển - Phạm Văn Cân).

Trịnh Anh Đạt, trong bài Người về bến cũ đã lập một tứ thơ xa, để nói tới một bến đò gần, bến Kiện Khê có thật. Bến đã bắc cầu, nhưng người qua đò năm xưa, vốn là một người lính phục viên sau ngày yên tiếng súng, lòng vẫn lở bồi nhớ bến sông xưa, nhớ cả tới mùi hương của cánh hoa rừng theo nước trôi xuôi ngày ấy. Câu thơ kết khêu gợi ngân nga làm người đọc lan man từ phận hoa, phận đò mà nghĩ đến phận người:

Lở bồi bến cũ mình ta

Trên tay ngân ngấn cánh hoa lạc rừng

Hai từ ngân ngấn hơi mờ nghĩa nhưng lại như có nước mắt ở bên trong. Nhiều tác giả trong tập thơ nghiệp dư này đã rất có nghề khi để tâm làm câu thơ kết. Nguyễn Thuỷ Đện trong bài Ơi! Cánh diều quê hương, dùng một câu nghi vấn hỏi cánh diều quê đang bay để gánh tình cảm của cả bài.

Tình cảm quê hương nói bao nhiêu cũng hãy đang còn vì nó là kỉ niệm, mà kỉ niệm thì miên man, nó cũng là hiện tại, là tương lai kể không sao hết. Hầu hết các tác giả đều có những câu thơ xúc động về quê hương. Hơn nữa, như các anh Lưu Đình Hùng, Nguyễn Ngọc Hiển, Đỗ Xuân Hiệu... còn dắt tình quê đi xa hơn vào tình cảm lịch sử, vào nỗi thương cảm người đang tha hương sâu sắc và ý tứ rất đáng biểu dương.

Hà Nội 10-7-2009

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Cọng tuổi

2009-08-28 @ 07:45 in Thơ

Cọng tuổi

Người dấu yêu

Em gọi anh trên đỉnh núi cao nhất

Tiếng em chảy trong lòng suối

Nở trên nhành cây lạ

 

Em gọi anh nơi đầu lưỡi

Luồng thở ấy chỉ những hòn đá xám nghe được

Đá xám lặng thinh và lăn thật chậm, thật chậm

Mang theo kí ức của em

Mang theo ánh mắt em

Từng cọng tuổi mềm

 

Ơi...

Con gà rừng nó gáy sớm mai

Nó nhủ em tìm anh nơi xa sâu nhất

Giục em men theo gió

Xui em băng rừng...

      ... chỉ mấy đận vắt vai là gặp anh thôi

 

Ơi...

Đêm năm canh em lật chiếu hát rằng

Nhớ anh cọng tuổi buồn chểnh chảng

Rượu tràn tay!

Tiếng em tràn lòng suối!

Nhớ anh em lật chiếu hát rằng...

PHẠM VÂN ANH


Người "bắc cầu dải yếm" ra thế giới

2009-08-26 @ 04:45 in Thông tin tổng hợp

Người "bắc cầu dải yếm" ra thế giới

Trước nay, bạn bè đồng nghiệp và cả những người quen biết thân, sơ hay chí cốt với nhà thơ Trần Quốc Minh  (ảnh bên) ai cũng khâm phục, nể trọng anh. Người ta nể trọng anh bởi cái nết hiền lành nhân hậu luôn quan tâm đến mọi người. Nể trọng bởi cái bản lĩnh, nghị lực và ý chí vượt lên số phận. Nể trọng bởi niềm đam mê văn chương đến si mê và khá cực đoan của anh.

Tình yêu mà anh dành cho văn học và thơ ca không bao giờ nhạt phai và vơi cạn, điều đó được xác nhận, được khẳng định qua những giá trị tác phẩm Trần Quốc Minh viết và công bố trong nhiều năm tháng đã qua.

Và, cũng nhờ có duyên phận với văn chương mà Trần Quốc Minh được hiện diện, được vinh danh và nổi tiếng như bây giờ.

Ngược thời gian mà tưởng nhớ lại hơn sáu mươi năm trước, Trần Quốc Minh mới lên ba tuổi thì một cơn sốt định mệnh đã làm cho đôi chân của cậu bé ấy bị bại liệt hoàn toàn. Đó đúng là một mất mát, một thử thách ghê gớm nhất với cuộc đời Trần Quốc Minh.

May mắn sao Trần Quốc Minh có một người cha tuyệt vời, ông sớm nhìn ra hành trang vốn liếng phải có và đường đi của con trai mình, không gì khác là phải có tri thức, phải tồn tại bằng tri thức. Mà muốn có tri thức thì phải học chữ. Vâng! Chỉ có chữ mới cứu vãn được số phận của con ông.

Thế là từ đấy ông thân sinh Trần Quốc Minh lao vào dạy chữ và đặt niềm hy vọng vào đứa con trai duy nhất của ông.

Không phụ lòng cha, Trần Quốc Minh học hành chăm chỉ và rất sáng dạ. Học hết chữ của cha mình thì vào trường phổ thông học. Học xong phổ thông thì thi vào đại học. Môn văn học là một môn học mê hoặc cuốn hút nhất Trần Quốc Minh. Niềm mê đắm ấy được đền đáp bằng kết quả trong kì thi đại học năm 1962. Trần Quốc Minh là một trong ba thí sinh miền duyên hải đủ điểm vào Khoa Văn, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội. Mơ ước lớn nhất của đời Trần Quốc Minh là được trở thành nhà văn, vì thế khi biết tin mình được học ngôi trường ấy thì anh mừng vui khôn xiết.

Nhưng niềm vui ấy chưa được bao lâu thì một hôm Giáo sư Hiệu trưởng Ngụy Như Kon Tum gặp anh. Ông thương xót, tiếc nuối nói với cậu trò nhỏ tàn tật, yếu ớt Trần Quốc Minh rằng: "Chiến tranh sắp lan ra miền Bắc, trường phải sơ tán, hay là trò chuyển sang học ở trường trung cấp sư phạm. Thời gian học sẽ ngắn hơn, thầy có thể giới thiệu cho em".

Nghe đến đấy Trần Quốc Minh tưởng như đất dưới chân đang sụt xuống. Anh bàng hoàng và vô cùng tuyệt vọng.

Đêm xuống. Hình như là một đêm cuối tháng 10 hay tháng 11 năm 1962, Trần Quốc Minh tay chống nạng, dẹo dọ, nghiêng lệch lê cái xác tã tượi như cây sau bão ra cầu đá làng Láng quyết định quyên sinh. Không! Anh bảo nói thế nghe văn vẻ quá mà ra đấy để nhảy xuống dòng nước dưới cầu tự tử.

Trần Quốc Minh ngửa mặt nhìn trời, lẻ loi trên cao xanh mấy ngôi sao mờ mịt lúc ẩn lúc hiện nom thật cô đơn. Cảnh vật não nề ấy càng làm cho anh tuyệt vọng và tin vào cái chết sẽ chấm dứt nhanh chóng những đau buồn, rồi trở về với tổ tiên và cát bụi.

Nhưng rồi trong đêm tối vắng lặng, chỉ nghe tiếng dòng nước nhẹ trôi thao thiết chảy bỗng vẳng lên tiếng người ngâm thơ da diết trong buổi tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam từ chiếc loa truyền thanh xa xa vọng lại. Những câu thơ thật mạnh mẽ đầy chủ động của bài "Khi có hướng rồi" trong tập "Ánh sáng và phù sa" của Chế Lan Viên.

"Người dưới vực sâu vẫn cứu kẻ trên bờ/ Khi dưới vực sâu còn dũng khí/ Tôi trong đau vẫn làm viên muối bể/ Để mặn lòng những kẻ muốn vô tư ...".

Những câu thơ kia như lên án, như trách cứ Trần Quốc Minh yếu đuối, thiếu dũng khí làm người và điệu thơ ấy như sôi dậy chèo kéo anh về với cuộc đời. Trần Quốc Minh trở nên tỉnh táo, bình tĩnh đối mặt với số phận mình. Và anh như người đã tìm thấy phương hướng, đứng dậy trở về thành phố quê hương tiếp tục cuộc mưu sinh để tồn tại, để yêu văn học và làm thơ.

Trở lại Hải Phòng, Trần Quốc Minh tự học nghề kế toán, một nghề chẳng dính dáng gì đến ngôn từ chữ nghĩa: Nhưng phải chấp nhận vì không thể sống bằng nước lã và khí trời, vả lại với sức vóc, thân hình ấy chỉ có nghề cạo giấy văn phòng mới mong có miếng ăn để sống thôi.

Chỉ trong thời gian rất ngắn Trần Quốc Minh học nghề kế toán và trong kì thi tốt nghiệp anh đã đỗ đầu và được bổ nhiệm Kế toán trưởng một đơn vị lớn của ngành tiểu thủ công nghiệp Hải Phòng.

Sau giờ làm việc ở công sở trở về anh lại lặng lẽ ngồi hành xác trên trang giấy và giũa gọt những con chữ đặt niềm tin vào thơ ca.

Năm 1966 Trần Quốc Minh in bài thơ đầu tay trên báo Văn nghệ. Bài thơ gây được ấn tượng trong lòng người đọc thời chiến tranh khốc liệt nhưng cũng thật bình thản, lạc quan với những câu:

"Hàng dây điện chim chí cha chí chách/ Ngắm cái xóm hiền lưng nhà tựa vào nhau/ Cửa sổ trầm ngâm dáng người đọc sách/ Khung trời nhà ai cũng xanh ngắt một màu".

Năm 1974 Trần Quốc Minh có tập thơ in chung đầu tiên "Thành phố con tàu". Rồi tiếp đến là tập "Trồng nụ trồng hoa" (cũng là in chung) 1986. Đến 1995 Trần Quốc Minh ra tập thơ riêng của mình: "Tôi chỉ mong". Tập thơ này được Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam trao giải.

Sau những thử sức với thơ, Trần Quốc Minh còn đam mê viết truyện ngắn mini. Anh bảo: viết là để giải tỏa và cũng để lấy tiền nuôi con trai ăn học. Và thật mừng cho anh, truyện ngắn "Áo đỏ" đã được giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (1994-1995). Năm 2003 Trần Quốc Minh tập hợp các truyện ngắn in rải rác trên các báo, tạp chí in trong tập "Tuần hoàn của đất" cùng với tác giả Hồ Thủy Giang.

Nhưng có lẽ người đọc Việt Nam biết đến Trần Quốc Minh, một nhà thơ tàn tật người Hải Phòng là bài thơ "Bắc cầu". Bài thơ ấy đoạt giải nhất cuộc thi Thơ người tàn tật Hải Phòng. Sau đó bài thơ "Bắc cầu" được triển lãm trong 100 bài thơ của 6 nước (Mỹ, Brazil, Pháp, Việt Nam, Australia, Nhật Bản).

Năm 2000, họa sĩ Thành Chương đã minh họa một bức tranh lấy ý tưởng của bài thơ "Bắc cầu" với chủ đề "Một trái tim, một thế giới" và bức họa này được Liên Hiệp Quốc chọn in thành tem phát hành toàn thế giới.

Tôi trộm nghĩ kể ra nhân loại mình cũng thật đa tình và ngọn lửa đa tình ấy được thắp lên từ bài thơ "Bắc cầu" của ông Trần Quốc Minh. Bài thơ ấy như một thông điệp giữa những con người, những cuộc đời, số phận nối lại với nhau thật là kì diệu.

"Bắc cầu bằng phong thư/ Tên bay đi bằn bặt/ Bắc cầu bằng câu hát/ Người ơi người có nghe/ Bắc cầu bằng cơn mưa/ Mịt mù cò lạc lối/ Bắc cầu bằng dây nói/ Chuông reo người vắng nhà/ Thôi tìm lại người xưa/ Bắc cầu bằng dải yếm". Vâng! Bằng dải yếm. Việt Nam quá. Dân tộc quá. Xin chân thành cảm ơn nhà thơ.

Có lẽ nói đến thành tựu và những giải thưởng với nhà thơ Trần Quốc Minh còn nhiều nữa. Nhưng ngần ấy cũng đủ vinh dự cho một đời tình nguyện dấn thân theo nghiệp chữ rồi còn gì.

Trong những cái được của đời văn và cả đời người, Trần Quốc Minh bảo tôi là anh biết ơn Hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng và những người bạn viết. Anh cũng biết ơn Hội Chữ thập đỏ Hải Phòng và những người yêu văn thơ đã rộng lòng thương anh để anh có được những gì ngày hôm nay. Anh xin ghi lòng tạc dạ tất cả và cố gắng nhiều hơn nữa để khỏi phụ mọi người.

Thưa ra thì Trần Quốc Minh đã cố gắng và thỏa nguyện lắm rồi. Năm 2004, anh được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Niềm vinh hạnh ấy với người khác sẽ chẳng là gì nhưng với anh - một người tàn tật, đó là sự ghi nhận một khả năng, một tấm lòng với văn học và thơ ca.

Tôi nghĩ cái được lớn nhất nữa với Trần Quốc Minh, đến nỗi anh sung sướng quá mà nói rằng: "Tôi được cuộc đời này cho nhiều lắm!", là người vợ yêu và đứa con trai hiếu thảo của anh.

Vợ anh đã can đảm yêu thương và hết lòng vì sự nghiệp của anh. Đứa con anh có được là vì "trời đã không lấy hết của mình" - anh nói vậy nên cho mình một đứa con hết mực hiếu thuận yêu thương bố. Nó biết bố yêu văn học nên đến bờ bến nào của đại dương nó cũng tìm bằng được những cuốn sách bố cần, bố yêu thích nhưng ngày trước bố không đủ tiền mua. "Nó lại còn vẽ nữa chứ, một thủy thủ tàu viễn dương mà yêu thích vẽ, đặc biệt là bút pháp Van Gog nữa đấy cậu ạ". "Có lẽ cũng vì nó yêu mình quá đấy thôi".

Bây giờ thì nhà thơ Trần Quốc Minh không phải vắt cái xác lấy tiền nuôi con trai và cho con trai ăn học nữa. Con trai anh đã có thể gánh vác được "cái giang sơn bé nhỏ" của bố trao cho rồi. Chỉ có điều kiếp tằm (là anh bảo thế) không lẽ ăn rồi lại chẳng nhả tơ sao. Rồi anh tủm tỉm cười mãn nguyện.
Thôi thì nhà thơ cứ việc tuân theo cái tập tính của con tằm hay là nghiệp trời đã định để mà trả nợ những gì mà trời và đời đã cho anh.

VŨ QUỐC VĂN

Vu vơ

2009-08-25 @ 00:08 in Thơ

Vu vơ

Nhặt lá bàng rơi ngõ vắng

Bâng khuâng chiều muộn xuân về

Ngập ngừng tiếng chim muốn hót

Khuất sau nỗi nhớ vu vơ...

 

Sao đem lẻ bóng ra đi

Để lại nỗi buồn ủ rượu

Nhâm nhi một chiều xuân ấy

Để lá bàng xanh trái mùa

 

Gửi chút gừng cay muối mặn

Cho phía ngọt ngào phương xa

Hắt hiu lối bằng ngõ vắng

Rêu phong vẫn đợi ai về.  

