Sign up
Tự giới thiệu
My picture!
HOÀI KHÁNH

E-mail: hoaikhanhhp@yahoo.com

Lịch
« November 2009 »
Mo Tu We Th Fr Sa Su
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30            
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
liên kết cá nhân
lưu trữ
Xuất bản tin
Trạng thái của blog

Điện về làng đảo

2009-11-29 @ 01:13 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Điện về làng đảo

Đường điện về đảo

Bày dê cũng mừng

Cuồng cẳng tưng tưng

Be be khắp xóm

 

Sóng xa luống cuống

Nhún nhảy dập dờn

Những chùm hoa muống

Như vừa tím hơn

 

Nồi điện nấu cơm

Quạt bàn quay tít

Em đi học về

Hả hê ngồi mát

 

Cái loa bỗng hát

Vang vang làng chài

Cá trong thuyền ai

Vào nhà đông lạnh

 

Chú chim nhí nhảnh

Trên cột điện cao

Hót lên lanh lảnh

Thấy đảo đầy sao.

Nhà sáng tác Đại Lải, 13-10-2009

HOÀI KHÁNH

Luồng ánh sáng tuôn theo cung đường gió

2009-11-26 @ 21:53 in Bàn về văn chương

Luồng ánh sáng tuôn theo cung đường gió

Tôi gặp la liệt những nhà thơ cố ý từ chối cội nguồn, do đó khi đọc thơ của họ, dù họ có cố gắng đến mấy trong cái cách mà họ gắng dụng công diễn đạt trong câu, trong chữ, câu chữ vẫn hiện hình phấn son. Nhà thơ Aragông gọi mặt hàng giả của họ là " Sáp chữ "

Phạm Vân Anh không thuộc những nhà thơ như vậy.

Ngay trong bài thơ đầu tiên của tập thơ đầu tiên  - tập " Tôi chào tôi " - chị đã lặng lẽ tìm ngoái nguồn gốc của chị, của cái đứa bé luôn vẳng nghe từ xa thẳm li ti hồng huyết, quá vãng tiếng trống Tubông châu Phi đen, ảo mờ, cồn xoáy, dội thức:

" Ở đâu đó giữa đại dương xa xôi

Là noi linh hồn tổ tiên tôi trú ngụ

Dưới lớp sóng bạc lang thang

Một ngôn ngữ được sinh ra

Những đứa trẻ da đen thoát thai từ mẹ biển"

             (Nguồn gốc )

Và đây nữa:

" Theo đàn cá di cư

Những đứa con của lục địa đen trôi theo dòng hải lưu Canari

 cùng với ngà voi, vàng, xạ hương dạt đến miền đất mới

Mang hình trái tim rách nát lục địa trầm ngâm "

Hoặc:

" Trên đó...

Lính hồn những người đến trước ngồi hát cho nhau nghe

Linh hồn những người đến trước cấy cày, săn bắn

Linh hồn những người đến trước khoc thương

Linh hồn những người đến trước ngồi chờ đợi

những người đang đến và sẽ đến

Đàn quạ ngó ngiêng mách lẻo chuyện xưa sau"

Nhưng, cũng thật dịu dàng pha cay đắng, chị tự thoại với vô thức chị:

" Tôi chào tôi

Chào giọng nói xa lạ

Chào nhịp trống Tubông đập trong dòng máu

Chào mặt trời - thứ duy nhất lớn hơn tôi

Chào đám cây non cứ quẫy lên trong bão để không bật ra khỏi rễ "

 " Chào mặt trời - thứ duy nhất lớn hơn tôi ". Câu thơ thật kì ảo và lạ lùng.    " Thu tam thiên nhập nhất khí " ảo diệu sao! Vì sao một thiếu nữ còn rất trẻ lại:     " Chào mặt trời - thứ duy nhất lớn hơn tôi "

Khi được chị tặng tập thơ mở đầu cho nghiệp cầm bút của chị, tôi đọc câu thơ ấy rồi thoáng ngỡ ngàng. Thì ra chị là hậu duệ của một người Phi di thực? Mà cũng có thể chị là hậu duệ của một nô lệ viễn chinh thời thực dân Pháp xâm lược quê hương tôi. Thời ấy, biết bao trai tráng da màu bị đất mẹ Pháp cưỡng bức sang Đông Dương. Có thể một người lính da đen nào đó là nguồn cội của chị, mà quê nhà hun hút từ đâu đó lục địa Phi bỏng nắng đã tới đây, vĩnh viễn nằm lại eo biển nhiệt đới hình chữ S này rồi tụ thành hình hài chị - một nhà thơ mang hồng huyết Việt - Phi. Chính vì thế chăng mà chị chào mặt trời - chào cái phía sáng chói láo khổng lồ. Trăn trở thế cũng có ngiã chị đau âm thầm phía tối, phía bóng của câu hỏi " Cội nguồn ta ở đâu ? ". Thật trung thực biết bao cái nhìn không che đậy, không chối từ thường thấy. Mầm chữ chỉ bật khoẻ khi nhà thơ không chối từ nguồn gốc của chính họ - và, chỉ như thế chữ mới sáng lên phẩm hạnh. Cũng có lẽ vì thế, ngay từ bài đầu tiên của tập thơ đầu tiên của chị, những câu thơ mới run rẩy và ám ảnh đầy ma lực trong câu chữ, cấu tứ, trong nhịp điệu và trong ngôn ngữ diễn đạt.

Tôi có quen một thợ khoan dầu khí người Phi. Anh vốn là một thổ dân xứ Marôc có tên là Amađi. Một lần, anh đã hát cho tôi nghe một bài ca của xưa sở anh. Bài ca cuồng nhiệt mà thật buồn. Vâng! Nhịp điệu thật cuồng nhiệt, âm vang tiếng trống Tubông mà vẫn thảng thốt, đẫm buồn, lạ lùng lắm. Tôi không thật hiểu hết, chỉ cố tiếp nhận bằng cảm qua lời dịch của người bạn tôi thế này:

" Quê tôi xa vời xa sau dóng kia

Những đàn voi thở khói lên mặt trời loá nắng

Đàn sư tử ủ rũ nấp sau bụi hoang

Cọ cũng khóc, hoa dầu gai cũng khóc

Tôi im lìm khóc bằng máu của chính tôi, bằng trái tim khô nẻ của chính tôi

Tôi khóc quê hương và khóc vầng mặt trời"

Thì ra thế. " Chào mặt trời - thứ duy nhất lớn hơn tôi " là cách nói phóng dụ, tựa như lời bài ca Amađi đã hát: " im lìm khóc bằng máu của chính tôi, bằng trái tim khô nẻ của chính tôi. Khóc quê hương và khoc vầng mặt trời ". Phải trung thực và đầy can đảm mới có thể chào chính mình và chào độc giả như cái cáhc mà Phạm Vân Anh đã choà và Amađi đã hát day dứt.

Trong một bài thơ khác - bài " Cồn sấm ", chị viết về người bà của chị lúc nằm xuống bằng những câu thơ tê tái

"Ấy là nơi bà tôi nằm lại

Chiều mang mang

Những thửa ruộng nức nở

Ánh sáng vỡ ra trên nóc nhà thờ

Ba người phu đào huyệt câm lặng và khổ hạnh

Từng nhát xẻng thuốn sâu"

            (Cồn sấm )

Lại một lần nữa chị viết như đặt câu hỏi:

" Dấu hỏi đời người đặt nơi đáy huyệt

Phờ phạc cây cỏ ma!

Lẳng lặng đưa bà về nhà mới

Ngôi nhà cửa bị đóng đinh

Ngôi nhà dành cho cuộc đời không yên bình

Ra đi vẫn bàn tay trắng".

Tôi đọc như bị ma ám tập thơ " Tôi chào tôi " của Phạm Vân Anh, chợt nhận ra một ngôn ngữ thơ rất mới, rất hiện địa. Câu chữ mạnh, lạnh, bật tung từ những ký ức buồn thăm thẳm:

" Cái chuông treo trên ngọn cây

Cây hát...

Về mùa màng

Về dấu chân in trên đá "

            (Nói với nhau)

Rồi đây nữa:

" Gương mặt đêm tô điểm gương mặt ngày

Còn gương mặt chúng ta theo tiếng chuông tan mất "

( bài trên )

Hoặc dữ dội hơn:

" Dưới lớp xương sườn

Trái tim đầy vết nhăn hằn học

Và đôi mắt cười đồng loã lưới dao "

            (Nhân bản)

..v.v và..v.v..

Là người đọc kỹ những giọng thơ trẻ như Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, tôi bị bất ngờ trước giọng điệu của Phạm Vân Anh. Chị giống họ ở ngôn ngữ biểu đạt đương đại của lớp trẻ, nhưng khác họ ở lối diễn đạt lòng người thơ không bằng nhiều diễn từ kiểu cách và triết luận nhạt. Cũng không phải là không có những câu thơ chị viết kỳ khu. Thường những câu thơ như thế không trụ lại trong lòng bạn đọc - chí ít là tôi.

Khi in tập thơ này, Phạm Vân Anh mới ngoài 20 tuổi. Ở tuổi đó mà Phạm Vân Anh đã đi được một bước vững chắc là vô cùng quí. Ngôn ngữ thơ chị đã léo một giọng điệu. Trong sự loé lên của giọng điệu đã tỏ rõ sức thơ, tỏ rõ bút lực mạnh, cá tính hiện hình. Chỉ như thế đã hội đủ tín hiệu để ta tin vào sức đi của một nhà thơ trẻ tuổi.

Tôi không có ý định bình giá về tập thơ " Tôi chào tôi " của Phạm Vân Anh. Lại càng không có ý ngó nhìn xăm soi vào các phân tích như lối viết, về mỹ jọc, ngôn ngữ thơ, về tư tưởng... trong thơ chị. Tôi không phải là nhà phê bình văn học, do vậy, nếu tôi làm điều đó sẽ là vô lý và chắc chắn sẽ nhạt nhẽo. Tuy nhiên, tôi rất muốn nói điều này, rằng, khi đọc thơ của những nhà thơ trẻ mới thì " Hới những lão già, xin quí vị hãy bình tĩnh trước sự mới và sự trẻ. Những nhà thơ trẻ đang  phá vỡ những khao khát cũ. Cách đi mới của họ, cách nghĩ mới của họ, diễn đạt rất trực diện của họ sẽ làm cho thi ca lồng ra sự tẻ nhạt và quen thuộc. Xin đừng tự ái! Họ đang mang vẻ đẹp và sức cường tráng mới cho thi ca. Nếu có đôi chỗ lỗ mỗ thì cũng là thường tình cho mọi hướng khai phá. Những Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Phạm Vân Anh, Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài... và nhiều nữa sẽ góp vào sự đa dạng, sự giàu có về sự mới của thơ Việt trong thế kỉ mới. Riêng tôi, tôi rất tin vào sức bút và hướng mở của những nhà thơ trẻ "

Đây nhé:

" Ngày mới bắt đầu bằng một giờ mới

Bằng nước mắt đọng trên cành khô

....

Thành phố không tiếng gà báo thức

Giọng cúc cu vang từ chiếc đồng hồ

Tiếng động cơ bằm mật phố

.....

Chân trời mở

Luồng sáng tuôn theo cung đường gió "

            (Cho một ngày mới )

Hà Nội 2007

HOÀNG QUÝ



Thơ văn và người công nhân Cảng Hải Phòng

2009-11-24 @ 04:58 in Thông tin tổng hợp

Thơ văn và người công nhân Cảng Hải Phòng

Người Hải Phòng từ xưa tới nay đều rất tự hào khi gọi thành phố của mình bằng cái tên đầy tính biểu tượng: thành phố Cảng. Được là người công nhân làm việc trên bến cảng, ai cũng thấy mình hãnh diện hơn, không chỉ bởi cuộc sống của người công nhân lao động Cảng Hải Phòng đang đi lên từng ngày, sắc áo công nhân đỏ rực trong ánh bình minh cửa biển, những người công nhân ngày đêm trần mình với nắng gió trên cầu cảng gửi gắm tâm sự của mình đến bạn bè muôn nơi thông qua những tấn hàng, những chàng cần trục khổng lồ xoay chuyển những vũ điệu không gian thật uyển chuyển, thật hùng tráng, mà còn bởi chặng đường tám mươi năm truyền thống của đội ngũ công nhân Cảng Hải Phòng (24/11/1929 - 24/11/2009) thật hào hùng, thật đáng trân trọng. Những con người lao động của bến Sáu Kho xưa và Cảng Hải Phòng ngày nay, với ý chí cùng nghị lực phi thường đã vượt qua không ít những khổ đau nghiệt ngã, những cam go khốc liệt. Để tới nay họ có quyền ngẩng cao đầu cùng ca vang bản hùng ca của thời đại. Họ xứng danh là những "dũng sĩ Biển Đông vai sắt chân đồng". Và hình ảnh người công nhân bến cảng, rất tự nhiên đi vào những áng thơ văn của không ít những văn nghệ sĩ thành phố cũng như của đất nước.