2005

ĐÀO QUANG KHẢI

Những đời sông khô khát

2009-08-24 @ 05:41 in Bàn về văn chương

Những đời sông khô khát

(Đọc Dòng sông tật nguyền - Tập truyện ngắn của Phạm Thanh Khương - NXB Công an nhân dân, 2009)

Với ba nhân vật chính: Ông bố, cô Hến và tôi, một không gian truyện khi mở ra, khi co thắt kể lại số phận của một gia đình làm nghề chài lưới lênh đênh sông nước nhiều bi kịch. Ông bố tính tình bạo liệt và cộc cằn, ăn sóng nói gió, sống bằng nghề đánh chài mò đầy hiểm nguy. Cô Hến nhẫn nhịn, sống bên người đàn ông thô cộc như một đồ vật có cũng được mà không có cũng được, chịu đựng, ít lời và ẩn chứa một lí do nào đó chỉ mở ra ở kết truyện. Tôi, cái cô bé của người đàn bà không chung thủy cứ lớn lên phổng phao và đau đớn  giữa những bi kịch của người lớn. Cả cái bộ ba nhân vật ấy sống lần sống lữa bên nhau như những bóng mờ, yêu thương như thú hoang, mà vẫn ngờ vực, đố kị và bị coi rẻ. Khổ nhất là cô Hến, người chuộc nạn cho một tình yêu không tận thủy tận chung của chị gái mình. "Cá đánh lắm cũng hết, người ở lâu dễ hư. Ma quỷ yêu quái chẳng qua là ở mãi một chỗ mà thành. Mèo già hóa tinh thành cáo, chó dữ nuôi lâu phát rồ''. Cái cách chì chiết mà ông bố yêu vợ và độc đoán bị vợ phản bội luôn chọc vào ngẫu nhĩ người đàn bà mong được sống cho ra một con người, có bà con, xóm giềng, họ mạc, chí ít là sự âu yếm. Và, như thế cái sự người đàn bà bỏ người làm nghề chài mò để chạy theo tiếng gọi của "con đực" khác diễn ra như một tất yếu. Nhưng, người đàn ông làm nghề đánh chài mò kia không vì số kiếp nhiều bất nhẫn mà không dồn sự yêu thương khắc khổ  cho đứa con riêng rứt ruột bỗng chốc thành côi cút. "Vì sao lại có sóng hả bố". "Vừa bưng bát cơm lên, ông nói giọng còn lụng bụng trong miệng:- Vì đời sinh ra bố". Khi Hến đến, ông không thể còn là một con người bình thường được nữa. Ông dễ nổi đóa và càng ngày càng thô lỗ trước bất cứ điều gì. "Một lần trong bữa ăn, cô (Hến) hỏi bố tôi về chuyện tại sao con sông này có tên là Bo, con sông kia có tên là Mã, con sông nọ có tên là Sứ. Sau mấy câu trả lời ậm ừ, cô ấy cứ hỏi mãi. Chẳng nói chẳng rằng, ông ném luôn bát cơm trên tay vào mặt, chửi: - Miệng thối như cứt mà ăn cơm cứ nói lắm. Bọt phun phè phè ra hết mâm ai còn dám ăn. Cô về hỏi thằng bố cô ấy. Dứt lời, ông đứng lên bê thốc cô ném thẳng lên bờ, nhổ neo đẩy thuyền đi không thèm ngoái lại"". Ngay từ truyện ngắn Dòng sông tật nguyền khởi đi của tập truyện, nhà văn Phạm Thanh Khương đã ý thức và tâm huyết viết về những số phận có đặc thù riêng - gia đình và xã hội thu nhỏ của những người làm nghề chài lưới phập phù sông nước đầy tự do, phức tạp về cá tính, bất hạnh rập rình, cô tẻ và cách biệt nhiều giữa cộng đồng. Cách kể kiệm lời. Nhân vật in tạc từng tính cách rõ nét. Đời sống của họ thường khổ nhiều hơn vui, bất hạnh đón đường nhiều hơn hạnh phúc. Dẫu vậy, "Nếu dòng sông là cuộc đời thì những người làm chài sẽ có hai cuộc đời, một cuộc đời của người và một cuộc đời của sông...Dẫu trong hay đục, dẫu mùa mưa hay mùa khô, dẫu là gì đi chăng nữa thì sông vẫn cứ là sông. Nơi ấy tôi sinh ra. Tôi chỉ cần biết thế". Và, "Đời đã sinh ra cha để cho những dòng sông. Còn tôi, sông đã sinh ra để cho những cuộc đời như cha, mẹ và cô Hến".    

Truyện ngắn "Bốn chiều gió cả" lại là một cảnh, đời đầy kịch tính, đau xót và dữ dội. Người cha nhiễm căn bệnh quái ác sau những năm tháng chiến đấu từ mặt trận phía Nam trở về. Đứa con cũng nhiễm bệnh truyền từ người cha. "Những ngày có gió..., người tôi nổi mẩn ngứa ngáy... Từ những nốt mẩn ngứa ban đầu như muỗi đốt cứ to dần lên bằng quả ổi, bưng mủ. Bao giờ những nhọt bọc đó vỡ ra, mủ, máu chảy đến đâu thì chỗ đó lại nổi mẩn ngứa. Mùi tanh của mủ làm cho bày ruồi nhặng kéo về từng đàn, bu kín khắp người. Có những lần, tôi quờ tay nắm cũng được bốn năm con nhặng xanh...Tôi cũng sợ chính cái mùi tanh tanh khăm khắm đến lợm giọng từ người tôi tỏa ra, cái mùi mà bọn trẻ trâu bảo không khác gì mùi cóc chết thối".

Tôi đọc cái truyện ngắn này thấy rất choáng váng. Choáng váng về di chứng chiến tranh đeo đẳng số phận của không ít người lính và gia đình họ, di hại sang con cháu họ rất tàn độc. Tôi càng choáng váng vì sự cô đơn của họ giữa tình xóm nghĩa làng. Họ đã vì Tổ quốc mà dâng hiến cả tuổi trai . Nhưng khi trở về. Họ, (chí ít là những nhân vật như người cha và người con trong truyện ngắn này) tự biết cộng đồng ghê sợ và không muốn họ sống gần. Đến ngay cả người vợ của người lính bị di họa kia cũng bỏ chồng bỏ con vì kinh hãi. Nhưng may thay, tất cả không phải đều là như thế. Bên cạnh cha con người chiến binh đơn độc nọ vẫn còn một lão Vấn với vẻ ngoài khó ưa, có thể là vô số tính xấu, nhưng mang một trái tim thánh, luôn yêu thương cha con người lính bị di họa hành hạ, không bỏ rơi họ và ngoảnh mặt !. "Tổ đầm của chúng ta bây giờ lại vẫn có ba người. Hai đồng chí bố và một đồng chí con cùng cây súng cao su. Cuộc chiến của chúng ta bây giờ là đầm cá và các nhọt bọc".

"Thời gian không của người", "Sóng vẫn vẩn vơ trôi" lại là những mẫu số phận khác trong cộng đồng lẻ bạc của những gia đình sống chết với nghề sông nước được Phạm Thanh Khương viết tài hoa, tinh tế với nhiều day dứt. Nếu như trong "Thời gian không của người" là bi kịch nặng nề giữa ân ân oán oán của hai gia đình sống trong cái làng ven sông có nghề làm gai vó, thì "Sóng vẫn vẩn vơ trôi" là cuộc trả thù tàn lạnh của lão Kiếm với lão Được. Ở câu chuyện này, hình ảnh lão Kiếm kiên nhẫn rũa hàng vốc lưỡi câu để trừng trị con cá măng từng đâm trộm thuyền câu của lão chỉ như một can cớ mang đầy tính tượng trưng trong thiên truyện. Thực ra, cái con cá măng cụ thể chính là lão Được - cha đẻ ruột của đứa con lão Kiếm nuôi nấng. Dẫu lão Được Không có lỗi, nhưng "Tò vò mà nuôi con nhện" thì lão Kiếm cay đắng âm ỉ không chịu nổi. Bập vào đoạn kết, cái cách lão Kiếm  lừa được lão Được ra khúc Rủ rồi giãy chết cuốn trong tay lưới mà rợn da gà. Kẻ bất phân phải trái sau cú ra đòn, thản nhiên đến lạnh lùng: "...Lão Kiếm buông se điếu, đẩy chiếc bát ra xa, nhấm nhẳn: - Nay không có cá đâu mà ngóng. Lên khúc Rủ mà đưa lão Được về. Nhớ gọi cả thằng Lợi đi cùng". "Ngược chiều gió mùa, bà Tèo lật đật chạy theo triền đê, bóng bà cứ vật vờ, vật vờ trôi trên mặt sóng".

Tôi không có ý chi tiết vào từng chuyện trong tập truyện. Tuy nhiên, khi đọc toàn mạch cả tập Dòng sông tật nguyền tôi luôn bị bứt rứt trước những số phận đời chài lưới nghiệt ngã trôi dạt trên sông nước. Cái lớp người sống ngâm da, chết ngâm xương mà Phạm Thanh Khương đã đứt ruột sinh trên từng trang chữ ám ảnh tôi rất nhiều. Phạm Thanh Khương rất mạnh khi chuyên sâu vào đề tài những người dân chài. Có lẽ, cái đồng đất Thái Bình mang cả lịch sử và máu xương những người lính thời phong kiến còn chưa xa, những điền nông từng bất chấp chướng khí đến đất này mở ra những cánh đồng ngút ngát lấn về phía biển, những toán dân chài lướt theo cùng những người lấn đất sống chìm nổi phó mặc cho sông nước để kiếm tìm một cuộc sống tạm bợ, nhiều bất trắc... Tất cả vốn sống tích luỹ và hiểu biết phong phú có được giúp cho những trang văn viết về đề tài sông nước của anh sống động, phong phú, trung thực và không phải ít sự nghiệt ngã.

Có thể dẫn ra từ bất kì truyện ngắn nào của tập sách này những đoạn văn sống động viết về nghề chài, viết về cảnh đời sông nước. Anh viết rất tinh tế về cách làm gai vó. Anh viết về những nỗi người cô đơn bị hắt hủi. Anh nhuần nhuyễn và làm chủ những thoại ngắn bộc lộ và khắc họa tính cách từng nhân vật... Có hai truyện ngắn của tập sách này tôi đặc biệt bị nó cuốn hút, đó là "Sóng vẫn vẩn vơ trôi" và "Mùa hội diều làng chài". Nếu ở "Sóng vẫn vẩn vơ trôi", số phận của những kiếp sông khô khát cuốn tôi phập phồng theo từng diễn biến và mạch kể, thì với "Mùa hội diều làng chài", chỉ hầu như rất kiệm với một nhân vật trung tâm, một nhân vật phụ, truyện được viết như một mạch thơ buồn trôi chảy. "Mùa hội diều làng chài" viết khéo như một truyện không cốt, thế mà xôn xao và sâu lấp lánh. Câu chuyện bềnh bồng những lời nguyền được nhà văn Phạm Thanh Khương viết như liêu trai. Đọc đi, đọc lại vẫn ngẩn ngơ thích.

Tôi đọc tập truyện Dòng sông tật nguyền của Phạm Thanh Khương nôn nao nhớ tới tập truyện "Những người hái rong biển" của A.N.Tôlikim - một nhà văn quốc tịch Nga gốc Triều Tiên. Phạm Thanh Khương cũng đặc tả và chuyên chú vào những số phận đời chài nghiệt ngã và khác thường. Tuy nhiên, A.N.Tôlikim chủ trương thiên nhiên đơn độc như ở một thế giới khác với những số phận nhân vật đầy cô đơn tưởng chừng không thể có trên trái đất. Hai nhà văn có sự giống nhau ở vị truyện và dư ba sau khi gấp trang sách mà không băng giá. Có lạnh đấy (cách kể), nhưng hầm hập hơi nóng phả tới từ cuộc sống bức bối, sống động đâu đây.

Với tôi, ở tập sách thứ tư này, Phạm Thanh Khương đã thành công khi anh không tránh né và chối từ những gì mà anh đã chứng kiến và trải nghiệm. Xin chúc mừng một tập truyện hay nữa của anh !

Vũng Tàu, 29-4-2009

HOÀNG QUÝ

Nhà thơ Lê Đại Thanh hòa mình với Cách mạng

2009-08-23 @ 06:30 in Thông tin tổng hợp

HOÀI KHÁNH: Ngày 23-8-1945, người dân thành phố Cảng cùng với cả nước đứng dậy làm cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Hải Phòng là cái nôi nuôi dưỡng nhiều tài danh văn nghệ sĩ và chính họ cũng đã làm rạng danh Hải Phòng. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã đi theo Cách mạng, phụng sự nhân dân. Trong số ấy, phải kể đến nhà thơ Lê Đại Thanh. Nhân kỷ niệm 64 năm  Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một bài viết về cố nhà thơ này.

Nhà thơ Lê Đại Thanh hòa mình với Cách mạng

Nhà thơ Lê Đại Thanh là một trong số ít trí thức đất Cảng đi theo Cách mạng từng sống qua hai chế độ, nên hiểu rất rõ cái giá của Độc lập, Tự do. Điều đó đã đi vào thơ ông từ những năm 60, thế kỷ 20, một cách tự nhiên:

                        Tôi bước vào đời đã ngả theo Cách mạng

                        Như hoa hướng dương quay theo ánh Mặt trời

                        Đảng là đại dương. Tôi là con cá hồng tươi

                        Đảng là núi. Tôi là con chim ngực đỏ.

Khổ thơ rút từ bài Di chúc của ông như tóm lược cuộc đời một trí thức đến với Cách mạng bất chấp hiểm nguy, và cả gian nan, thử thách với chính bản thân ông.

Xuất thân từ một gia đình trí thức, nhà thơ Lê Đại Thanh quê gốc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Ông sinh tại Hải Phòng ngày 8-5-1907, mất ngày 17-7-1996. Ông học trường Bonnal (nay là trường THPT Ngô Quyền, Hải Phòng), rồi lên Hà Nội học trường Bưởi, đỗ bằng diplome, sau đó học sư phạm, năm 1927 ra trường, được bổ nhiệm về dạy học ở Nam Định, năm 1932 lại đổi lên dạy ở Hoà Bình. Chính ở đây ông đã thấy những người cộng sản bị thực dân Pháp đưa đi đày nhà tù Sơn La giải qua bến Nhọc, gần trường ông; trong số này, Lê Đại Thanh nhận ra hai người ông từng gặp và nghe họ nói về tự do, độc lập và hữu ái giai cấp, đó là đồng chí Trường Chinh, ông đã gặp ở Nam Đinh, do kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện giới thiệu, và người thứ hai là Trần Búa, một chiến sĩ cách mạng ông biết từ hồi ở Hải Phòng. Sự gặp gỡ ấy tuy ngắn ngủi nhưng để lại trong lòng người trí thức trẻ giàu nhiệt huyết Lê Đại Thanh niềm cảm kích sâu sắc. Cũng từ đó, ông có chuyển biến tích cực trong thái độ và tình cảm đối với cách mạng. Năm 1935, ông đang dạy học ở Hoà Bình thì bị đuổi lên dạy ở thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng). Thời gian ở Nước Hai, ông tích cực hoạt động xã hội, gây được thiện cảm với nhân dân, nhất là những đảng viên cộng sản hoạt động bí mật ở trại nuôi ngựa Nước Hai. Bị thực dân Pháp nghi dính líu vào một vụ phát truyền đơn ở chợ Nước Hai, ông phải nhờ người chạy mất 200 đồng Đông Dương để được chuyển về Hải Phòng, dạy ở trường Hàng Kênh.

Về Hải Phòng giữa lúc phong trào cách mạng ở thành phố Cảng đang lên cao, một số người bạn của ông trước đây, người đã tham gia hoạt động cách mạng, như Nguyễn Công Mỹ, Lê Đông, người tuy chưa tham gia nhưng cũng có nhiều thiện cảm với cách mạng, như Thế Lữ, Lan Sơn. Chính những ngày đầu trở về Hải Phòng sau bao năm xa thành phố, Lê Đại Thanh đã được Nguyễn Công Mỹ, một cán bộ cách mạng, tuyên truyền, vận động ông đến với con đường cách mạng. Cũng từ đó, ông tích cực tham gia hoạt động dưới sự lãnh đạo của cơ sở Đảng thành phố. Khi thì vận động nhân dân quyên góp tiền nuôi giấu cán bộ bí mật, khi tuyên truyền giới tư sản ủng hộ vàng để mua vũ khí cho tự vệ. Hội văn hoá cứu quốc Hải Phòng thành lập, ông được cử làm hội trưởng; ông đã có nhiều hoạt động nhằm tập hợp giới trí thức, văn nghệ sĩ thành phố xung quanh mặt trận Việt Minh. Năm 1945, ông là thành viên của tổ Việt Minh, trong đó có Nguyễn Công Mỹ và thi sĩ Lan Sơn, làm nhiệm vụ tìm cách mua súng gửi ra chiến khu, bán báo lấy tiền gây quỹ cho Việt Minh... Công việc bị lộ, ông cùng tổ bị hiến binh Nhật bắt giam ba tháng. Trong bài thơ Di chúc viết năm 1965, ông cũng nói tới sự kiện này: "Tôi đã nằm tù với tổ Việt Minh đất bể". Ra tù, ông tiếp tục tham gia hoạt động tuyên truyền, vận động trong giới trí thức, văn nghệ sĩ bằng nhiều hình thức ủng hộ, giúp đỡ Việt Minh.

Cũng chính những ngày sục sôi cách mạng năm 1945, nhà thơ Lê Đại Thanh cho ra đời bài thơ mang đầy chất tráng ca Chương Dương hành khúc, hừng hực nhiệt huyết của tuổi trẻ sục sôi cứu nước:

                        Ta học cái đẹp người quân tử

                        Ta khinh cái hèn kẻ ngu si

                        Nam nhi!

                        Nam nhi!

                        ...Đời ta vui sống một ánh chớp

                        Kéo theo một tràng sấm ầm ì

                        Tiếng sét ta chờ sét đã đánh

                        Tan bày giặc cướp lũ man di.

Khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, ông hăng hái tham gia cướp chính quyền ở Hải Phòng. Cách mạng thành công, ông được mời tham gia vào Uỷ ban cách mạng lâm thời thành phố, đảm nhận chức phó chủ tịch phụ trách tuyên truyền. Khi thực dân Pháp gây hấn ở Hải Phòng (20-11-1946), với cương vị phó chủ tịch Uỷ ban cách mạng lâm thời thành phố phụ trách tuyên truyên, nhà thơ Lê Đại Thanh đã tổ chức đội kịch đi các khu vực trong nội thành tuyên truyền, vận động nhân dân làm "vườn không nhà trống" ngăn cản bước tiến của giặc. Kháng chiến bùng nổ, ông được điều lên Liên khu ba, đảm nhận chức phó giám đốc sở thông tin. Năm 1950, ông được điều sang quân đội, cùng tiểu đoàn 124, trung đoàn 42 với Nguyễn Khải (nhà văn), rồi làm báo "Bạch Đằng" của Bộ tư lệnh Liên khu ba. Hoà bình lập lại (1954), ông được điều về báo "Văn nghệ", cùng tổ thơ với Hữu Loan, Quang Dũng, Trần Lê Văn, Huy Phương. Những bài thơ trữ tình mang đậm chất dân gian của Lê Đại Thanh, như Tôi yêu chuyện cổ tích nước tôi, Hát chèo, Đám cưới chuột đỏ xanh đều được viết trong giai đoạn ông ở báo Văn nghệ (1954-1959). Ông cũng là hội viên sáng lập Hội nhà văn Việt Nam (1957). Sau chuyến đi thực tế (năm 1959) về nhà máy điện Cửa Cấm và cảng Hải Phòng, ông xin trở lại Hải Phòng công tác ở sở văn hoá thành phố; đến năm 1965, ông xin về hưu trước tuổi.

Nhà thơ Lê Đại Thanh là một người tràn đầy nhiệt huyết, luôn luôn hướng theo chân lý, sự công bằng và lẽ phải. Ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường ông đã có thiện cảm với cách mạng, rồi khi vào đời, dù ở chốn thị thành hay lên miền rừng heo hút, ông vẫn tìm được cách liên lạc với tổ chức cách mạng, ngay cả khi bị hiến binh Nhật giam cầm khắc nghiệt suốt ba tháng trời, nhưng tinh thần người trí thức trẻ Lê Đại Thanh vẫn không nao núng, khi ra tù lại lao ngay vào hoạt động tuyên truyền, vận động giới trí thức, văn nghệ sĩ thành phố ủng hộ, giúp đỡ về mọi mặt cho Việt Minh chuẩn bị khởi nghĩa.

Nhiệt tình đi theo cách mạng, bằng lao động sáng tạo của mình, ông sáng tác nhiều tác phẩm phục vụ đông đảo công chúng thành phố, góp phần đẩy lùi văn hoá nô dịch, đồi truỵ của thực dân đang lan tràn ở Hải Phòng hồi bấy giờ. Sau khi giành giải nhì của báo "Ngày nay" của Tự lực Văn đoàn (1936) với vở kịch Hai người trọ học (giải nhất thuộc về Nguyên Hồng với tiểu thuyết Bỉ vỏ và Vi Huyền Đắc với vở kịch Kim tiền) được ít lâu, Lê Đại Thanh cùng với người bạn rất có cảm tình với cách mạng là nhà thơ Lan Sơn thành lập Đoàn kịch Đại Thanh- Lan Sơn, công diễn nhiều vở gây tiếng vang trong công chúng Hải Phòng. Sau này đi tham gia kháng chiến, khi làm phó giám đốc sở thông tin Liên khu ba hay những năm tham gia quân ngũ, ông vẫn nhiệt tình sáng tác những vở diễn phục vụ kịp thời bộ đội và nhân dân, như Người mẹ tiễn con ra trận, Hố chông địch hậu, Chiến thắng Đông Đô... Lê Đại Thanh là một người đa tài, ông dạy học, làm thơ, viết kịch, diễn kịch, viết văn, làm báo, nhưng trước hết ông là một nghệ sĩ đầy nhiệt huyết và niềm tin. Với ông, niềm tin là tất cả, khi người ta đã có niềm tin thì đường đi cũng không còn lo chông chênh nữa và cõi lòng cũng thấy bình ổn hơn. Niềm tin là cây đèn biển, là ngọn lửa sưởi ấm lòng ta, dẫn dắt ta tới chân lý rạng ngời phía trước:

                        Niềm tin ơi!

                        Em là cây đèn biển của anh

                        Anh hết lo ngại cái chông chênh không bình ổn.

                        ...Tình yêu là mặt trời của người thi sĩ

                        Niềm tin là ngọn lửa bảo vệ chân lý.

Đấy là mấy câu bất chợt nhặt ra từ bài thơ Niềm tin của nhà thơ Lê Đại Thanh, một bài thơ có lẽ được viết ra như một sự đúc kết tâm trạng và suy nghĩ của ông sau bao năm hoà mình vào dòng thác cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ.

CAO NĂM

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà thơ Lê Đại Thanh chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu Đại hội lần thứ 5 Hội Nhà văn Việt Nam (1995).

Người khởi xướng Ngày thơ nguyên tiêu?

2009-08-21 @ 18:48 in Thông tin tổng hợp

Người khởi xướng Ngày thơ nguyên tiêu?

Lúc nào tôi cũng nghĩ Hội Nhà văn Việt Nam là người khởi xướng ngày thơ nguyên tiêu (rằm tháng giêng) hàng năm, nhưng sự thực không phải như vậy. Cách đây vài hôm Trịnh Anh Đạt mời tôi, Thi Hoàng, Hoài Khánh và Vũ Hiển xuống dự buổi giao lưu chân dung nhà thơ lục bát xứ Thanh tại Khách sạn Hoa Thành Đạt, Đồ Sơn, Hải Phòng. Thật bất ngờ khi đọc những dòng lưu bút của nhà thơ Phạm Tiến Duật và Nguyễn Duy viết rằm tháng giêng 1999:

Không thể quên được ấn tượng tốt đẹp của Đêm thơ TRĂNG và BIỂN, ấn tượng tốt đẹp của HOA THÀNH ĐẠT, Lệ Hoa và Trịnh Đạt đối với đồng đội, bạn bè.

Mong thơ mãi hay

Mong sự nghiệp mãi phát đạt

Mong hạnh phúc mãi tràn đầy

Xuân 1999

RẰM THÁNG GIÊNG

Phạm Tiến Duật

Còn tờ fax của nhà thơ Nguyễn Duy ghi:

Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, văn phòng miền Nam, 43 Đồng Khởi, thành phố Hồ Chí Minh, tel: 8298802, fax: 8221292

Hồ Chí Minh ngày 26 tháng 02 năm 1999

Thân gửi bạn Hoa Thành Đạt

Rất cảm ơn lời mời dự Đêm thơ Nguyên tiêu của bạn. Nhưng rất tiếc, tôi đang lo dở dang việc đại sự: Làm nhà, không thể thu xếp đi Bắc vào dịp này được. Mong bạn hiểu và thông cảm cho.

Chúc một đêm thơ đẹp và vui

Chúc tất cả các bạn thơ sức khỏe và có nhiều thơ hay

Chúc một năm mới thật tốt lành cho mọi người nói chung và cho gia đình bạn nói riêng. Mong gặp một dịp vui sắp tới.

Thân mến

Nguyễn Duy

Tạp chí Tiếp thị Quảng cáo Việt Nam số tháng 04 năm 2000 có bài: Có một nhà doanh nghiệp như thế của Vũ Anh Minh. Đoạn cuối có ghi: Trong hai năm 1998 -1999, hai chương trình "Đêm thơ, ca nhạc, vũ hội" đón Noel và "Nguyên tiêu" đã được tổ chức tại khách sạn Hoa Thành Đạt, có nhiều người yêu thơ, yêu ca nhạc hội tụ về đây: Đồ Sơn có, Hải Phòng có  và cả Hà Nội cũng có. Nhà thơ Phạm Tiến Duật, Phó Chủ tịch Hội đồng thơ - Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã tới tham dự "Đêm nguyên tiêu" và phát biểu ý kiến... "Qua đêm thơ hôm nay đã khơi dậy trong tôi một tình cảm sâu nặng với Đồ Sơn nói chung, người bạn thơ Trịnh Anh Đạt nói riêng. Tôi hy vọng Đồ Sơn mãi mãi giữ được nếp sinh hoạt thơ như hôm nay. Riêng Trịnh Anh Đạt, tôi đã đọc rất kĩ những bài thơ "Lục bát tình" của anh. Có thể nói đây là những bài thơ hay, có chất lượng và rất đáng khích lệ..."

Ba bằng chứng trên cũng là quá đủ, ta có thể tạm kết luận tới thời điểm năm 1998 Trịnh Anh Đạt là người đầu tiên khởi xướng "ngày thơ nguyên tiêu"?

TÔ NGỌC THẠCH

Chân trời nơi đâu?

2009-08-20 @ 07:02 in Truyện ngắn

Chân trời nơi đâu?

Tôi nằm bệp xuống nền nhà, gác mõm lên hai chân trước, nghĩ ngợi. Cái đá đít lúc nãy của ông chủ Khánh làm tôi vẫn còn hơi tự ái. Chẳng qua vì theo thói quen cảnh giác của họ nhà chó chúng tôi, liếc thấy hai gã ngồi nói chuyện với ông có vẻ khả nghi, tôi gầm gừ báo hiệu. Âý thế là ăn luôn một phát vào mông:

- Mích! Biến!

Biến thì biến! Tôi cần quái gì nghe những chuyện rối rắm của các người. Tôi lủi nhanh ra góc hiên nằm, vờ nhắm mắt.

Trong nhà, câu chuyện kết thúc. Khi hai gã đàn ông kia đứng dậy, ông Khánh dặn dò thêm:

- Các cậu làm đúng thoả thuận nhé. Tôi vay vốn cơ quan, lại chủ vận đơn, sơ sảy ra chuyện gì, chết giở đấy.

Gã mặc áo xám bắt tay ông Khánh:

- Yên tâm đi! Vốn chung, bọn em cũng phải cẩn trọng chứ. Anh em làm ăn với nhau, còn về lâu về dài...

Gã kia chêm vào:

- Hàng toàn gỗ tạp, có dấu búa kiểm lâm hẳn hoi. Trạm A, X, Z... là người nhà, lo gì.  Tối nay, ông anh cứ kê đầu cao lên mà ngủ cho khoẻ.

Chết thật! Tôi không thể hiểu tại sao, một người như ông Khánh lại nhúng tay vào việc buôn gỗ kia chứ? Cái bao tử của ông to bằng chừng nào? Mỗi ngày ông ăn bao nhiêu bữa mà phải khốn khổ thế?

 Âý, loài khuyển, mã chúng tôi thì chỉ biết nghĩ thô thiển đến miếng ăn, miếng uống, chứ loài người ấy à, phức tạp lắm. Họ có trăm nghìn lí do để làm cho cuộc sống rắc rối thêm, sau đó lại kêu giời kêu đất cho mà xem.

Với thâm niên ba năm trong nghề "vệ sĩ", tôi hiểu rằng, sự trung thành với chủ là đức tính hàng đầu cần phải có đối với một con chó lai nửa mùa như tôi. Không vì một vài cái đá đít mà mang lòng oán giận. Vả lại, thần kinh loài người bây giờ rất bất ổn, lơ tơ mơ là họ nhà tôi biến thành cầy tơ bẩy món liền! Tôi sợ bị đổi chủ lắm. Được cái, ông chủ Khánh quý tôi, tuy đôi lúc có nóng nảy một chút. Tôi không thể không lo cho ông về cái vụ buôn bán gỗ lạt này.

Hay là công việc ở công ty đổ bể?

Hay là...Thôi chết!... Để tôi lần hồi nhớ từ đầu, xem lại mọi sự việc có đúng không nhé.

Cách đây hai năm, tôi được ông Khánh đem theo vào miền Trung công tác. Tôi nhớ, ngày đầu tiên đến nơi ở mới, ông gọi tôi đến ngồi bên cạnh, dưới bàn ăn. Tôi nghếch mõm lên, ông chủ đang gặm cái tỏi gà, nhìn tôi, trò chuyện:

- Mích! Từ nay, chỉ có tao với mày làm bạn với nhau thôi!... Mày biết không, chúng nó lùa tao vào xứ chết tiệt này, để rộng chỗ mà xâu xé nhau cái chức phó tổng giám đốc Tổng công ty...

Ôi dào! Tổng với tểnh! Vứt cục xương xuống! Tôi ngước nhìn ông chủ, che giấu sự lúng túng bằng cách ve vẩy đuôi. Khổ lắm, tuy gần gũi loài người, nhưng nhiều khi, tôi cũng chẳng hiểu tiếng của họ. Sao lại "lùa"? sao lại "xâu xé"? Tôi tưởng chỉ loài súc vật chúng tôi mới có những từ ấy thôi chứ? Bởi chúng tôi không bày vẽ lắm thứ luật như người, mà chỉ có một thứ luật - ấy là luật răng nanh! Cái cục xương của tôi kia chẳng hạn, đố thằng nào dám vo ve đến gần!

Rốp! Sật! Sật! Sật! Tôi nhai rau ráu. Mặc kệ ông chủ vẫn lầm bầm những lời khó hiểu. Hết cục xương, tôi lại ngẩng lên chờ đợi, quên khuấy việc phải ngoáy đuôi nịnh nọt. Ông chủ tợp một hớp rượu rõ to rồi kể lể: Hai con trai tao chết tai nạn giao thông thảm khốc. Vợ tao sinh chứng lẩm cẩm, suốt ngày ngồi tụng kinh, gõ mõ. Mụ bảo tao rằng: hai thằng con chết là tại tao, tao mắng chúng nên chúng giận, lấy xe máy phóng đi bụi. Mụ vợ cũng coi tao như chết rồi... Buồn lắm Mích ơi!...

Ông gục đầu xuống bàn. Một giọt nước mắt rơi chúng cái mõm đen sì của tôi. Thì ra ông đang đau khổ. Khi con người ta rơi nước mắt là họ đau khổ. Ông chủ ơi! Biết làm sao được, số phận mà. Tôi gác mõm lên đùi ông, tha thiết an ủi. Ông xoa xoa cái đầu bù xù của tôi, bê cả đĩa thịt xuống cho tôi chén.

Ngày ngày, ông bận lo công việc, nhốt tôi sau cánh cổng. Tôi quanh quẩn ở nhà, rình bắt những tên chuột thập thò trong kho hàng. Ông chủ tôi nguyên là trưởng phòng của một Tổng công ty trực thuộc Trung ương ngoài Bắc, vào trong này, được thăng chức giám đốc chi nhánh, phụ trách việc tiêu thụ sản phẩm của công ty khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Hình như công việc không được trôi chảy lắm. Ông đi liên miên, về nhà lại ngồi bên internet đến khuya. Ông quát tháo ầm ầm trên điện thoại:

- Các "bố" vào đây mà thực mục sở thị... Những loại ấy bây giờ tràn ngập thị trường. Ở đâu  ấy à? Hỏi thế mà cũng gọi là hỏi... Có cắm mô tơ vào đít tôi cũng không thể chạy hết hai vạn sản phẩm năm nay! Tây Nguyên à, đi rồi... Biết gì mà nói...