Với vợ lão Đen: "ngày thường ở ngoài Sáu Kho, mụ quai băng băng lên vai cả một tạ gạo, vật nhau cả với những người đàn ông lực lưìng...". Nhưng với người phu khuân vác ấy thì "Cốt sao nuôi nổi chúng nó ngày hai bữa, không để chúng nó ăn mày, ăn nhặt là được rồi!" Với Hưng: "Hưng làm chấm công ở ngoài sáu kho. Buổi đắt, buổi ế, Hưng đã phải nhận những sổ về chép và những sách về đóng lại để đì vực cho nhà cũng năm miệng ăn ... mà cả Hưng, mẹ và các em chỉ dám ăn ngày một bữa" Đó là, dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp, người công nhân lao động vô cùng cực nhọc, mọi chỗ làm việc đều tạm bợ, nguy hiểm, tai nạn thường xuyên xảy ra. Suốt ngày phải dầm mưa, phơi nắng và làm việc dưới roi vọt của bọn chủ thầu, cai kí nhưng đồng lương quá ít, lại còn bị cắt xén. Có thể nói, đời sống của công nhân Cảng Hải Phòng là một trong những điển hình về sự khổ nhục của giai cấp công nhân Việt Nam dưới thời thuộc Pháp. Nhà văn Nguyên Hồng là nhà văn đầu tiên đã đưa hình ảnh người công nhân Cảng Hải Phòng vào trong tác phẩm văn học. Bởi Nguyên Hồng là người sống trọn vẹn trong cảnh lầm than, cùng với lớp người nghốo họp thành bộ mặt dưới đáy đời sống thành thị. Bởi nơi xóm Cấm, vườn hoa Đưa Người và bến Sáu Kho của Hải Phòng mà ông quen thuộc, nào có thiếu bất cứ nghề gì để được coi là nghề, cho sự sống dưới đáy ấy để có cái đưa vào miệng.

Cuộc đấu tranh thắng lợi ngày 24-11-1929 tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường, dũng cảm, sáng tạo và đoàn kết chặt chẽ trong tình thương yêu giai cấp của những người công nhân Cảng Hải Phòng. Xin được bày tỏ lòng thành kính, biết ơn sâu sắc tới những người con kiên trung như đồng chí Biên, đồng chí Phúc, đồng chí Tự, đồng chí Nhân, đồng chí Đức,... những công nhân bốc vác ở Cảng, là những đại diện ưu tú nhất viết lên trang đầu tiên của lịch sử đảng bộ, đội ngũ công nhân Cảng Hải Phòng.

Đất nước vừa thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp thì lại lâm vào tình cảnh bị chia cắt bởi đế quốc Mỹ. Toàn Đảng, toàn dân ta phải gồng mình cho cuộc đấu tranh mới - Cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Đội ngũ công nhân Cảng Hải Phòng chung tay cùng cả nước bước vào trận đánh cam go, ác liệt nhất trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng như của toàn nhân loại.

Cố nhà thơ Đào Cảng từng là thợ cơ khí của Cảng trong những năm tháng ác liệt đó, sau chuyển sang phòng thi đua tuyên truyền. Trong bài thơ Đêm chống Mỹ ở Cảng Hải Phòng, ông viết:

Cảng Hải Phòng như một vòng cung lửa

Trận đánh này đang triển khai, triển khai

Vũ khí đâu chỉ là sắt thép

Cả vải lụa, tre mây cũng đánh giặc đêm nay.

Nhà thơ Nguyễn Tùng Linh trưởng thành từ phong trào thơ chống Mỹ của thành phố, cảm nhận của ông về những người công nhân Cảng Hải Phòng qua những kì tích mà họ đã lập nên trong cuộc chiến chống phong toả thuỷ lôi của đế quốc Mỹ. Bài thơ Những người phá thuỷ lôi trên cửa biển, ông đề tặng tự vệ Cảng Hải Phòng, đơn vị anh hùng.

Chiếc ca - nô tăng tốc độ cuối cùng

Bật lên dòng điện từ trường

Biển nhiễm từ bùng lên những tia chớp

Những quầng sáng đỏ rực

Kéo theo từng cột nước khổng lồ

Chiếc ca - nô lắc lư

Như chực vỡ tung làn vỏ thép

Vật vã tưởng như sắp lật

                     bởi những đợt sóng lừng dữ dội

Nhưng tiếng hát con người đã bật lên hoà tiếng máy

Bỏ rơi tiếng thuỷ lôi thù vọng bất lực sau lưng

Hình ảnh của người công nhân bốc xếp trong thời đại mới. Thời đại ai cũng muốn dâng hiến đời mình cho những điều đẹp đẽ trên đời.

Gió biển thổi căng như vồng ngực người khuân vác

 (Thanh Tùng)

Dáng trầm ngâm người thợ khuân vác

Đôi vai trần bóng nước đồng hun

Biết bao tấn hàng

                     đã trôi

                                 trên vai,

                                            trên lưng

 (Nguyễn Tùng Linh)

"Hơn ba mươi năm làm nghề bốc vác trên bến cảng, vào ngày hè thì phơi lưng dưới nắng để cho lớp da khô xác như tấm mo cau, đến tháng đông dù thời tiết có lạnh giá thì công việc cũng vắt cơ thể lão ra những giọt mồ hôi đặc sánh như keo và để cưỡng lại cái nặng nhọc đè lên vai các múi cơ phải bện xoắn vào nhau khiến người lão sắt seo khác nào sợi dây neo tầu. Lại thêm hai cục u chai hai bên vai, một cục sau gáy to như trái cam, hệ quả của hàng nghìn thậm chí tới hàng triệu chứ chẳng ngoa đủ các loại bao kiện hàng hoá, từ chất liệu bao vải đến bao ni-lông, đến những hũm gỗ cạnh sắc như dao đè xuống thì không có những cục chai đấy mới là chuyện đáng để nói." (Nguyễn Quốc Hùng).

Cảng Hải Phòng, mảnh đất có những chàng trai gồng mình "mang trên lưng hy vọng của đời mình" (Nguyễn Thuỵ Kha), có những cô gái lái xe "tóc bay trên sóng biển quờ hương" đã ươm mầm cảm xúc trong tâm hồn của những người công nhân lao động, giúp họ trở thành những văn nghệ sĩ mà tác phẩm đã được khảng định như cố nhà thơ Đào Cảng, nhạc sĩ Nguyễn Kim, ca sĩ Mạnh Khang, nhà thơ Vũ Thuý Hồng và nhà văn Nguyễn Quốc Hùng. Và Cảng Hải Phòng cũng là nơi các văn nghệ sĩ tìm đến cho những chuyến đi thực tế sáng tác của mình. Nhà thơ Nguyễn Viết Lãm đã có chuyến đi thực tế, cùng làm việc, cùng sinh hoạt với công nhân bốc xếp ở khu chuyển tải Hạ Long. Ông có bài thơ Hạ Long, đêm bốc vác:

Sương mờ xanh, Hạ Long còn lạnh giá,

Nhưng mồ hôi mưa xối đổ lưng trần,

Tay cần trục theo tay người hối hả,

Chưa kịp nhìn, trời nước đã sang xuân!