Ông cụp máy cái rụp, mặt đỏ gay. Loài người khổ thật. Suốt ngày phải lo toan, tính toán. Lo gần rồi lại lo xa. Lo cho mình rồi lại lo cả cho con, cho cháu, cho chắt, chút, chít, chụt, chịt...

Bỗng, oắng!...oắng!...o...ắ...ng...Tôi giật bắn người bởi tiếng kêu la thảm thiết của đồng loại ở nhà bên kia đường. Chỉ có bị đánh đau lắm tiếng kêu mới kinh hoàng như thế. Thật khốn nạn! Loài người cho rằng, họ là chúa tể muôn loài nên có quyền hành hạ, tàn sát chúng tôi bất kể lúc nào chăng? Hãy đợi đấy! Các ngươi sẽ được quả báo! Trái đất đang nóng dần lên rồi, chỉ một cú nổ big bang, tất cả sẽ chỉ còn là một đám mây bụi! Lúc ấy xem còn ai làm chủ trái đất?

Ô hay! Sao tôi lại mắc chứng vẩn vơ thế này nhỉ! Đang lo nghĩ về việc vì sao ông chủ đi buôn gỗ kia mà?

Xịt!... Tôi buồn mũi hắt hơi. Dứt khoát không phải do làm ăn rồi. Gỉa sử làm ăn có đổ bể chăng nữa thì cũng chẳng ngu gì ông phải liều mình đi cứu vớt công ty theo cái kiểu này.

Có lẽ mọi sự bắt đầu từ cái ngày đẹp trời phải gió ấy. Ông chủ tôi đi làm về, mặt tươi chẳng kém gì bó hoa đang cầm trên tay. Ông vỗ vỗ cái đầu xù của tôi mà nói rằng: (Gớm, sao hôm nay giọng ngọt thế!)

- Mích! Tối nay có khách! Cô Mùi đến!

Tôi dựng hết cả lông gáy lên. "Cô Mùi!" Đàn bà! Chết cha! Ông chủ  tôi dính đòn rồi. Kiểu gì thì kiểu, cuối cùng, đàn ông cũng thua đàn bà. Đàn ông chỉ có bảy vía, còn đàn bà những chín vía. Tôi dẩu mõm, kêu ầm lên:

- Gâu!  Gâu! Stop ngay! Ngu lắm!

 Nhưng ông hiểu lầm tiếng chó, cười hì hì:

- Mày cũng vui hả? Cái đồ mũi đen bóng này!

Chán quá! Tôi lủng lỉnh ra xó nằm. Kệ xác lão già đang hí hửng cắm hoa, dọn dẹp căn phòng, tắm giặt và chải tóc trước gương. Cũng phải công nhận ông chủ của tôi đẹp giai (À, đẹp lão chứ, vì năm nay ông đã ngoài năm mươi). Khuôn mặt quắc thước, dáng cao, tóc quăn tự nhiên, bồng bềnh lượn sóng và đôi mắt nhìn biểu cảm. Chao ơi! Con người dũng khí đầy mình kia sắp sửa sa vào chốn mê cung rồi. Cứ tủm tỉm đi! Rồi có ngày khóc cho mà xem.

Cô Mùi đến. Chiếc xe Jupiter đã cũ nhưng được cái sạch sẽ. Cô mặc bộ sườn xám có hàng cúc tím óng ánh. Khuôn mặt trang điểm nhẹ, không giấu được một vết sẹo trắng bên má trái.( Về sau, tôi được biết vết sẹo ấy là do thằng chồng say rượu ném con dao gọt hoa quả vào cô - Thì ra con người cũng có lúc ác hơn cả chó!). Bù lại, cô có  nước da trắng hồng, nụ cười xinh, giọng trong trẻo:

- Ồ! Con chó trông hay quá anh nhỉ! Tên nó là gì?

Tôi lùi lại đề phòng. Không biết đâu với miệng lưỡi đàn bà! Họ giả bộ giản dị, giả bộ làm nai, giả bộ quan tâm này nọ để dương bẫy đàn ông đấy. Khi bẫy sập, đàn ông chỉ còn nước lúc cúc tuân theo những hiệu lệnh ma quái của các ả mà thôi. Tôi phốc ra sau, đuổi mấy thằng nhái bén đâu đâu ngơ ngẩn lạc vào, mặc kệ hai kẻ đang cười nói huyên thuyên trong nhà.

Từ hôm đó, ông Khánh trở thành người khác hẳn. Ngày nào ông cũng dậy sớm tập thể dục, tưới tắm cây cảnh, vừa làm vừa nhọn mỏ huýt sáo. Hoa tươi lúc nào cũng nở rộ trong bình. Trước khi bước ra cửa, bao giờ ông cũng liếc qua chiếc gương một tí. Và hình như công việc của ông có vẻ trôi chảy hơn. Vẻ mặt ông thư thái. Ông không quát tháo om sòm trong điện thoại nữa. Tối, đi làm về, ông cắm cơm điện. Cô Mùi đến, đem theo thức ăn do cô nấu. Hai người ăn uống xì xụp. Cô Mùi khuyên ông không nên quán xá nhiều, đảm bảo sức khoẻ. Ông chủ gật đầu lia lịa. Những ngày đó, bao giờ tôi cũng được no phĩnh rốn. Tôi nghiệm ra rằng, có cô, cuộc sống của chúng tôi khấm khá hẳn lên. Hà cớ gì mà tôi phải ghét cô? Mất gì mà chả vẫy đuôi tít thò lò mừng rỡ mỗi khi cô đến? Cô yêu ông chủ, tất nhiên sẽ quý cả cận vệ của ông chứ! Và trong nhà này, tôi là kẻ lợi lộc nhất.

Nhưng rồi, có lúc, hai người cãi nhau. Giọng ông chủ bức xúc:

- Đàn bà thật lạ lùng. Nếu đàn ông không li hôn vợ cũ thì bảo bắt cá hai tay. Nếu li hôn thì lại bảo bất nhân, thất đức. Vậy bây giờ anh phải làm gì hở cái con quỷ con kia?

Cô Mùi cười khanh khách, ánh mắt vẻ ma quái:

- Anh đi mà hỏi ông trời! Em về đây! Chúc ngủ ngon! Bái bai!

Ông Khánh ngây thộn mặt ra nhìn theo. Đêm ấy, tôi thấy ông luôn trở mình, thở dài thườn thượt.

Nào, sướng chưa? Móng vuốt đàn bà bắt đầu thò ra rồi. Đây nữa, có lần, cô Mùi lim dim đôi mắt huyền mơ mộng:

- Người ta thường có ba điều ước. Em thì chỉ có mỗi một điều: Căn nhà nhỏ xinh dưới những tán lá cây xanh mát. Hai bên cổng vào, em sẽ trồng hai hàng hoa tóc tiên lấm tấm nụ đỏ. Lối đi rải sỏi lạo xạo dưới chân. Mảnh sân nhỏ  xanh um giàn hoa thiên lí. Chiếc ghế xích đu bên bờ ao rợp bóng cau. Hoa hồng thơm ngát trước nhà... Vợ hái rau trong vườn, chồng câu cá dưới ao... Ôi! Sống thế mới gọi là sống chứ!

Trời ơi! Cô ta vòi vẹt! "Căn nhà nhỏ xinh!" Tôi vẫn nghe nói trong thời buổi @ này, các đại gia, các giám đốc, những kẻ thừa tiền thường trả giá cho những cuộc tình già nhân ngãi, non vợ chồng bằng những căn hộ, hoặc cao hơn là những biệt thự xinh đẹp mà cả tam đại người lao động lương thiện không bao giờ dám mơ. Ông chủ tôi đâu có nhiều tiền như cô ta tưởng. Sống với ông từ ngoài Bắc, tôi biết hoàn cảnh gia đình ông rất rõ. Ông có một cơ ngơi khá khang trang ở ngoại thành nhưng cũng không thể gọi là giầu có được. Nhưng đàn ông là giống sĩ diện. Thể nào lão ta cũng to ve cái tỏ vẻ cho mà xem! Y như rằng, ông chủ tôi nhìn cô Mùi bằng ánh mắt của bậc thánh nhân đối với kẻ ăn mày:

- Em sống ở cái tổ chim tầng bốn ấy bao lâu rồi?

- Hai mươi năm, trong đó, mười lăm năm ông chồng liệt giường vì tai biến mạch máu não.

Ông Khánh lẩm bẩm: Cũng đáng đời cho thằng hay đánh vợ, giời cũng có mắt. Mười lăm năm, từ khi em mới có hai mươi sáu tuổi... đến núi cũng phải mòn...

Tôi ngớ người. Hoá ra cô cũng hoàn cảnh nhỉ. Nhưng người đàn bà nào khi muốn đẽo gọt đàn ông mà chả vẽ ra một sự đáng thương nào đấy. Nếu như tất cả các hoàn cảnh đáng thương trên đất nước cần được cứư giúp thì phải có hàng núi vàng mới xuể. Tôi sợ nhất con người ta vì tình thương, dẫn tới chỗ làm liều. Hậu quả càng thê thảm hơn. Tôi linh cảm điều này vì ông Khánh hấp tấp nắm tay cô Mùi, giọng chắc nịch:

- Khó gì điều ấy. Anh sẽ mua cho em một mảnh đất dưới chân núi, tha hồ trồng rau, trồng hoa...

Cô Mùi giãy ra:

- Núi nào? Cách thành phố mấy chục ki lô mét à? Em còn phải đi làm chứ. Thằng Chính mới học đại học năm thứ nhất. Còn tiền thuốc thang cho chồng, may mà em có chỗ làm lương cao đấy. - Cô lại cười khanh khách - Vào núi, anh không sợ em bị rắn cắn hổ vồ à?

Ông Khánh cũng cười:

- Ừ nhỉ! Mua đất ở thành phố mắc lắm, để anh tính...

Cô Mùi búng mũi ông:

- Là em nói chuyện trong mộng thôi, anh đừng tính quẩn.

Uí giời! Làm sao ông có thể ăn ngon, ngủ yên được khi giấc mộng của người đẹp không thành. Tôi dám cá một trăm khúc xương rằng: Gía như cô Mùi bảo ông trèo lên đỉnh núi kia, hái sao, hái trăng trên trời xuống thì ông cũng cứ trèo!

Nghĩ đến đây, ruột gan tôi như có lửa đốt. Tôi rên ư ử: Ông Khánh ơi! Dừng ngay vụ gỗ lạt này đi! Nào ông có hiểu tôi nói gì. Tình yêu khiến con người ta trở nên đui mù. Sau khi hai gã lục lâm kia ra về, ông vồ lấy điện thoại rối rít:

- A lô! Em yêu! Nếu bây giờ anh úm ba la một cái, ngôi nhà xinh của em hiện ra, em có cho anh ở chung không?

Cô nàng cười như nắc nẻ:

- Anh có nhớ câu chuyện Cáo muốn trú chân ở nhà Thỏ không? Em sẽ cho anh để nhờ một chân. Nếu anh thò nốt chân kia vào thì không phải là Cáo mẹ mà Cáo con sẽ vác rìu chặt đứt chân đấy!

Ông Khánh vứt bộp điện thoại xuống giường:

- Lúc nào cũng đem chồng, đem con ra doạ. Chán thế! Cái thằng chồng suốt ngày phải đóng bỉm ấy, làm khổ một đời nàng.

*

Ba hôm sau.

Tôi mừng quýnh khi thấy bóng ông từ xa. Ông đi đâu biệt tăm tích mấy hôm nay làm tôi và cô Mùi mong đến mờ mắt. Tôi chồm lên người ông rít ầm ĩ. Thế mà ông chẳng thèm nhìn. Đi thẳng vào nhà, ông ngã vật ra giường. Tóc tai bù xù, râu ria lởm chởm, mắt ông đỏ ngầu như mắt cá chày.

 Cô Mùi oà khóc:

- Anh Khánh! Có chuyện gì thế? Mấy hôm anh ngắt máy, em chẳng hiểu ra sao cả...

Cái nhìn của ông chủ sao mà buồn thê thảm:

- Mất trắng rồi em ạ! Anh bị bắt vì buôn bán, vận chuyển gỗ pơ-mu, loại gỗ quốc cấm. Sự thực, anh chỉ dám buôn gỗ tạp và đứng tên vận đơn.  Hai thằng mất dạy kia đã làm trò bịp bợm, tự ý tuồn thêm vào mấy trăm hộp pơ-mu, tưởng có người quen sẽ thoát. Chúng bỏ của chạy lấy người rồi. Anh đã trình bày đúng hiện thực với cảnh sát và báo cáo với tổng công ty. Họ cho anh về để giải quyết hậu quả...

Dừng một lát, ông nuốt nước bọt, nén nỗi uất ức xuống ngực:

- Trong một tháng, nếu anh không trả hết nợ cho Tổng công ty thì sẽ bị truy tố trước pháp luật về tội cố ý sử dụng trái phép công quỹ của nhà nước vào mục đích cá nhân, đó chính là tội tham ô tài sản của nhà nước...

- Vậy bây giờ, anh còn nợ bao nhiêu?

- Một tỉ hai!

- Trời ơi!

Cô Mùi sây sẩm mặt mày, tay run bần bật, bám chặt vào thành giường. Nước mắt cô rơi lã chã làm ông chủ tôi cũng không thể cầm lòng. Những giọt đau khổ của họ làm tôi lúng túng như gà mắc tóc. Trời cao đất dày ơi! Con người ta sống kiểu gì thế này? Vừa mới hôm nọ cười như ma làm, hôm nay đã khóc như cha chết rồi! Nhưng giờ đây, tôi không còn lòng dạ nào mà chê bôi họ được nữa. Nhìn vẻ mặt bơ phờ, đau đớn của ông chủ, tôi xót cả ruột.

Cô Mùi vừa nức nở, vừa thu xếp va li cho ông Khánh bay ra Bắc ngay hôm nay. Ông Khánh lấy chai rượu, rót ra hai li, cười như mếu:

- Nào! Ta chia tay! Cám ơn em đã lo lắng cho cái thằng bất tài này. Em đừng khóc nữa! Nghe anh hát đây:

            Đàn bà buồn, gục vào vai đàn ông,

            Đàn ông buồn, gục đầu vào chai rượu,

            Chai rượu buồn, ngã xuống đất lăn quay,

            Mảnh chai buồn, cứa nát trái tim say...

Cái giọng não nề, khàn đục của ông nghe đến rụng con tim. Cô Mùi gạt nước mắt, cầm tay ông chủ. Tôi vô cùng biết ơn người đàn bà bé nhỏ ấy đã động viên ông chủ rất đúng lúc:

- Anh Khánh, chúng mình là những mảnh đời kém may mắn gặp nhau. Song, các cụ đã dạy: sông có khúc, người có lúc. Chúng mình đã có những bước đi sai lầm trên đường đời. Nhưng đâu đã phải đến ngày tận thế. Anh hãy về, thu xếp tiền nong bằng mọi giá. Nếu thiếu, anh thông báo ngay cho em. Đừng sợ! Rồi mọi việc cũng sẽ qua thôi mà...

Mặt ông Khánh bừng sáng. Ông đứng thẳng dậy, hít một hơi dài. Ông gọi tắc xi. Bắt tay tôi, ông lắc lắc mấy cái:

- Mích ở lại phải nghe lời cô chủ nhé! Dù sống chết thế nào, tao cũng quay lại.

Ông hôn lên mái tóc cô Mùi, ra sân bay. Tôi gào lên định lao theo nhưng cô Mùi đã cài cổng.

Hai mươi chín ngày nữa trôi qua.

Ngày cuối cùng ông Khánh phải trả hết nợ đã đến.

Tôi nghe tiếng cô Mùi gấp gáp trên máy:

- Alô!...Còn thiếu bao nhiêu? Hai trăm triệu hả? Em sẽ gửi ngay... đọc số tài khoản đi...được rồi!

Cô Mùi đã bán nốt cả căn hộ tít trên tầng bốn, được đúng hai trăm triệu. Cô đưa người chồng bệnh tật của cô về nhà mẹ đẻ ở. Và nội chiến nổ ra vô cùng khủng khiếp.

Ông bố:

- Sao tôi lại có cô con gái tốt duyên đến thế! Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa. Mày đã dám bán cả nhà lấy tiền cho giai thì đi theo nó luôn, vác mặt về nhà này làm gì?

- Con lạy bố... Nhà con đang đau yếu...

- Mày mang nó đi đâu thì đi! Nhà này không có chỗ chứa cho con điên với thằng chồng bạc ác, thối tha...- Bà mẹ rít lên, hàm răng nghiến kèn kẹt.

Cậu em trai xếch ngược đôi mắt:

- Tôi sắp cưới vợ, bà định lôi của nợ của bà về ở nhà này chắc. Đã có gan ăn cắp thì phải có gan chịu đòn...

 Cô im lặng, lầm lũi đưa người chồng bệnh tật xuồng gầm cầu thang khu tập thể để ở. Được vài ngày, chồng cô qua đời. Cô phải tất tả nhờ hàng xóm, bạn bè lo đám tang vào một ngày trời mưa tầm tã. Trong những ngày thê lương này, những giọt nước mắt của cô ướt cả gáy tôi. Tôi thương cô quá, ngày nào cũng ngóng trông ông chủ trở về. Và tất nhiên, chúng tôi không hề thất vọng.

*

Ba năm sau.

Tôi đã già. Người ta nói, mười ba năm tuổi chó bằng tám mươi năm tuổi người. Tính ra tôi đã sáu mươi tuổi.

Sau khi hết nợ, ông Khánh lại ra Bắc, bán nốt nhà cửa, đem theo bà vợ đã trở nên ngơ ngẩn vào Đà Lạt. Ông mua hai căn nhà nhỏ ở ngoại ô. Một cho vợ chồng ông, một cho cô Mùi. Cả hai đều xin nghỉ hưu. Ông thuê hẳn một người trông nom bà vợ. Suốt ngày tôi thấy ông cũng như cô Mùi ở ngoài vườn. Vườn của họ chẳng thiếu thứ gì: Bơ, xoài, đu đủ, thanh long... Những luống rau xà lách xanh nõn, to xoè. Bí đỏ bò loằng ngoằng dưới những cây ngô nếp lất phất trổ cờ. Từ ngày vào đây ở, ai cũng khoẻ ra. Thời tiết cao nguyên nhuộm đôi má cô Mùi đỏ au. Ông Khánh đang đào ao thả cá. Bắp tay rám nắng nổi cuồn cuộn như thanh niên.

Chiều nay, như thường lệ, ba chúng tôi đi dạo. Tôi chạy loăng quăng, lúc trước, lúc sau, sục sạo chán cũng chỉ vớ được mấy tên côn trùng tí hin hoặc mẩu gỗ mục vớ vẩn. Chúng tôi ngồi nghỉ trên tảng đá quen thuộc, ngắm chân trời. Ở xứ này, mỗi ngày tập hợp đủ bốn mùa: Sáng, xuân. Trưa, hè. Chiều, thu. Và tối, đông. Xa xa, mặt trời mùa thu to như cái mâm vàng đang từ từ lặn xuống sau dãy núi tím mờ. Cả hai im lặng, chứng kiến thời khắc đẹp nhất của một ngày: Ngày sắp hết, nhưng chưa chấm dứt ; Đêm sắp đến, nhưng chưa xuất hiện. Ở giữa hai giao điểm ấy, mọi vật tạo nên đều huyền ảo, diệu kỳ. Cô Mùi ngả đầu vào vai ông Khánh. Ánh chiều tà nhuộm vàng rực rỡ trên hai mái tóc bồng bềnh, đẹp mê hồn. Ông Khánh dang cả hai tay ôm cô Mùi, mắt trong mắt, đam mê, đắm đuối. Nụ cười của ông vẫn còn trẻ lắm:

- Anh rất thích giây phút này, khi mà tia nắng cuối cùng dọi thẳng vào mắt em, đôi mắt của thiên thần...

Nàng cười giòn tan. Vẫn điệu cười xưa nhưng sao giờ đây, tôi thích nghe đến thế. Nó như tiếng suối róc rách reo vui trong khe đá, nó xua tan những âm u, cô tịch giữa chốn đại ngàn xa xăm. Tiếng cười gieo vào lòng ta bao yêu thương và trìu mến. Cô ngửa cổ ra phía sau, nhắm tịt mắt lại:

- Thế khi em nhắm mắt lại thì sao? Có giống con quỷ con không? Quỷ con này đang thèm bánh ngô đây! Ăn đi cho nóng, anh! Hôm nay em làm hơi nhiều!

Cô sục tay vào hai túi áo măng tô của ông chủ. A! Bánh! Tôi khoái trí nhảy lại gần, hỉnh mũi lên. Cả hai nhìn tôi, cười phá:

- Mích! Mày già rồi, chỏm tóc trước trán bạc rồi kìa!

Gâu! Gâu! Tôi nhún chân, ngoảy cổ. Các người thì trẻ! Chả thế mà thỉnh thoảng lại rủ nhau đi chơi những mấy ngày! Bỏ lại tôi trông nom căn nhà nhỏ xinh có lối đi rải sỏi và hai hàng hoa tóc tiên lấm tấm nụ đỏ, rung rinh trong nắng cao nguyên.

Hải Phòng, 5-2009

ĐỖ THỊ HỒNG VÂN

Bích Động

2009-08-16 @ 00:08 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Bích Động

Gạ gẫm niềm tin qua Thạch Kiều

Dòng sông nhỏ mê mệt cùng thảm cỏ

Cây si cô đơn chẳng chịu cầu siêu

Thả rễ lùa vào kẽ đá

 

Con dê trốn chạy trong vòm lá

Thất tình ngoạm phải mùi hương

Đàn bướm u mê bay vội vã

Bệ rạc hoa dại ven đường

 

Chiếc chuông đồng chung chiêng

Không che được Động Tối cơn buông thả

Nước ở đâu chảy tràn trề ngách đá

Mở lối lên chùa Thượng nghiêng chiều

 

Gió tâm thần liêu xiêu

Ngái ngủ Sơn Thần, Thổ Địa

Nắng sằng sặc ùa ra bốn phía

Rừng núi tềnh ềnh xanh.

Ninh Bình 6-2004

HOÀI KHÁNH

 

Hoài Khánh cùng các bloggers Vũ Kim Liên, Minh Hương, Đỗ Xuân Thu, Tân ART trên Thạch Kiều trước cổng chùa Bích Động - Ninh Bình.

Viết về công nhân, người lao động phải là nhu cầu tự thân của người cầm bút

2009-08-15 @ 00:53 in Bàn về văn chương

Viết về công nhân, người lao động phải là nhu cầu tự thân của người cầm bút

Bàn về văn học về đề tài công nhân, có nhà văn nhận xét rằng: "Không còn ai vừa viết văn, vừa làm thợ nữa.Và dường như người công nhân bây giờ cũng không còn có thời gian để tiếp cận với văn học, để cần đến nhà văn, để nói đúng về mình. Bởi địa vị của họ đã thay đổi. Theo đó, làm hạn chế nguồn cung cấp lực l­ượng mới, tài năng mới cho văn học. Thật khó khăn khi tạo ra một trào lưu mới về văn học đề tài công nhân. Tuy nhiên, với Hy râu, Một ngày kiếm việc, Chuyến xe đêm, Cún con, Quyền khinh bỉ..., nhà văn Lương Văn Chi (hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng) cho thấy chỉ khi nào nhà văn thấy viết về công nhân, người lao dộng là nhu cầu tự thân của người cầm bút thì vẫn có tác phẩm văn học về đề tài này.

- Anh có thói quen đọc cho người khác nghe một cách chính xác không chỉ những câu mình viết, từng chữ mình mài mà còn thuộc làu cả những câu văn của người khác nữa, ví như : "Mũi hàn vẫn dũi đều trên mặt thép" của Nguyễn Hồng Quang?

- Nguyễn Hồng Quang là một trong số những nhà văn Hải Phòng có tác phẩm hay về người thợ. Tôi đã đọc Tia sáng đỏ của ông và rất thích nhũng chi tiết ấy. Nó cho tôi một sự chiêm nghiệm, rằng chỉ khi nào nhà văn đồng thời cũng là người thợ, người công nhân, thì họ viết rất đậm đà chất thợ cũng như chuyển tải một cách sâu sắc, chân thực tâm tư, đời sống của người công nhân.

- Anh có cảm thấy lẻ loi khi quay đi quay lại chả còn mấy ai thủy chung với đề tài này?

- Cách đây chừng 30 năm, Hải Phòng từng có những nhà văn công nhân viết rất sinh động về người thợ, người lao động. Nay có người đã quá già. Có người không viết nữa. Còn tôi, tôi vẫn viết bởi viết là sự tồn tại, là nhu cầu của tôi.   

- Bạn đọc gọi anh là "nhà văn thợ mộc". Nghề thợ mộc có mang lại cho anh lợi thế khi viết văn?

- Tôi từng làm công nhân Xí nghiệp Gỗ 6 -1. Năm 1989, tôi về nghỉ một lần về làm mộc ở nhà, rồi có thêm mối hàng là cơ quan, cá nhân đóng tủ, đóng giường, làm cửa, thậm chí cả chữa khóa.. Tôi làm tất. Chỉ một cú điện thoại là lên đường. Và chính "hành trình thợ mộc" để mưu sinh ấy cho tôi tiếp cận với nhiều cảnh đời, nhất là những người công nhân cùng cảnh "về một lần" như tôi. Họ có người vươn lên thành ông chủ. Nhưng cũng có rất nhiều là thợ lành nghề phải làm thuê, hoặc trở thành lao động thủ công, đạp xích lô, kéo xe ba gác. Công nhân nữ thì làm ô-sin và những nghề khác nữa. Viết đúng về họ thì không chỉ ở góc độ sản xuất mà phải đặt họ trong cuộc sống đời thường, trong các mối quan hệ xã hội. Nghề thợ mộc cho tôi tiếp cận đến ngóc ngách các số phận ấy. Và đó là một lợi thế cho nghề viết văn của tôi.

- Như tôi đọc và thấy nhiều truyện ngắn của anh, bên cạnh chi tiết cô đọng, còn vụt ra những tình huống lớp lang như thể anh đang cấu trúc một kịch bản sân khấu vậy...Anh không có ý định chỉ tả thực nhân vật của mình?

- Đúng vậy, tôi thường là cắt nghĩa bằng văn học nguyên nhân của những sự việc. Người đạp xích lô trong truyện Cún con đánh con chó đến chết vứt xuống nước, rồi lại vớt nó lên để rồi mình chìm trong dòng nước cống đặc sệt còn là một người hay đánh con vô cớ, cũng còn bởi anh bị nỗi lo cơm áo của cả một gia đình công nhân mất việc đè nặng lên đôi vai. Hay Lương trong "Một ngày kiếm việc" đã bị bóc lột tinh vi mà người cao tay không ai khác chính là tay giám đốc cũ của anh. Ông ta đã mắng bà vợ chỉ vì bà này so đo tiền công của Lương khi anh đến sửa bức tường nhà bà: "Thằng Lương vốn hiền lành, tay nghề chẳng kém ai, đáng lẽ cứ để nó làm xong, cho bao nhiêu chả được. Nếu không bằng lòng thì soi kĩ, tìm lỗi của nó mà trừ phéng tiền công đi. Làm gì mà phải mặc cả công xá trước". Tóm lại, môi trường xã hội nào thì tạo ra con người thế ấy. Khi người công nhân về chế độ một lần thì điều xã hội, nhà nước quan tâm chính là đời sống của họ. Điều này cũng đúng đối với công nhân, người lao động trong các Khu công nghiệp tập trung. Tuy nhiên, như tôi thấy so với người công nhân về chế độ một lần, thì những người lao động chân tay bây giờ còn chịu thiệt thòi hơn: Họ đang mất dần những quyền được nói về mình theo đúng nghĩa. Không ai cấm họ cả. Mà tự bản thân phương thức quản lý, quan hệ chủ tớ trong guồng máy hoạt động đã cuốn họ vào những lo âu, trong khi quyền được hưởng bị bớt xén, cắt tỉa. Họ ít có điều kiện tiếp cận với việc đọc, nghe , xem, trong đó có văn học. Tôi có lần đến một nhà máy có trên 5000 công nhân trong khu công nghiệp Nomura kết hợp tự khảo sát xem độc giả ở đây với tác phẩm của tôi như thế nào? Nhưng trong nhóm thợ nữ tôi hỏi, các cháu nói đều không có thời gian truy cập internet. Làm việc căng thẳng, chỉ cần lăn ra ngủ là đủ rồi. Mặt khác, trong số họ, rất hiếm xuất hiện nhân tố mới là vừa làm thợ, vừa viết như thời kỳ trước đây.

- Có thể chia sẻ anh như thế này: Hơn lúc nào hết, nhà văn phải nói lên tiếng nói của người công nhân, lao động. Nhưngnhư anh cũng thấy đội ngũ viết văn về công nhân thì lại đang ở thời điểm báo động.?

- Vấn đề là ở chỗ đấy! Tôi cũng đồng ý rằng đã đến lúc phải mở những cuộc vận động sáng tác từ phía các cơ quan chức năng. Nhưng cũng xin lưu ý rằng nhà văn đi thực tế sáng tác trong môi trường công nghiệp bây giờ khó hơn trước đây, nhất là khu liên doanh, khu công nghiệp 100% vốn của nước ngoài - nơi tổ chức công đoàn nhiều nơi lập ra chỉ "làm vì" nơi mà khách ra vào cũng phải " đi nhẹ nói khẽ" và quan trọng nhất là họ không thích văn học. Bởi vậy, nhà văn phải tìm cách riêng của tiếp cận thực tế theo cách riêng. Tôi cho rằng chỉ khi nào sáng tác về người công nhân lao động là nhu cầu tự thân của người cầm bút thì nhà văn mới góp phần cải thiện thực trạng văn học về đề tài công nhân hiện nay. Và chỉ khi nào trong hàng ngũ công nhân lao động ở các khu công nghiệp lớn xuất hiện những nhân tố mới viết văn và làm thợ, nói lên tiếng nói của chính mình thì khi đó, ta mới được nhiều tác phẩm hay về đề tài này.

- Xin cảm ơn nhà văn Lương Văn Chi.

ANH THƠ thực hiện


Gỡ thời gian đan áo cho chồng

2009-08-13 @ 15:30 in Thơ

Gỡ thời gian đan áo cho chồng

Cái rét đành hanh lùa vào giấc ngủ triền miên

Gió thời gian thổi mòn cùn mái rạ

Căn nhà trống nép mình nơi thôn dã

Chị thắp ngọn đèn dầu lần tìm vào quá khứ đêm đêm

Rút cô đơn từ ký ức chiến tranh

Nỗi đau nhói buốt làm sáng lên đường kim mũi chỉ

Se vết thương thành sợi len dài thiên niên kỷ

Vò võ bên hiên gỡ thời gian đan áo cho chồng...

 

Hơn ba mươi năm từ ngày chia tay anh bên dải Trường Sơn

Bấy nhiêu lần ngâu tháng bảy, mưa nguồn chớp bể

Chiều hoang lạnh chìm trong quạnh quẽ

Bóng chị đổ dài lệch cả miền quê

Sương thời gian nhuộm trắng mái tóc thề

Ngày nối ngày chị ngậm ngùi gỡ từng đường tơ bối rối

Gỡ mảnh hồn mình vồi vội

Theo bóng anh đi qua tháng ngày đặc quánh đang trôi...

TÔ NGỌC THẠCH

Hãy nói tên em đi!

2009-08-12 @ 21:52 in Truyện ngắn

Hãy nói tên em đi!