Công việc của người công nhân bốc xếp cực nhọc, vất vả là thế nhưng cuộc sống của họ thật giản dị, tấm lòng của họ thật bao dung. Không ai hiểu người công nhân bốc xếp hơn nhà văn Nguyễn Quốc Hùng: "Cái phận thằng bốc vác chênh vênh lắm, thằng Tương được con vợ đẹp thế tao cũng phải cố giữ hộ nó. - Lão nhìn vào mắt Huy, hỏi: - Sao, mày ngạc nhiên à? Thằng bốc vác ngửi mùi hụi của nhau còn nhiều hơn ngửi mùi hôi của vợ, thế mới phải mắc nợ với nhau."

Hình ảnh bến cảng của Hải Phòng có sâu đậm như vậy, cho nên nhà thơ Nguyễn Đình Thi khi xa Hải Phòng nỗi nhớ đầu tiên ập về trong ông đó là:

Hải Phòng ơi đêm nay bỗng nhớ

Tiếng còi tầu sông Cấm chiều hôm

Ánh mây trên váng dầu tím đỏ

Đàn hải âu đùa với cánh buồm

(Nhớ Hải Phòng - Nguyễn Đình Thi)

Đất nước đang chuyển mình bước vào một giai đoạn mới. Giai đoạn tăng tốc của nền kinh tế nước nhà sao cho kịp nhịp bước phát triển của thời đại. Bến cảng vẫn mãi là một cánh cổng ra vào của đất nước. Nhưng cánh cổng ấy bây giờ phải được mở rộng hơn, phải bề thế hơn để đáp ứng mọi yêu cầu của nền kinh tế. Những người công nhân bến cảng vẫn mói là người phục vụ tận tuỵ. Liệu họ có đáp ứng được những thách thức của giai đoạn mới đòi hỏi? Với niềm tự hào về truyền thống tám mươi năm đấu tranh, dựng xây và phát triển, với tinh thần "Đoàn kết - Kiên cường - Sáng tạo" chắc chắn rằng những người công nhân lao động Cảng Hải Phòng sẽ làm nên những kì tích mới. Sẽ còn nữa, những câu văn, những vần thơ được nảy sinh từ những mảnh đời của những người công nhân ngày đêm miệt mài lao động trên bến Cảng Hải Phòng.

Xin được trích một đoạn trong bài thơ Bác thăm tàu HC15 của cố nhà thơ Đào Cảng thay cho lời kết:

"Phải thương yêu nhau như trên một con tàu

Ai muốn tách mình ra ngoài tập thể

Chẳng khác gì tự mình lao xuống bể

Tưởng một mình vào bến trước anh em!

Lời Bác dạy cho cán bộ thuyền viên

Thành phương ngôn cho những người đi biển

Nhìn địa bàn trời sao ta định hướng

Ta còn nghe lòng ta vang dội tiếng Người"

NGUYỄN QUỐC HÙNG

 

Thầy tôi

2009-11-20 @ 06:41 in Truyện ngắn

HOÀI KHÁNH: Cái tên Đặng Thị Thuý đang quen thuộc dần với nhiều người yêu văn chương trong cả nước. Đặng Thị Thúy là một cô giáo ở Trường tiểu học Lý Tự Trọng, mãi tận miền biên giới Móng Cái xa xôi. Đặng Thị Thúy sống dịu dàng, khiêm nhường, nhưng tràn đầy nội lực của một người đam mê viết văn. Chị là một cây bút trẻ Quảng Ninh có nhiều triển vọng. Đặng Thị Thuý vừa qua một trận ốm khá nặng, niềm say mê viết lại trào dâng. Nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 năm nay, Blog Hoài Khánh xin gửi tới bạn đọc gần xa một truyện ngắn mới sáng tác của chị và mong nhận được sự chia sẻ với tác giả. Chúc cô giáo Đặng Thị Thúy có nhiều sức khỏe, viết hay, dạy giỏi, có nhiều trò ngoan!

Thầy tôi

Lớp tôi là lớp chọn của trường. Các thầy cô vẫn bảo: "Cả một tập thể học tốt, phải tội...". Cái tội mà các thầy nói ấy chính là tôi, thằng con trai mười bốn tuổi, con trai duy nhất của ông chủ tịch quận, với đủ các trò nghịch ngợm quái ác, những trò đủ để những người gần tôi trở thành trò cười cho những người khác bất cứ lúc nào. Điều đó làm cho các bạn và các thầy cô cảnh giác mỗi khi tôi đến gần. Nhưng chẳng ai có thể tránh được khi tôi đã cố tình lấy họ làm mục tiêu. "Mình có mặt trên đời để nghĩ ra những trò tai ngược ấy" - đôi khi tôi tự đắc nghĩ thầm..

Có một hôm, tôi vẽ cái mặt người to tướng trên bảng lớp với hai má phính như má lợn,  thêm đôi mắt ti hí như mắt lươn, mũi là quả táo đỏ chót và cặp môi là hai quả chuối mắn vàng rực. Tôi chú thích bên cạnh bằng dòng chữ đầy ấn tượng: "Cao Hoà, bà cố của Thị Nở". Đứa nào xoá đi nghĩa là tự nguyện làm nạn nhân tiếp theo. Bởi vậy, bức chân dung kiệt tác ấy vẫn cứ nằm chình ình trên bảng cho cả lớp lăn ra cười, chỉ có một đứa khóc thút thít nhưng chẳng dám làm gì tôi. Khi thầy giáo hỏi, tôi thản nhiên trả lời: "Thưa thầy, em chỉ tả thực, có một chút xíu sáng tạo, mà sáng tạo mới là công việc đích thực của hoạ sĩ". Thầy lắc đầu, nhắc nhở tôi vài câu rồi cho qua.