Bất chợt câu hát em chợt nhớ đến anh..., vang lên, anh vội nhìn lên màn hình. Số máy không nằm trong danh mục. Câu hát em chợt nhớ đến anh, mong anh đừng quên em..., da diết đến nao lòng. Ai gọi cho mình nhỉ?. Những nghi vấn lướt nhanh trong đầu. Không đành để câu hát tua đi tua lại, anh mở máy. Giọng con gái mượt mà, êm ái cất lên từ đâu đó. "!. Em nhớ anh!. Sao thế anh !". "Em là...". "Anh không nhận ra em sao!". Giọng em ngúng ngoẳng, dằn dỗi. Em chớp chớp đôi mắt, môi dẩu lên, bàn tay trái đưa lên vuốt cái gáy mịn màng. Em đưa mắt nhìn về đâu đó. Gương mặt anh hiện lên. Em nhận ra đôi môi còn vương chút màu hồng, dẫu có những vết nứt chẻ ngang nhưng nhờ cánh môi hơi cong nên dấu vết đang già của cặp môi đã bị mờ nhòe. Cặp môi ấy hau háu lướt trên đôi nhũ hoa của em lúc êm ái, lúc dữ dằn khiến em vừa sợ lại vừa thích. Có lúc đôi môi của anh rời bầu vú, em luống cuống lo sợ anh sẽ không gắn môi vào đó nữa. Còn cái lưỡi của anh nữa chứ, nó không quá dày, có độ ráp thật mê ly. Khi đôi môi em mươn man trên lưỡi anh, em nhận ra sự hưng phấn trong em như dòng thác ào ạt đổ, làm người em chao đảo. Khi lưỡi em lướt trên lưỡi anh, em rùng mình nhận ra mình đang bồng bềnh trôi. Chỉ nội đôi môi và chiếc lưỡi của anh thôi đã cho em được thấu cõi lạc tiên là thế nào. Chả trách con người ta khát khao được sống cho nhau, được sống với nhau là vậy. Mới chỉ với anh một giờ, à không, hơn một giờ, đúng ra là gần hai giờ mà sao em cảm thấy như đã có anh từ lâu rồi. Anh có biết không, lúc anh rời em ra, em đã chắp tay lên ngực tạ ơn giời phật đã cho em được có anh. Khỉ thật tình đã sâu đến vậy mà anh còn hỏi ai gọi thế. Anh quên rồi sao?. Em tự hỏi với một chút buồn lòng cộm lên.      

Nghe giọng nói anh ngờ ngợ là có quen. Âm ngữ thì tình tứ, giọng điệu thì mềm như giải lụa. Gì nhỉ, em nhớ anh!. Anh lắc đầu cố xua đi những ý nghĩ lan man để tâm trí thực sự tìm đúng khuôn mặt của giọng nói ẩn dấu nhiều ân tình trong ngữ điệu kia. Mái tóc em nhuộm phơn phớt hồng. Bữa đưa tay vuốt mái tóc em, anh thảng thốt về sự mềm mại, trơn tuột. Lúc ấy anh vừa thèm được vuốt lên sự mềm mại nhưng lại sợ đến lạnh người về cái cảm giác trơn tuồn tuột kia. Dường như lúc bấy giờ em cảm nhận thấy sự lúng búng trong anh, em có nũng nịu như vừa khoe vừa nói, tóc ép đấy, bây giờ là mốt mà anh!. Không thấy anh nói gì, em hào hứng, phải thử đi thử lại nhiều lần em mới chọn được màu tóc ưng ý này đấy. Anh thấy đẹp không?. Một khoảng cách mơ hồ nhấp nhô trong tâm tưởng anh. Anh cố định hình để nhận rõ đó là khoảng cách về cái gì. Anh càng cố thì càng chả hiểu đó là gì. Anh đành bất lực chỉ biết giữa anh và em bất chợt có khoảng cách. Rất may đó không phải và không thể là khoảng cách không thể lấp đầy. Cái khoảng cách mờ mờ, ảo aỏ, mung la mung lung khiến anh càng nghĩ nhiều về em. Anh nhớ vùng gáy mịn màng, trắng hồng có mùi hương thật quyến rũ khiến anh ngất ngây. Chà mùi hương đến lạ. Anh không sao hiểu nổi đó là mùi gì. Cái chính là anh không có đủ năng lực đế nhận biết được các loại mùi. Anh chỉ biết nó thơm một cách kỳ lạ. Chả hiểu sao lúc ấy anh lại nghĩ mình rất tẩm, ngố hết chỗ nói. Có mà không hiểu mình có gì. Được mà chả rõ mình được gì. Lúc anh đưa môi lướt vào gáy em, em ré lên cười. Anh thật thà hỏi, sao thế? . Em bảo, nhột quá ai mà chịu được!. Tại anh làm nhanh quá đấy mà. Vùng nhạy cảm phải từ từ chứ anh!. Anh làm lại, bắt đầu vành môi lướt nhẹ từ cổ sang gáy, rồi say sưa nhấn nhá tùy thích khắp vùng gáy. Em cong người thở dốc với sự khoái cảm được dâng lên tới tột độ.

Em nhớ lại những gì anh nói với em. Anh nói, em là người con gái đẹp nhất mà anh từng gặp. Em hỏi, anh đã gặp bao nhiêu cô gái rồi mới tìm thấy em?. Anh có vẻ hơi hoảng, vội lắp bắp nói trong hơi thở vừa chứa đựng sự sung sướng vừa thể hiện trạng thái mệt mỏi, ý anh nói là anh chỉ nhìn thấy những người con gái khác, còn em mới là người anh gặp. Vậy thì anh hãy phỉ phui cái mồm của anh đi. Em nói bằng giọng tha thứ. Lúc ấy em cười và anh cũng cười. Hai đứa cười nhẹ. Đứa nọ nhìn vào môi đứa kia rồi bất chợt cùng cất lên tiếng cười tung tẩy. Lẫn trong tiếng cười cả hai lại lăn vào nhau, quấn quýt lấy nhau như đã lâu rồi mới được gặp lại nhau. Cả hai ngập trong hoan lạc. Em không quên cảm giác hoan lạc khi ấy, vậy mà anh lại quên. Đàn ông là vậy sao?. Em tự hỏi chứ không dám nói với anh khi kể lại chuyện bữa đó. Dẫu sao em vẫn sợ anh bực mình, hắt hủi, không quay lại với em. Đời con gái theo như em hiểu dù có cao giá bao nhiêu đi chăng nữa vẫn không thoát khỏi cái vòng kim cô chứa chữ thì của phận đàn bà. Em không quên câu nói của anh, nếu không nhầm anh bảo không ai bỏ được người đàn bà đẹp, đâu như anh còn nói sẽ cưới em khi điều kiện cho phép. Bấy giờ em ra vẻ nũng nịu bảo với anh rằng, liệu anh có xạo không. Anh cười và ghì riết chiếc cằm chứa những chiếc râu đang trỗi dậy sau một ngày. Khi ấy em có kêu ré lên, anh bảo có thói quen cạo râu buổi sáng thành ra bây giờ là lúc lũ râu trỗi dậy đòi quyền được hít thở không khí về đêm. Chà, anh vùi mặt vào ngực em mới ghê làm sao. Riết róng, chằm bặp. Lưỡi của anh đưa đẩy, mút lấy mút để núm vú hồng rực cương cứng của em. Em chỉ còn biết kêu rên vì đau, vì sung sướng bởi những khát khao dồn dập trào lên đẩy em bay vào cõi bồng lai. Đắm say đến như thế!. Nồng say đến như thế!. Vậy mà anh đã lãng quên sao!. Nghĩ tới những chuyện đã qua, và ngẫm về sự lúng búng của anh trên điện thoại, em thấy tủi, nước mắt muốn ứa ra quá.

Anh nhớ khi em ghì đầu anh vào ngực em, anh thấy ngột thở. Vú em nóng rực, căng cứng chứ không mềm như cánh đàn ông ngồi dóc chuyện với nhau về vẻ đẹp của cặp vú con gái. Đứa nào đứa nấy thi nhau tả, vú con gái bây giờ thây nẩy, tròn trịa, sờ vào vừa thấy mềm mại vừa có cảm giác mát mịn. Đúng là quà của đàn ông. Chỉ ngắm cặp vú thanh tân của em thôi đã thấy cuộc đời này đáng sống lắm. Nếu được sờ nắn, vuốt ve đời thằng đàn ông có khác nào được lên tiên. Còn khi ngậm mút thì thổi rồi lượm ơi, cuộc đời như ngất ngây, bay lên chín tầng mây nhìn thấy cõi vĩnh hằng và cái ý thức được sống, muốn sống, khát sống thi nhau hối hả trào lên trong tâm trạng đầy phấn khích của một thằng người. Em chợt nhột lên khi nhận ra anh bị ngột thở trong đôi nhũ hoa, em khẽ lắc ngực, anh vội đưa lưỡi liếm lên núm vú bên trái, em rên se sẽ. Ôi tiếng rên mền hơn giải lụa, nóng hơn hòn than đang đượm hồng. Anh nghe rất rõ tiếng em da diết, anh ơi mút mạnh vào. Anh chưa kịp nhận ra lời yêu thương của em thì em đã ấn cả hai núm vú vào miệng anh và riết mạnh gáy anh. Mặt anh lại ngập sâu vào ngực em. Ngột thở!. Anh hơi oằn mình. Em như hiểu thấu sự sung sướng và nỗi khổ của anh nên nới lỏng cánh tay để anh có dịp hơi nghiêng mặt. Anh nhớ lại đến từng chi tiết, cảm nhận được hơi thở khi vùi mặt vào vú em. Trong điện thoại em có nói, anh quên lời ao ước của em rồi sao. Em nhắc lại lời ao ước, em khát khao được sống trọn đời với anh!. Anh lắc đầu, anh không nghe thấy câu nói đó. Hay là anh quên!. Anh tin là mình không quên. Ai lại quên một câu nói tuyệt mỹ đến vậy. Câu nói diễn ra trong hoàn cảnh tràn ngập yêu thương không thể nào truội khỏi đầu một người như anh được. Anh nghĩ chả người con gái biết tự trọng nào lại nói ra ước vọng ấy trước khi người con trai có lời cầu hôn. Ấy là anh nghĩ thế theo suy nghĩ truyền thống. Bây giờ mọi phép ứng xử có nhiều điều không ai nghĩ rằng nó sẽ là như thế, nhưng sự thật nó lại là như thế. Con gái thời buổi bây giờ họ thích phô đường nét của mình ra cho mọi người cảm nhận thế nào là đường cong gợi cảm. Ngẫm kỹ thấy vẻ đẹp của cuộc đời được nhân lên chính bởi những đường cong ấy. Chỉ ngắm nhìn những đường cong đã thấy đời đáng yêu biết bao. Cánh dàn ông bây giờ sướng gấp vạn lần các cụ ngày xưa khi ở cùng cái tuổi tráng niên. Ở cái tuổi như cánh dàn ông bây giờ các cụ chỉ được thả tâm trí tưởng tượng về đường cong của người con gái, chứ làm gì có chuyện được no mắt như con trai bây giờ. Nghĩ tạo hóa cũng khéo bày đặt để cuộc đời có thêm hưng phấn và được hạnh phúc, đau khổ cùng hưng phấn. Anh đưa bàn tay lần theo đường cong. Những ngón tay của anh mơn man trên những đường cong mịm màng của em. Lúc thì em nằm im, lúc thì em khẽ oằn mình, lúc thì em se sẽ rên lên, lúc thì em hơi nhổm dậy ôm riết lấy anh ghì xiết vào người em. Tay anh lần xuống vùng hõm của đường cong, em se sẽ nói trong hơi thở gấp gáp, ướt anh!. Anh hơi hốt hoảng, sao lại có nước, nước ở đâu?. Trong đầu anh nảy nhanh những câu hỏi. Đái thì anh không bao giờ. Còn thứ nước tinh khiết chắc chắn anh chưa ra. Nước của anh mà ra thì anh phải biết chớ. Chỉ nghe em nói ướt anh, tay anh vội rụt ngay lại. Dường như em nhận thấy sự lúng túng của anh, em vòng tay ghì đầu anh vào mặt em. Em lặng lẽ đưa lưỡi chà nhè nhẹ lên khắp mặt anh. Từ từ, chậm rãi em đưa miệng nhay nhay dái

tai anh. Một lát sau anh không giữ được tiếng rên của mình. Một đợt sướng mới trào lên trong anh. Anh cố nhấn sâu tai mình vào miệng em với hi vọng khoái cảm nhân lên gấp nhiều lần. Em lại không muốn vậy, em chỉ thích nhay dái tai. Lúc thì em nhay, lúc thì em dùng đầu lưỡi lướt nhè nhẹ vào dái tai khiến anh càng nhột nhạt càng sướng câng lên. Anh nhớ em nói câu gì đó nghe ngây ngô nhưng rất thật, chiếc quần em mới mặc lần đầu và lần đầu ở nơi ấy trong em ứa nước khiến người em nóng ran lên, cảm giác ngất ngây vừa đầy ắp vừa trống trải làm sao ấy!. Anh không thật hiểu chuyện gì đang xảy ra, chỉ biết anh nhận ra em gần gũi với anh hơn bao giờ. Và dường như em đã ở trong anh từ lâu lắm rồi. Có lẽ đúng hơn là anh đã ở trong em từ lâu lắm rồi.

Tiếng em trong máy nghe như có cả tiếng nấc tức tưởi. Anh quên rồi sao, lúc em ghì anh, đột nhiên anh oằn người. Nước từ trong anh ào ra nhanh và mạnh như tháo cống, em bảo anh sao thế, nôn nóng quá phải không, chưa đi tới chợ đã hết tiền. Em nhìn rõ gương mặt anh đầy đau khổ. Chỉ tới khi nước trong anh không ứa ra được nữa anh như con thú bị trúng đạn, người oải ra, mềm oặt trông thật tội. Em trông anh lúc đó chả khác chi tàu lá chuối gặp lửa. Em kể lại một mạch những gì em cảm nhận được bữa đó về anh. Anh nghe mà ngượng chín cả mặt. Anh đâu phải là kẻ nôn nóng!. Anh đâu phải là người không biết chế ngự để đến nỗi em phải bêu bêu anh chưa đi tới chợ đã hết tiền. Sao em điêu thế!. Anh hơi bực định thốt ra câu nói ấy. May mà anh kìm lại được chứ không em lại có cớ bảo anh nôn nóng, hoặc đại loại là người vội nói khi chưa tường tận mọi chuyện. Sau một chặp nói như trút nỗi buồn vào anh, em đổi giọng thỏ thẻ hỏi anh bao giờ chúng mình được gặp nhau?. Thực lòng anh cũng muốn gặp em, anh bảo để anh lựa!. Tiếng em cười nghe sao mà ngọt đến vậy. Dường như anh ngửi thấy có mùi mít qua tiếng cười của em. Chưa dứt tiếng cười, em đã hẹn, tối nay đi anh!. Em không muốn đêm nay trống vắng vì phải đợi chờ một cách vu vơ. Anh ơi, đừng từ chối nghe anh!. Anh cười thầm, vừa mới trách người ta nôn nóng mà mình còn nôn nóng hơn. Đúng là đàn bà!. Chả trách người ta bảo gì thì gì cũng là giống đái không qua ngọn cỏ!. Chỉ nghĩ thế thôi chứ anh chả dại mà nói vào trong máy. Nghĩ tới cùng em mà nghe được câu nói đấy của anh có khác nào em nhận trọn gáo nước của anh hắt vào. Dẫu sao là thằng đàn ông cũng phải khác chứ. Anh nghĩ vậy và tự cười với mình. Anh trả lời dứt khoát, tối nay không được. Vậy bao giờ hở anh?. Khi nào được anh sẽ hẹn!. Nói xong anh tắt máy. Anh lẩm bẩm, mất gần chục phút vì chuyện chả đâu vào với đâu.

Máy của anh chợt rung lên, lời bài hát Em yêu anh vang lên. Ai đấy?. Anh hỏi. Sao anh lại tắt máy?. Giọng em như gắt lên. Anh vô tình chạm phải nút tắt. Anh chống chế. Em không tin lời giải thích của anh, nhưng không thể làm căng với anh. Cả giận mất khôn. Em nghĩ vậy. Em chợt nhớ tới cái ấy của anh. Trông nó hùng dũng đấy chứ. To, dài. Oai vệ ra phết. Ngắm kỹ cũng thấy nó hấp dẫn. Em ngắm nó một lúc rồi đưa tay vuốt ve. Công nhận cái của ấy nần nẫn, nóng rực. Khắp người em như được nó truyền lửa cũng nóng rực. Chả hiểu sao em lại hào hứng vùi mặt vào nó. Nó làm cho mặt em giãn nở. Em như cảm nhận nó đã xoa bóp tẩm quất để gương mặt em thêm mịn màng. Chỉ một chút nữa là em đã đưa nó vào mồm. May mà em kịp nghĩ lại nên chỉ dùng đầu lưỡi mơn man nó. Nó lách tách bật trên đôi môi em. Người em cương cứng một cách khó chịu. Em muốn gặp anh để được âu yếm nó, vậy mà anh nỡ từ chối. Sự hưng phấn của em đang lên, thế mà anh chặn lại. Anh không hiểu, như vậy có khác chi một sự độc ác. Chỉ nghĩ thôi đã thấy nặng lòng. Giá lúc này có anh ở đây nhất định em sẽ cào cấu cho hả cơn hờn ghen của em. Nhớ tới nó, nghĩ về nó, em không nỡ giận anh mãi. Em nhỏ nhẹ nói với anh, em rất mong cuộc hẹn từ phía anh đến sớm nhất nghe anh!. Em yên tâm, nhưng em là ai?. Anh định nói như thế, chả hiểu sao anh lại bảo, anh cũng nóng ruột như chính em đang riết róng muốn gặp anh!. Anh nghe rõ tiếng em cười và câu nói vương trong máy, có thế chứ!. Đâu như em còn gửi cả nụ hôn vào trong máy. Anh mỉn cười, đồ lỡm!. Chuyện dai như đỉa, máy nóng ran cả nên rồi!. Anh văng câu nói ấy ở trong đầu, rồi lại mỉn cười.        

Anh lờ mờ biết em là ai.

Em lờ mờ biết anh là ai.

Anh bắt đầu tìm cách chối từ không nghe những cú điện thoại từ số máy của em. Đâu như có một lần em thay sim, bài hát trong máy anh vang lên. Anh lại nghe được giọng của em. Lần này em cao giọng trách anh không chịu nghe điện thoại. Anh phải vin lý do điện thoại anh để quên ở chỗ làm, mà anh lại có việc phải đi xa. Em giảm độ cao trong âm ngữ. Em nói mong anh gửi tiền vào máy của em.

Anh rụt rè hỏi, em đang ở đâu?. Nghe em nói nơi em đang ở anh giật mình. Sự nghi hoặc của anh ngày càng rõ lý. Anh nghĩ thế. Chỉ có điều giọng của các em sao giống nhau thế. Chả lẽ anh và em mới gặp nhau có một lần mà say đắm đến thế ư?. Anh tự hỏi khi những nghi hoặc về em lớn dần lên trong anh. Anh quyết định không nghe điện thoại khi nhìn thấy số của em. Câu hát em chợt nhớ đến anh liên tục vang lên. Có lúc bực qua anh định tắt nguồn cho máy nghỉ khỏe, nhưng nghĩ tới những cú điện thoai anh cần, anh lại sợ không dám khóa máy. Đã có lúc số máy của em hiện lên liên tục, bực quá chỉ chút nữa là anh lia chiếc máy của anh qua cửa sổ. Cũng may mà anh kịp kìm lại. Mất máy đối với anh là khổ rồi. Anh không phải là kẻ sẵn tiền.

Em chả lạ gì anh. Anh và những anh, hứng chí lên thì giời cũng bé. Anh rút tiền boa cho em ngoài sức tưởng tượng của em. Em cầu mong và hi vọng. Khỉ thật!, mới bữa qua anh hào hứng là vậy mà sớm ra đã quên ngay được. Chắc nhầm anh khác rồi. Số máy của anh mà. Đâu như có đứa nói với em về sự nhảy số. Hay là bị nhảy số. ối giời ơi, nếu vậy con lạy các bố viễn thông, các bố đã hại cơ may của con rồi. Người con cần thì các bố lại cho con gặp người thích đùa. Em rên lên rền rĩ. Chà có thế chứ!. Nghe em xưng tên, anh khẽ thốt lên lời khẳng định những điều cảm nhận về em là ai mấy ngày qua. Với anh thế là quá đủ cho một cuộc chơi.

18-3-2008

HOÀNG THIỀNG

Ú oà

2009-08-09 @ 15:22 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Ú oà

Cơn mưa ấy đã sang sông

Chiều thương gửi lại cầu vồng cho tôi

Sao trời mà cũng đổi ngôi

Đồng trơ gốc rạ, tôi ngồi ngóng sao...

 

Tiễn nhau tránh lối mưa rào

Qua giông gặp bão biết bao năm rồi

Đất thấp là chốn tôi ngồi

Trời cao dành để bồi hồi mây cao !

 

Giá quay lại trận mưa rào

Tôi mang hết nhớ đổ vào thành sông

Góc riêng lại hiện cầu vồng

Sang tìm cô bé má hồng ngày xa

Bên sông líu ríu ú oà

Mắt to tròn khéo như là trêu ngươi...

 

Ú oà này ú oà ơi

Ú oà còn nhớ ai chơi ú oà ?

12-11-2002

HOÀI KHÁNH

Gửi người trần gian - tập truyện ngắn về nông thôn của nhà văn Cao Năm

2009-08-07 @ 14:00 in Bàn về văn chương

Gửi người trần gian - tập truyện ngắn về nông thôn của nhà văn Cao Năm

Tập truyện ngán Gửi người trần gian của nhà văn Cao Năm vừa được Nhà xuất bản Văn Học cho ra mắt bạn đọc. Cuốn sách này tập hợp 25 truyện ngắn chọn lọc của tác giả viết về nông thôn trong thời gian gần đây.

Bạn đọc có thể gặp trong Gửi người trần gian những nhân vật mang đậm cốt cách thôn quê, với những số phận, tính cách đa dạng, có thể phần nào tiêu biểu cho nhiều lớp người, nhiều thế hệ đã và đang sống ở nông thôn đồng bằng Sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá mà những nét truyền thống văn hoá, lịch sử, phong tục, tập quán cùng những quan niệm xưa cũ không phải ở đâu và lúc nào cũng chỉ còn mờ nhạt, dễ bị triệt tiêu, như có người lầm tưởng, nhưng cũng không dễ còn được ngự trị khắp nơi. Một nông thôn với biết bao niềm vui muốn trào nước mắt, nhưng cũng chưa hẳn đã hết nỗi buồn và niềm sẻ chia - ấy là điều mà nhà văn Cao Năm luôn quan tâm trong hoạt động sáng tác văn học của mình.

Mở đầu tập truyện, người đọc gặp ngay một gia đình chuyển nhà từ quê ra phố với bao nỗi niềm, vừa lưu luyến, nhớ nhung từ những người thân yêu đến những vật tưởng như tầm thường nhất trong thời kinh tế thị trường, lại vừa háo hức với bao nhiêu cái mới lạ đang đợi chờ ở phố. Nhưng dù ở phố có bao nhiêu cái mới lạ, sang trọng thì đối với những thứ đã gắn bó với con người bao năm nay, như bộ bàn ghế làm bằng gỗ mít của ông giáo làng thời bình dân học vụ, cũng không thể bỏ lại làng, mà cứ phải mang theo, dù biết mang theo ra phố cũng không dùng đến nữa, nhưng cứ được nhìn thấy bộ bàn ghế ấy là ông giáo làng như lại có thêm nhuận sắc. Truyện ngắn Bộ bàn ghế của ông tôi được viết theo lối nhân vật tự kể, nên khá hồn nhiên, sinh động; đoạn kết ông giáo qua đời, cái bàn dùng dạy học của ông ngày xưa giờ được dùng làm bàn thờ ông để mọi người đến chắp tay kính viếng, là một cái kết mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Làng quê với biết bao con người, bao số phận khi hiện hình, khi thấp thoáng trong suốt tập truyện Gửi người trần gian. Đấy là Tác, trong truyện ngắn "Chuyện của Tác", Hương trong "Con chùa", bà Mây trong "Chuyện tình ngày ấy", Trúc trong "Dòng đời xuôi ngược", Đào Thăng trong "Nhà báo làng", Yên trong "Phao cứu sinh", Thuận trong "Trăng suông"... Những tập quán xưa cũ về họ tộc, tông đường, sự tranh giành quyền chức giữa các làng xóm, dòng tộc được nhà văn mổ xẻ, khắc hoạ dưới góc nhìn đa chiều, mang đến cho người đọc bức tranh làng quê thời kinh tế thị trường đa dạng, phong phú và không kém phần phức tạp đến khó lường. một làng nọ có dòng họ Bùi khá to, nhưng trải bao thăng trầm người trưởng họ nay không ở làng nữa, theo lệ họ, người ngành thứ đứng lên làm trưởng họ, nhưng ông thứ chỉ có độc một con trai lại sinh liền hai đứa gái. Vậy để được làm trưởng họ, ông phải bày cách đổ tiếng ác cho làng dâu và đày chị ra ở một mình ngoài xóm trại ven đê. Cực chẳng đã, chị viết bức thư kể hết sự tình rồi liều mình uống thuốc sâu để tìm sự thanh thoát ở thế giới bên kia. "Gửi người trần gian", truyện ngắn được lấy đặt tên cho cả tập, là một truyện đọc xúc động, với cách viết lạ, mang tính tố cáo thói hư tật xấu còn rơi rớt ở một số người, nhưng vẫn chan chứa lòng vị tha, nhân hậu.

Không né tránh vấn đề nóng đang diễn ra trên nhiều vùng quê mấy năm nay, nhà văn đi thẳng vào vấn đề công nghiệp hoá nông thôn, cụ thể là việc lấy đất lập khu công nghiệp thì người nông dân sẽ như thế nào, qua truyện ngắn Trăng suông. Truyện viết công phu, tái tạo con đường vươn lên làm giàu của thanh niên thôn qua nhân vật Thuận. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quan sự về, Thuận không thích đi thoát ly, mà ở nhà vay tiền đấu thầu vùng đầm để nuôi cá. Chẳng bao lâu vùng cá của Thuận nổi tiếng cả huyện, thu mỗi tháng hàng chục triệu đồng. Rồi không chỉ có cá, Thuận còn chiếm được cảm tình của cô cắt cỏ là Thao, em gái Thạo, phó chủ tịch xã. Tình yêu đang say, thì vùng đầm cá bị thu hồi để lập khu công nghiệp Láng. Thuận sau mấy tháng chạy bở hơi tai mới thanh toán xong các khoản đền bù và trả nợ tiền vay ngân hàng, rồi sắm chiếc xích lô cọc cạch chở khách, chở hàng kiếm ngày mươi đồng, và định bụng quay về tìm Thao tính chuyện trăm năm. Nhưng Thao được ông anh làm phó chủ tịch xã lo lót thế nào lại được vào làm thủ kho trong khu công nghiệp Láng, và khi gặp lại thì "anh đi đường anh, tôi đường tôi".Truyện viết nhuyễn, nhiều chi tiết, thấm đẫm nhân tình thế thái, và quan trọng là đặt ra được vấn đề làm người đọc quan tâm.

Đấy là điều dù ít dù nhiều nhưng hầu như ở truyện ngắn nào trong Gửi người trần gian cũng được nhà văn quan tâm thể hiện. Tuy vậy, ở đôi truyện, nếu tác giả công phu trao chuốt thêm có lẽ đọc còn cuốn hút hơn.

Viết về nông thôn, nông nghiệp, nông dân gần như là đề tài xuyên suốt mấy chục năm cầm bút của nhà văn Cao Năm. Trong cuốn Nhà văn Hải Phòng - Chân dung và tác phẩm ( NXB Hội Nhà Văn 2003), nhà văn Cao Năm từng tâm sự: "Dù viết gì thì cuối cùng những nhân vật của tôi vẫn là những người sinh ra và lớn lên sau luỹ tre làng, dẫu hôm nay có người ra đi quên cả lối về làng, nhưng giọt máu họ đang mang trong mình vẫn có gốc gác từ những người chân lấm tay bùn sinh ra". Gần 45 năm sáng tác, kể từ truyện ngắn đầu tiên đăng báo Văn nghệ (1966), nhà văn Cao Năm đã sáng tác tới 100 truyện ngắn, bút ký, được xuất bản 9 đầu sách, mà chủ yếu viết về nông thôn, với những con người giàu tình thương và sự bao dung nhưng cũng đang phải lam lũ, nhọc nhằn trên mảnh đất mỗi ngày một thu hẹp lại và luỹ tre làng chỉ còn trong ký ức người già. Chỉ kể 2 năm nay, nhà văn Cao Năm đã có liên tiếp 2 tập sách dầy dặn ra mắt bạn đọc và đều viết về đề tài nông thôn - nông nghiệp - nông dân, năm ngoái là tiểu thuyết Bão đồng (NXB Quân Đội Nhân Dân - 2008), còn nay là tập truyện ngắn chọn lọc này.

HOÀI KHÁNH

Tản mạn từ vách đảo Cát Bà

2009-08-06 @ 10:40 in Thơ

Tản mạn từ vách đảo Cát Bà

Khi không thể định tâm cho một bài thơ tôi thấy mình thật nhỏ nhoi vô nghĩa, bởi trước sự hoàn chỉnh của thiên nhiên mà cao đàm khoát luận về những thẳm sâu của trời nước và núi đá sừng sững kia thì ý tưởng bỗng thừa ra bởi thiếu đi chiều cảm quan sâu rộng.

Núi - cuốn sách của trời đã ngủ vùi hàng tỷ năm mà chắc gì ai đọc, vậy thì đám rêu và bài thơ kia có khác gì nhau, bởi núi thì trường tồn, còn đám rêu và bài thơ vẫn phụ thuộc vào thời gian.

Điềm tĩnh và uy nghi là núi, bí mật mà bao dung cũng núi. Với biển, núi là bạn tri ân mà núi vẫn bị sóng mài mòn, đánh ngã đấy thôi.

Khi con người xẻ núi ra làm thành những con đường...và những con đường được làm ra đôi khi cũng chỉ để vào thăm núi - mặc lòng, núi biết - đớn đau và hạnh phúc, độc ác và nhân từ, vô tâm và chăm lo thường sát cánh bên nhau để con người làm nên mọi chuyện.

Thuận thiên mà nghịch lí - quy luật của loại trừ sinh diệt.

Tôi vẫn muốn học lại bài học vỡ lòng mà thiên nhiên ngày ngày dạy bảo, mong biết cùng muôn loài chung sống bình yên.

Trại sáng tác Cát Bà 10-2008

NGUYỄN TẤT HANH

Với di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam

2009-08-04 @ 16:19 in Thông tin tổng hợp

Với di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam

Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê vừa tổ chức thân mật với gia đình, bạn bè tri âm sinh nhật 89 tuổi của mình ngày 24-7-2009 bằng một tối nhạc truyền thống ấm áp và thân tình. Cũng thân tình như khi ông nhiệt tình trả lời phỏng vấn của báo Văn nghệ Trẻ cho dù sức khỏe không tốt lắm sau một đợt làm phim với Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh ở quê hương của ông.

Kính thưa Giáo sư, ông đã dành cả cuộc đời để nghiên cứu, giữ gìn, lưu truyền vốn di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam không chỉ với trong nước mà với cả thế giới. Điều gì đã "nuôi" sự đam mê để ông trở thành người nắm giữ "kho" tài sản khổng lồ quý giá đó mà gần như là duy nhất ở Việt Nam?

 Không phải một "kho tài sản khổng lồ" mà chỉ là một "sự nghiệp tinh thần" gồm có những văn bản, hình ảnh ,dĩa hát, băng từ, những hiện vật liên quan đến đời sống cá nhân và nghề nghiêp của tôi trong mấy chục năm qua.

Tôi giữ gìn những tư liệu để cho người Việt trong và ngoài nước, bạn bè năm châu bốn biển hiểu về văn hóa, nghệ thuật dân tộc Việt và cho người Việt hiểu văn hóa, nghệ thuật của nhiều nước trên thế giới. Hiểu nhau để thương yêu nhau.

 Đó là lý tưởng của cuộc đời tôi. Nên tôi để cả cuộc đời thực hiện lý tưởng đó.