Một hôm khác, tôi dính kẹo cao su lên ghế khiến cô giáo trẻ dạy địa loay hoay mãi không đứng lên được, mặt cô đỏ bừng còn lũ chúng tôi cười khúc khích. Không nhân chứng vật chứng, chẳng ai dám buộc tội cho tôi. Đó cũng chính là lí do khiến cho từ đó trở đi, mỗi lần vào lớp tôi là các thầy cô cứ phải soi mặt ghế, chắc hơn thì đặt hẳn tờ báo lên để ngồi.

Lại có một hôm, không chỉ lớp tôi mà cả trường được một trận cười no nê khi "bà Lo - ren" (biệt hiệu tôi đặt cho cô giáo dạy hoá) kéo cái đuôi giấy dài lê thê, bay phấp phới theo nhịp bước từ lớp học lên đến văn phòng.

Ấy chỉ là một số trong vô số những trò đùa của tôi. Thế mà chưa bao giờ tôi bị kỉ luật, cùng lắm là bị nhắc nhở nhẹ nhàng rồi thôi. Các thầy cô khác bảo đấy là do thầy chủ nhiệm của tôi quá hiền. Mà thầy hiền thật, hiền đến nỗi chả biết gì cả, tôi nghĩ thế. Giờ học của thầy, chúng tôi được tự do hơn nhiều giờ học khác. Thầy bảo "Học là quyền lợi của các em, ai muốn chối bỏ nó thì tuỳ, miễn là đừng làm ảnh hưởng đến người khác." Mỗi giờ lên lớp thầy vẫn giảng say sưa, rất nhiều đứa chăm chú nghe, chúng bảo thầy giảng sâu sắc và dễ hiểu. Nhưng tôi lại là một trong số ít những đứa không chịu nghe giảng. Nghe làm gì khi tôi không cần thuộc bài vẫn cứ đều đều có điểm. Các thầy chỉ doạ tôi thôi, chẳng ai dám cho tôi điểm kém. Năm học nào cũng vậy, cứ đầu năm là mẹ tôi chu đáo với tất cả các thầy cô, ai cũng vui vẻ cả. Duy chỉ với thầy Dương, thầy chủ nhiệm, là có chút vấn đề...

- Cái ông Dương này, nói thế nào cũng không nhận, đã nghèo lại còn sĩ...

Đấy là lời mẹ tôi phàn nàn khi mang nguyên vẹn gói quà biếu từ nhà thầy trở về.

Tuy chưa đến bao giờ nhưng tôi đoán nhà thầy nghèo thật. Nghe đâu thầy "gà trống nuôi con", mà những ba đứa đang tuổi ăn học. Vợ thầy đã bỏ theo người khác vì không chịu nổi cái hâm của thầy. Ai đời làm giáo viên, lương đã ít mà người ta thuê dạy thêm không dạy, chỉ khăng khăng kèm không công mấy đứa học sinh có năng khiếu môn văn. Vợ thầy có nhiếc móc lắm thì thầy cũng chỉ gắt: "Tôi thà nuôi lợn tăng gia còn hơn bán rẻ chữ nghĩa của mình theo kiểu thuê mướn chợ búa ấy". Như thế, thầy nghèo, thầy khổ là phải thôi. Dù cuộc sống khi ấy, người ta không còn phải thiếu thốn cái ăn, người ta khá tươm tất trong cái mặc, nhiều người đã mua được xe máy, chí ít cũng là chiếc xe mini hai gióng của Nhật để đi làm, thì thầy, mỗi lần đến trường, vẫn đi cái xe đạp cũ mèm, quần áo tuềnh toàng, nhất là chỗ khoeo chân của cái quần, nhiều hôm nó xoăn tít như lò xo. Đặc biệt nhất là đôi dép của thầy. Đó là một đôi tông coỏng của Trung Quốc có quai màu xanh, đế cao su đã ngả sang màu nâu xỉn. Của này bền thật, tôi thấy thầy đi lâu lắm rồi mà cái quai của nó vẫn chắc nguyên, chỉ có phần gót đế là mòn vẹt đi mà thôi. Phải nói là chính đôi tông có một không hai ấy đã góp phần đáng kể để tôn cho dáng vẻ khẳng khiu của thầy thêm thảm hại. Đã thế, thầy lại còn bị cận. Cặp kính dầy nặng trĩu như muốn kéo tụt cái sống mũi xương xương mỏng mảnh của thầy xuống. "Người như thế có mà nghèo cả đời!" - mẹ tôi vẫn bảo thế mỗi lần nhắc đến thầy. Nguyên cái vụ thầy từ chối nhận quà của mẹ tôi đã là một chuyện gây không ít điều tiếng. Thế nhưng đó lại chính là lý do khiến tôi thấy hơi nể thầy. Dù vậy, thói lười biếng và ỷ thế ngang ngược của tôi vẫn không có thuốc chữa.

Mỗi tiết học có 5 phút tử thần. Ấy là lúc các thầy kiểm tra bài cũ. Đứa nào thuộc bài thì hớn hở xung phong, đứa không thuộc thì cúi gằm mặt. Tôi không xung phong bao giờ, mà cũng chẳng bao giờ cúi gằm mặt, trừ giờ học của thầy. Ánh nhìn của thầy không hiểu sao cứ khiến tôi thấy gai gai. Thế rồi điều gì đến vẫn đến. Vào một ngày đẹp trời, thật thảm, thầy gọi tôi lên bảng. Dù là một câu hỏi dễ nhất, dù là thầy đã gợi ý và khuyến khích thì tôi cũng vẫn câm như hến. Trong đầu tôi làm gì có chữ nào. "Tôi cho em nợ để lần sau gỡ", thầy sẽ lại nói thế và tôi vẫn cứ có điểm trong sổ như các thầy cô khác vẫn làm, tôi nghĩ vậy. Nhưng không, thầy nghiêm mặt: "Em không thuộc bài, thầy ghi điểm 1". Điểm 1 đầu tiên trong đời đi học của tôi, nó nằm chình ình, đỏ chót ngay trên sổ đầu bài của lớp và trong cuốn sổ điểm, thứ sạch sẽ và tinh tươm nhất của thầy. Cả lớp nhìn tôi với con mắt chế giễu dành cho kẻ thất trận. Điều đó khuấy lên lòng tự ái trong tôi. Tôi nung nấu ý định trả thù thầy.

Trên bục giảng láng xi măng của lớp tôi vẫn có một lỗ thủng. Mỗi ngày lớp xi măng cứng xung quanh vỡ ra một ít, làm cho lớp cát xốp bên dưới chảy ra. Càng quét cát càng chảy nhiều, lại vỡ rộng ra thêm. Đến lúc này nó đã trở thành một cái hố đủ để bẫy các cô giáo đi guốc cao. Mỗi lần bị thụt gót xuống đó, các cô giật mình, chới với rồi đỏ mặt, lũ chúng tôi cười rào, nhưng chẳng ai nghĩ đến chuyện lấp nó đi.

Sáng hôm ấy, tôi đến trường thật sớm, đập cho cái hố rộng thêm ra một tí, moi cát đi cho cái hố sâu thêm một tí, chẳng ai để ý nên chẳng ai biết gì. Mọi chuyện vẫn diễn ra bình thường cho đến giờ văn của thầy Dương. Thầy say sưa giảng như thường lệ. Tôi bắt đầu gấp đạn giấy, móc vào dây cao su và bắn nhau với mấy đứa ghét môn văn trong lớp. Khi thầy quay xuống, lớp im phăng phắc. Thầy quay lên ghi bảng, đạn giấy chíu chíu bay. Thi thoảng có đứa ré lên vì bị bắn trúng lưng. Thầy cau mày nhìn xuống, không thấy gì, lại giảng rồi ghi. Bỗng "đẹt!", một viên đạn giấy vụt qua mang tai thầy, lao vào mặt bảng. Thầy giật mình nhìn theo thứ vừa gây ra tiếng động ấy rơi xuống đất. Thầy nhặt lên, đưa ngang mắt, giương cặp kính lên soi. Và thầy nổi cáu:

- Ai? Ai bắn? Tôi đã bảo cô cậu nào không thích học thì thôi, tôi không ép, nhưng đừng có làm ảnh hưởng đến người khác. Tôi đã bảo... ối...

Thầy loạng choạng, suýt ngã. Thầy sập bẫy rồi. Tôi khoái trá. Cả lớp trố mắt nhìn. Thầy rút bàn chân lên khỏi cái hố. Ô hô, đôi dép độc nhất vô nhị của thầy. Cái quai dép đã rời hẳn ra, bám vào mu bàn chân cong cong gầy guộc, còn cái đế lủng lẳng phía dưới trông như mồm con cá sấu vừa há ra. Mấy đứa nén tiếng cười. Thầy lúng túng cúi xuống, xỏ quai vào cái lỗ dưới thân dép. Được rồi! Thầy nhấc chân lên toan bước thì "bịch", nó lại tuột ra, lòng thòng. Mấy đứa bật cười. Thầy cũng cười, nụ cười méo xệch.

Có đứa nhanh ý bảo:

- Thầy ơi, em có mẩu dây đồng, thầy buộc tạm.

Chả là hôm ấy lớp tôi có giờ thực hành kĩ thuật nối dây điện. Thế là mẩu dây đồng được dùng để xiết chặt cái quai vào thân dép. Thầy xỏ vào, nhấc chân lên:

- Được rồi, tốt rồi, cảm ơn các em.

Thầy tiếp tục bài giảng, quên cả việc truy cứu và trách phạt đứa học trò hỗn xược. Bỗng dưng giây phút ấy, tôi thấy một cảm giác ăn năn hối lỗi tự dưng trào lên trong lòng. Hình như mình đã hơi quá đáng. Nụ cười méo xệch của thầy cứ ám ảnh tôi suốt hai tiết học còn lại.

Tan trường, tôi đợi ở cổng, định gặp thầy để xin lỗi. Đợi mãi, đến khi sân trường vắng tanh mà không thấy thầy đâu. Chắc thầy về từ tiết bốn. Tôi lủi thủi đạp xe về, cảm giác tội lỗi chưa bao giờ dâng đầy trong tôi đến thế.

Dù gì, thầy cũng là một người thật hiền lành, chưa bao giờ nặng lời mắng nhiếc học sinh. Công bằng mà nói, tiết giảng văn của thầy là tiết học mà nhiều đứa trong lớp tôi mong đợi nhất. Bài giảng của thầy như một bài nói chuyện thông thường, chỉ khác là lời thầy lúc nhanh lúc chậm, có nhịp điệu trầm bổng nhịp nhàng, có cả động tác phụ hoạ nữa. Lúc đầu chưa quen, có đứa nhắc:

- Thầy ơi, nhanh quá em không ghi kịp.

Thầy ngạc nhiên:

- Em chép từng chữ à? Không cần phải thế, em chỉ cần nghe, chọn những ý cơ bản, ghi vắn tắt là được rồi.

Thế là không cần tốc kí để học thuộc từng câu từng lời của thầy cô như mọi năm nữa. Thậm chí còn được đứng lên trước lớp để bày tỏ quan điểm riêng, được tranh luận với thầy về một vấn đề nào đó. Nhiều đứa lắng nghe, tích cực hưởng ứng, nhưng cũng có đứa làm việc khác. Thầy cứ giảng, say sưa và nhiệt tình. Có lẽ vì thế mà một số người bảo thầy hâm. Hâm không chẳng biết, chỉ biết khi kiểm tra cuối kì 1, điểm văn lớp tôi cao nhất trường.

Dù gì, thầy cũng là người đánh thức trong tôi chút ý thức về lòng tự trọng của một con người. Không phủ nhận rằng, nhiều khi bài giảng của thầy cũng làm cho tôi thấy cuốn hút. Ấy là khi thầy nhấn mạnh về ý nghĩa nhân văn sâu sắc và cao đẹp của một tác phẩm văn học hay. Hoá ra, anh Chí Phèo không chỉ biết cào mặt ăn vạ như tôi nghĩ, mà đằng sau vẻ ngoài xấu xa đó là khát vọng cháy bỏng được làm một con người lương thiện hiền lành. Ấy là khi tôi thấy thầy nghẹn ngào rơi nước mắt khi giảng bài "Người đi tìm hình của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên. Với bấy nhiêu đó thôi, thầy có đáng phải nhận lấy những tai ương từ một đứa học trò ngỗ nghịch?

Vụ "tai nạn" khá nghiêm trọng kia đã gây ra một hiện tượng lạ ở lớp tôi vào sáng hôm sau: chẳng ai bảo ai, mười mấy đứa lớp tôi mang xi măng đến để bít cái hố trên bục giảng. Rồi lần lượt từng ấy đứa chưng hửng và ngơ ngác hỏi nhau: Ai đã lấp cái hố? Lại còn láng xi măng bóng loáng, phẳng lì? Chưa có câu trả lời thì thầy tất tả đến. Thêm một túi xi măng thừa. Câu trả lời vẫn là một bí ẩn. Cả giờ học hôm ấy, thầy vui ra mặt, thầy khen ai đó đã có ý thức tự giác, biết nghĩ và quan tâm đến mọi người... Tôi thấy lòng lâng lâng lạ.