Lĩnh vực nghiên cứu và sự thông tuệ của Giáo sư về âm nhạc truyền thống không chỉ của Việt Nam mà còn của các quốc gia châu Á và thế giới như một pho từ điển "sống", được thể hiện qua số lượng khổng lồ tác phẩm như: Đĩa hát, băng nhạc, băng video, phim, sách.... Giáo sư đã dùng thời gian như thế nào để có thể làm được những công việc phi thường như thế ?

Tôi không tiêu xài tiền bạc làm ra để hưởng thụ. Tôi không uống rượu, không hút thuốc, không đổi xe theo thời trang. Mỗi khi đi nước ngoài dự hội nghị, tôi để tiền mua sách nghiên cứu, dĩa hát ghi nhạc truyền thống của nhiều dân tộc, chụp hình ảnh kỉ niệm. Tôi được Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp gởi đi điền dã tại nhiều nước. Unesco gởi đi công cán tại nhiều nơi, được mời tham dư hơn 200 Hội nghị, Hội thảo, Liên hoan âm nhạc quốc tế trên 67 mước, nên tôi mới có dịp sưu tầm, những hiện vật tôi có được đến ngày nay.

Điều Giáo sư tâm đắc nhất trong lĩnh vực nghiên cứu vốn di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam?

Đúng vậy. Không phải chỉ một lọai nhạc, của một vùng nào mà rất nhiều lọai trong cả nước. Tôi đã gặp gỡ, trao đổi, học hỏi với nhiều nghệ nhân về Ca Trù, Chầu Văn, Quan họ, Hát chèo, múa Rối Nước miền Bắc, các điệu hò lý, ca nhạc thính phòng Huế, nhã nhạc cung đình Huế, các loại dân ca miền Nam, được sống trong không gian đờn ca tài tử, trong gánh cải lương Đồng nữ ban của cô tôi bà Trần Ngọc Viện, gặp gỡ thân mật với những diễn viên bực nhứt của nghệ thuật cải lương, đã tiếp cận với một số dân tộc ít người Chăm, Mường, Khmer, Ê đê, Gia Lai, đã được gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm với nhiều chuyên gia nghiên cứu Việt. Điều đó giúp cho tôi không có` "địa phương tính" .

Giáo sư suy nghĩ như thế nào khi Việt Nam bước vào thế kỉ 21 là bước vào xu thế "tòan cầu hóa", "hội nhập", nguy cơ những giá trị văn hóa - âm nhạc truyền thống sẽ bị ảnh hưởng, bị đồng hóa, thậm chí bị mất đi trong nền kinh tế thị trường?

 Tôi không lo điều đó lắm, vì dân tộc Việt đã bị chánh sách đồng hóa của Trung quốc trên cả ngàn năm, bị chánh phủ thuộc địa Pháp cai trị gần cả trăm năm, mà dân Việt đã giữ được tiếng nói, phong tục tập quán, và bản sắc văn hóa dân tộc đến ngày nay.

 Nhưng lần nầy trong cuộc hội nhập quốc tế tôi có lo âu vì dân tộc Việt chẳng những mất tự do rất lâu lại bị hơn 30 năm chiến tranh, bị những nếp sống mới làm cho lu mờ nền âm nhạc kịch nghệ truyền thống.

Và âm nhạc kịch nghệ truyền thống đã "lâm bịnh trầm trọng" và nay đã thành mạn tính. Vì nhiều hòan cảnh lịch sử, điều kiện chánh trị kinh tế làm cho dân Việt nhứt là tuổi trẻ xa lần, quay lưng với truyền thống nghệ thuật dân tộc mà còn giang tay mở rộng đón truyền thống nước ngoài, bị một mặc cảm tự ti trầm trọng, tinh thần vọng ngọai chi phối, nên tôi thấy, nếu chúng ta không trang bị cho thế hệ trẻ một sự hiểu biết thấu đáo của truyền thống nghệ thuật dân tộc để làm một phương thuốc "miễn dịch", thì trong cuộc hội nhập thế giới ngày nay, truyền thống âm nhạc nghệ thuật của chúng ta - và cả nên văn hóa của chúng ta có thể không "hòa nhập" với thế giới mà sẽ bị " hòa tan" trong cuộc gặp gỡ đó.

Theo như Giáo sư chúng ta nên làm gì để giữ gìn, bảo tồn bản sắc di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống?

Tôi không thể trong khuôn khổ một bài phỏng vấn nầy đưa ra đầy đủ những biện pháp, những phương thuốc để trị bịnh mạn tính đó. Phải có một cách "trị căn" chớ không phải "trị chứng". Xin mời các bạn đọc trên nhiều mạng của Âm nhạc Viện, Tiếng hát quê hương, của Trần Quang Hải hay của tôi bài "Căn bịnh mạn tính của truyến thống âm nhạc dân tộc Việt Nam".

Vừa qua trong kì họp Quốc Hội,vào tháng 6-2009, đã thông qua sửa đổi một số điều trong Luật Di sản Việt Nam, trong đó việc xếp lọai di sản phi vật thể vẫn còn rất chung chung. Âm nhạc truyền thống Việt Nam là một lọai hình di sản phi vật thể rất quý giá, đã có một số lọai hình được UNESCO công nhận là di sản văn hóa truyền khẩu phi vật thể của thế giới.Theo ý kiến riêng của Giáo sư việc xếp lọai để bảo tồn, giữ gìn, phát triển âm nhạc truyền thống nên làm như thế nào để không bỏ sót, không "bên trọng - bên khinh"?

Quan trọng không phải công việc "xếp loại" mà phải "thay đổi tư duy" không phải ở một từng lớp mà ở tòan dân ta , bắt đầu là "chánh quyền". Không phải chỉ đưa ra những "khẩu hiệu" vạch ra "đường lối" mà nên có những "biện pháp cụ thể hữu hiệu" để giúp cho nhiều bộ môn trong di sản phi vật thể và truyền khẩu của chúng ta được săn sóc , nuôi dưỡng thật sự, bằng "ngân quĩ" chớ không phải bằng "lời nói".

Nghệ nhân phải ý thức rằng mình đang nắm trong tay di sản quí báu của cha ông chúng ta đã truyền lại từ thế hệ nầy đến thế hệ khác, sẵn sàng trao lại cho thế hệ trẻ "hết lòng, không dấu nghề".

Giới trẻ có ý thức rằng các bạn có "bổn phận "giữ gìn và phát huy" nền văn hóa dân tộc Việt. Nên tìm hiểu, học hỏi với các nghệ nhân.

Các công ty xuất bản sách báo, các cơ quan truyền thông đại chúng và nhứt là quần chúng cần có ý thức "ủng hộ thiết thực" truyền thống văn hóa bằng những khả năng của mình .

Nếu ngay bây giờ toàn dân có ý thức đó, và hết lòng hổ trợ, thì vài chục năm sau mới mong thấy được sự hồi sinh của nền văn hóa dân tộc.

Năm 2009 được Bộ Ngọai giao, Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch làm năm "Ngọai giao văn hóa", Giáo sư đánh giá như thế nào về âm nhạc dân tộc Việt Nam trong việc giao lưu, hội nhập với âm nhạc thế giới, và làm công tác "Ngọai giao văn hóa"? 

Khi bước vào lĩnh vực ngọai giao để giao lưu hai nền văn hóa trong và ngoài nước, người ta thường tìm những yếu tố mạnh nhứt để giao lưu, để giới thiệu. Văn hóa Việt Nam có nhiều điểm hay và đặc biệt nhưng thực sự chưa được quan tâm đúng và đủ. Nói về văn hóa có rất nhiều lãnh vực không chỉ riêng nghệ thuật. Chúng ta có văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa nếp sống... Văn hóa nếp sống Việt Nam thì đặc biệt thấp! Trong rạp hát, những buổi biểu diễn, hòa nhạc thì khán giả ăn quà, nói chuyện bàn tán huyên thuyên trong khi nghệ sĩ đang biểu diễn, khán giả thậm chí chẳng vỗ tay với nghệ sĩ. Người nghệ sĩ không chỉ sống bằng cơm ăn, áo mặc mà còn bằng những món ăn tinh thần từ khán giả. Văn hóa giao thông, ra đường của người dân Việt càng cần được giáo dục triệt để.

Về văn hóa ẩm thực, chúng ta cũng có vài món Việt rất ngon lạ được thế giới công nhận. Rượu Việt ta cũng có những lọai rượu ngon làm từ nếp, từ hoa, từ thực vật... nhưng không biết giới thiệu và làm nổi bật lên. Chúng ta không thể giao lưu văn hóa ẩm thực bằng việc giới thiệu rượu vang ĐL, bia H. là những sản phẩm bắt chước công thức cùng loại ở nước ngoài.

Việt Nam có những ưu thế trong lãnh âm nhạc truyền thống như nhạc Cung đình Huế, Cồng chiêng... nhưng các thể loại này vẫn chưa được quan tâm đủ. Trong buổi giới thiệu văn hóa nghệ thuật với đoàn khách nước ngoài tại Hội nghị APEC người ta lại đưa ra dàn nhạc giao hưởng! Khách nước ngoài đến giao lưu văn hóa nước ta để xem văn hóa của ta là gì, như thế nào không phải xem chúng ta bắt chước hay như thế nào!

Tóm lại để bước vào Năm "Ngoại giao văn hóa", toàn quốc phải có một phong trào cổ động việc giáo dục toàn dân về mọi lãnh vực, chuẩn bị tốt mới có thể giới thiệu văn hóa nước mình ra thế giới.

Giáo sư được xem như một pho "từ điển sống" về vốn di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam. Rất muốn tò mò được biết Giáo sư có truyền nhân để kế thừa những gì tâm huyết hiện thời và cũng là để giữ gìn cho tương lai nhiều thế hệ sau?

Cám ơn đã cho tôi là một pho "từ điển sống" nhưng thực sự hiểu biết của tôi vẫn luôn có giới hạn. Người ta "tầm sư học đạo", còn tôi "đốt đuốc tìm học trò". Học trò tôi, những hậu nhân ngày nay cùng lãnh vực của tôi có những người rất có tài nhưng các cháu có người mạnh mặt này, yếu mặt nọ, chưa thực sự tổng hợp được những yếu tố mà tôi có được! Các cháu là những người rất nhiệt huyết, có tình yêu nghệ thuật Việt Nam cao, có tâm đi theo con đường âm nhạc truyền thống nước nhà... Tuy nhiên trong các cháu vẫn luôn có những yếu tố khách quan khác để tôi không thể chọn là "truyền nhân kế thừa". Con trai lớn của tôi, có khá đầy đủ yếu tố để kế thừa những tâm huyết cuộc đời tôi theo đuổi nhưng cháu cũng có sự nghiệp và theo bộ môn nghệ thuật "Đồng song thanh". Vậy thì cho tới giờ, thực sự có thể nói rằng tôi vẫn chưa có "truyền nhân"!

Với những người trẻ, Giáo sư có thể hi vọng điều gì và muốn nhắn gửi điều gì để họ có ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát triển vốn di sản văn hóa - âm nhạc truyền thống Việt Nam trong thời đại công nghệ cao, du nhập nhiều luồng văn hóa, nhiều lọai hình âm nhạc?

Yêu âm nhạc Việt Nam không có nghĩa là "bế môn tỏa cảng" với âm nhạc nước ngoài! Trái lại chúng ta càng phải mở rộng tầm nhìn, tầm nghe, tầm hiểu biết về âm nhạc nước ngoài mà phân tích tìm hiểu cái hay, cái mạnh của họ để rồi sau đó chỉnh sửa, bổ sung vào âm nhạc nước nhà.

Kim chỉ nam cho công việc này là luôn nhớ rằng Việt Nam là "Chủ" thì văn hóa Việt Nam phải là "Chủ". Văn hóa nước ngoài là khách! Đã là khách vô thăm thì phải ra về! Khách vô thì ở phòng khách, không phải vô nhà từ đường, không đẩy bàn thờ mà ngồi đó cho thanh niên cúi lạy.

Văn hóa Việt Nam là "cơm", không có cơm thì chúng ta đói. Văn hóa nước ngoài là gia vị, là món ăn chơi cho ngon miệng. Không thể lấy gia vị, lấy món ăn chơi mà thay cơm!

Văn hóa Việt là nước, không có nước chúng ta khát! Thỉnh thỏang không uống nước, chúng ta cũng thích dùng một chút rượu. Văn hóa nước ngoài cũng có cái lạ, cái kích thích như rượu. Dẫu là rượu ngon, chúng ta cũng không thể đem rượu mà thế nước.

Được như vậy đó mới là ý thức giữ gìn, bảo tồn, phát triển vốn di sản văn hóa- âm nhạc truyền thống Việt Nam trong thời đại công nghệ cao và đang du nhập nhiều luồng văn hóa, nhiều lọai hình âm nhạc.

HOÀI HƯƠNG thực hiện

Chị tôi

2009-08-02 @ 15:26 in Trang viết gần xa

Chị tôi

Chị tôi đẩy xe lăn

Anh tôi ngồi lặng lẽ

Giục chị đi lấy chồng

Mắt chị nhìn khoảng không

Đẩy xe lăn đi tiếp...

Nhà tôi có hai chị em một trai, một gái. Mẹ mất sớm, chị thay mẹ chăm tôi. Ngày còn đi học, thỉnh thoảng chị đưa đón tôi bằng chiếc xe đạp khung dựng màu xanh của bố, hay tuột xích dọc đường. Trên xe bao giờ cũng đeo hai chiếc mũ rơm cồng kềnh trên ghi đông. Mỗi khi có kẻng báo động là chị chụp lên đầu tôi một chiếc, tránh mảnh đạn phòng không rơi xuống đầu.

Rồi chị đi lấy chồng, tôi bàng hoàng ngơ ngác. Chồng chị, bạn cùng lớp, hiền lành, đẹp trai hay đến nhà đưa tôi đi tắm sông. Mùa hè năm ấy anh đi bộ đội, tôi nhớ anh hoài vì không có ai đưa ra sông dạy tập bơi. Tôi thầm mong ước "giá chị đừng đi lấy chồng".

Hết chiến tranh, mọi người có tin, trở về, còn anh tôi vẫn biệt tăm. Không hiểu sao anh làm như vậy!? Gia đình hoài nghi, mong ngóng, chị tôi thao thức đêm ngày, hỏi thăm tin tức. Như một niềm tin, chị thề rằng: "Nếu anh hi sinh chị sẽ không đi bước nữa. Nếu anh trở về, dù có tàn phế chị vẫn trọn đời bên anh".

Rồi một ngày có tin, gia đình lên thăm anh trên bệnh viện. Anh liệt một tay, cụt hai chân. Cả nhà mừng rơi nước mắt. Chị tôi chạy đến ôm chồng nức nở. Anh tôi quay đi lặng lẽ gỡ bàn tay chị đang run run. Tôi rưng rưng đứng nhìn ánh mắt anh sâu như một khoảng trời. Anh không nói lên lời, chỉ xiết chặt tay chúng tôi. Chị lại oà lên khóc. Tiếng khóc xé lòng mà anh tôi vẫn lặng thinh. Mãi sau này tôi mới hiểu, tại sao anh làm như vậy!. Thế mà chị tôi vẫn tự hào hạnh phúc gia đình, ngày đêm chăm sóc chồng, không một lời kêu than.

Bây giờ, tóc tôi đã bạc, mà chị vẫn vấn vương thương em, như tình thương thủa nhỏ. Chị đã mất tuổi xuân cho năm tháng chiến tranh lại hi sinh cuộc đời chăm sóc người thương binh nặng. Tôi luôn nhớ chị mình một người chị hậu chiến tranh.

PHẠM XUÂN HIẾU

Tôi tin I

2009-08-01 @ 11:15 in Thơ

Tôi tin I

Tôi tin: Không mất chính mình

Trong thơ có máu cạn tình mà chi

 

Gian hùng gọi. Tôi ngoảnh đi

Chê trang giấy trắng đen sì phù vinh

 

Ngồi nhìn chiếc bóng nhân sinh

Cái tôi. Tôi chẳng gieo mình đêm sâu

 

Thơ tôi vịn thẳng hàng cau

Dại gì để mất. Để đau đớn lòng

 

Một lần tắm nước dòng sông

Nghĩa là: tôi chọn đục trong đời này.

TRẦN VẠN GIÃ