Sáng mồng ba Tết, tôi cùng bố chuẩn bị đến nhà thầy. Lần đầu tiên trong đời tôi tự nguyện đến thăm nhà thầy cô giáo. Mẹ đặt vào tay tôi túi quà Tết khá to nhưng tôi nhất quyết chối từ:

- Mấy lần thầy đã không nhận rồi mà mẹ còn cố. Thầy không thích những thứ ấy đâu. Thầy thích cái này cơ.

Tôi nói rồi giơ cho mẹ xem quyển sách tôi đã mua để tặng thầy mà chưa có dịp. Đó  là cuốn "Tuyển  tập  Hoài Thanh - Hoài Trân", nghe nói đó là một tư liệu quý mà những thầy cô dạy văn cần có. Hôm ấy, tôi ra hiệu sách tìm mua truyện, vô tình trông thấy thầy ở quầy thanh toán. Thầy đã tần ngần tiếc nuối trả lại cuốn sách này vì chỉ đủ tiền để mua mấy quyển sách dùng cho kì hai của học sinh, những quyển mà cũng chính mắt tôi thấy thầy đưa cho thằng Tú lớp tôi vào sáng hôm sau. Nhà nó nghèo, học vào chương trình của kì hai rồi mà sách vở nó thiếu tơi tả.

Ngồi sau chiếc xe cúp 82 bố mới tậu, tôi chẳng có cảm giác hãnh diện như mọi khi. Thay vào đó là sự hồi hộp: Liệu thầy có nhận món quà này không nhỉ? Thầy mà trả lại thì tôi xấu hổ lắm. Cầu mong thầy đừng nghĩ là tôi có ý muốn hối lộ thầy như mọi khi mẹ tôi vẫn làm.

- Con hồi hộp à? - Tiếng bố hỏi cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

- Đâu mà. - tôi chối - Bố hồi hộp thì có, đây là lần đầu tiên bố đến thăm thầy giáo con còn gì?

- Thầy giáo con? Con không gọi thầy cô giáo bằng "ông ấy, bà ấy" từ bao giờ thế nhỉ?

Im lặng. Tôi cũng chẳng biết là từ bao giờ.

Tiếp chúng tôi trong căn nhà chật chội và tuyềnh toàng là chị Diệp, con gái thầy.

- Bố cháu đi chúc Tết hả? - Bố tôi hỏi trong khi ngắm nghía quanh nhà.

- Dạ, bố cháu đi lấy nước lợn chú ạ?

- Nhà cháu nuôi lợn à? Hôm nay mới có mồng 3 Tết mà?

- Vâng ạ, nhưng người ta nhắn bố cháu sang lấy. Thức ăn thừa để mấy ngày rồi, sợ nó bốc mùi hôi quá chú ạ? Cháu bảo để cháu đi lấy thay nhưng bố cháu nhất định không cho. Chú ngồi chơi một tí, chắc bố cháu về ngay bây giờ đấy ạ.

Tôi đi quanh nhà, ngắm nghía những tấm bằng khen, thứ có nhiều nhất và được treo trang trọng, ngay ngắn nhất trong nhà thầy. Biết bao nhiêu danh hiệu: Chiến sĩ thi đua; Giáo viên giỏi cấp quận, cấp thành phố; Giáo viên giỏi  văn cấp Quốc gia; Còn có cả bằng khen do Thủ tướng Chính phủ tặng nữa. Tất cả làm tôi thấy hơi bất ngờ. Ở trường tôi, có những thầy cô mới đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp thành phố thôi mà đã có biết bao phụ huynh đem con đến gửi học thêm ngoài giờ. Với những thành tích lớn lao như thế này, nếu thầy nhận dạy thêm thì chắc không đến nỗi nghèo và vất vả như thế. Tiếng bố tôi hỏi chị Diệp cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:

- Bố cháu không dạy thêm ở nhà à? - Chắc bố cũng đang nghĩ giống như tôi.

- Bố cháu không nhận dạy thêm chú ạ. Mỗi năm, bố cháu chỉ kèm mấy em có năng khiếu văn thôi.

Vui miệng, chị Diệp kể tiếp:

- Năm nay, bố cháu kèm năm em. Hôm trước Tết, năm bác phụ huynh ấy mang quà Tết đến biếu, bố cháu phát hiện ra trong túi quà có phong bì tiền, thế là bố cháu tự ái, trả lại tiền và nói rằng không dạy năm em ấy nữa.

- Bố cháu không dạy nữa thật à?

- Không đâu chú ạ, bố cháu chỉ dọa thế thôi. Các bác ấy cầm tiền về rồi, vài hôm nữa bố cháu lại dạy tiếp ấy mà. Bố cháu quý học sinh lắm, nhất là những em giỏi văn. Bố cháu bảo rằng: vì chuyện của người lớn mà làm ảnh hưởng đến học sinh thì không nên chút nào.

Tôi thấy bố tôi nén tiếng thở dài. Chờ thêm một lúc lâu, bố bảo tôi gửi lại món quà rồi ra về nhưng tôi không chịu. Tôi muốn tận tay mình tặng thầy cuốn sách quý.

Ra khỏi ngõ nhà thầy được một quãng, tôi thoáng thấy thầy đang đạp xe phía đường bên kia. Tôi vội níu áo, gọi bố tôi dừng lại:

- Bố, thầy kia rồi.

Bố tôi tấp xe vào lề đường, hỏi:

- Thầy đâu?

 - Kia kìa, bố.

Bố nhìn theo tay chỉ của tôi. Phía bên kia đường, xen giữa dòng xe nhộn nhịp, xen giữa những áo quần sặc sỡ, giữa những nụ cười hoan hỉ thảnh thơi, người đàn ông dáng xương xương với cái quần bạc phếch đang gò lưng nhấn đôi bàn chân lên pê-đan xe đạp, sau phóoc-ba-ga là hai thùng nước lợn to tướng. Đấy đích thị là thầy giáo của tôi.

Bố tôi nghi hoặc:

- Con có nhìn nhầm không?

- Nhầm làm sao được - tôi quả quyết - bố nhìn xem, cái đôi tông kia, chỉ có thầy giáo con mới có.

Không hiểu sao, thay vì vui mừng quay lại để gọi thầy như tôi tưởng, bố tôi lại ngần ngại kéo tay tôi:

- Thôi... mình về, để lúc khác gặp thầy sau.

Tôi nhìn bố, không hiểu. Trong khoảnh khắc, tôi quyết định rất nhanh. Tôi giật phăng tay mình ra khỏi bàn tay đang lúng túng của bố, chạy băng qua bên kia đường. Vừa chạy, tôi vừa huơ quyển sách lên cao và gọi thật to:

- Thầy ơi... Thầy...

Viết lại tại Móng Cái, tháng 11-2009

ĐẶNG THỊ THÚY

Thăm hỏi

2009-11-15 @ 11:11 in Truyện ngắn

Thăm hỏi

Nhân "Ngày nhà giáo", theo lệ thường, chính quyền thị trấn tổ chức đoàn đại biểu đi thăm hỏi động viên thày trò các trường học. Trường tiểu học thị trấn bỗng tưng bừng náo nhiệt hẳn lên.

Chủ tịch thị trấn mặt mày hớn hở, dẫn đầu đoàn đại biểu đi thăm hỏi động viên từng trường một, nhiệt tình bắt tay chúc mừng.

Xe con chạy vào Trường tiểu học Trung tâm của thị trấn. Chủ tịch thị trấn bước xuống xe, phấn khởi hào hứng tiến lên, bắt tay thày giáo Hoàng, nhiệt tình và thân thiết nói: "Chào thày Trần, Ngày Nhà giáo tổ chức vui vẻ quá nhỉ ?"

Anh Lâm, trợ lý văn hoá giáo dục thị trấn, đứng bên cạnh vội vàng lí nhí cải chính: "Đây là thày Hoàng, không phải họ Trần. Thày Hoàng là giáo viên tiên tiến của huyện ta đấy!"

"Ôi, thì ra là thày Hoàng, không phải là thày Trần, đúng là râu ông nọ cắm cằm bà kia, xin lỗi nhé!" - Chủ tịch thị trấn lại lắc lắc tay thày giáo Hoàng một lần nữa rất mạnh và lâu, nói tiếp: "Nghề nhà giáo rất vinh quang, những giáo viên tiên tiên lão thành như thày đây, nhân dân toàn thị trấn không bao giờ quên thày đấy!"

Nghe nói vậy, thày giáo Hoàng thấy lòng dạ ấm cúng và ngọt ngào làm sao, nước mắt tự dưng cứ trào ra, lã chã tuôn rơi.

*

Ngày nhà giáo năm sau, chính quyền thị trấn lại theo lệ, tổ chức đoàn đại biểu đi thăm hỏi động viên thày trò trong thị trấn. Chủ tịch thị trấn lại dẫn đầu đoàn đại biểu đi thăm hỏi động viên từng trường một.

Lại đến Trường tiểu học Trung tâm của thị trấn. Chủ tịch thị trấn lại rất hào hứng phấn khởi bắt tay thày giáo Hoàng, nói: "Chào thày Long, Ngày Nhà giáo tổ chức vui vẻ quá !"

Anh Lâm, trợ lý văn hoá giáo dục của thị trấn đứng bên cạnh, vội vàng lí nhí cải chính: "Đây là thày Hoàng, Hoàng trong con cháu Viêm Hoàng ấy, không phải là Long."

"Ôi, đúng là thày Hoàng!" Chủ tịch thị trấn lại lắc lắc tay thày giáo Hoàng rất mạnh, nói tiếp: "Ngày Nhà giáo năm nay, thày giáo Hoàng có vui vẻ không?"

"Dạ, vui vẻ ạ!..." Lúc này, thày giáo Hoàng cảm thấy hai tay hơi lành lạnh, chua chát và đau xót.

*

Năm nọ tiếp năm kia, dịp kỷ niệm Ngày nhà giáo lại đến.

Chính quyền thị trấn vẫn theo lệ thường, đi thăm hỏi động viên thày trò các nhà trường. Chủ tịch thị trấn lại dẫn đầu Đoàn đại biểu đi thăm hỏi động viên các trường.

Chủ tịch thị trấn vừa chui ra khỏi xe hơi, thày giáo Hoàng đã nhìn thấy, tự đáy lòng mạnh bạo hẳn lên, vội bước nhanh lên phía trước, bắt tay chủ tịch thị trấn, nét mặt giả vờ tươi cười, nói: "Chào Chủ tịch thị trấn Trương! Chúc đồng chí khoẻ! Tôi họ Hoàng, Hoàng trong con cháu Viêm Hoàng ấy!..."

"Ôi ! ..."Mặt chủ tịch thị trấn bỗng sa sầm xuống, song lại mau chóng nhăn nhở cười, đáp: "Khoẻ!  Mọi người đều khoẻ!"

*

 Trên đường trở về, chủ tịch thị trấn đột nhiên nghĩ đến điều gì đó, quay đầu lại hỏi anh Lâm, Trợ lý văn hoá giáo dục của thị trấn: "Cậu Lâm này, cái ông thày giáo Hoàng hôm nay có cái gì đó không bình thường lắm phải không?"

"Điều này..." - Cậu Lâm cười cười: "Có lẽ vậy!"

LÂM VINH CHI (Trung Quốc)

VŨ PHONG TẠO dịch

Núi cùng em đi học

2009-11-12 @ 10:41 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Núi cùng em đi học

Sáng nào em đi học

Đã thấy núi vươn vai

Chim líu lo tập đọc

Rừng râm ran nhẩm bài

 

Từ phía xa ngắm núi

Lộng lẫy tà áo xanh

Lại gần trông đến tội

Toàn những đá chênh vênh

 

Dòng suối lượn quanh quanh

Rì rào bao chuyện kể

Núi trầm ngâm học hành

Bạc đầu mà vẫn trẻ

 

Bước chân như con chữ

Viết nên những đường mòn

Bụng đựng ngàn năm tuổi

Núi mãi là núi non

 

Em ngồi nghe cô giảng

Ngoài kia núi cũng ngồi

Chỉ đám mây lơ đãng

Cứ nhởn nhơ giữa trời.

Nhà sáng tác Đại Lải, 13-10-2009

HOÀI KHÁNH

Mùa đá

2009-11-10 @ 00:32 in Thơ

HOÀI KHÁNH: Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam vừa tiếp nhận danh sách 131 tác giả được các Hội đồng và các Ban chuyên môn lựa chọn và giới thiệu để xét kết nạp hội viên năm 2009. Trong danh sách này, đáng chú ý có Phạm Vân Anh, sinh năm 1980, là người có độ tuổi trẻ nhất. Chị hiện là hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng, đang công tác tại đơn vị Điện ảnh của Bộ tư lệnh Biên phòng. Tập thơ Góc (NXB Hội Nhà Văn - 2009) là tập thơ thứ ba của Phạm Vân Anh vừa ra mắt bạn đọc, đã thu hút được sự chú ý của người yêu thơ trong cả nước. Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một số bài thơ trong tập thơ này và hi vọng nhận được sự chia sẻ cảm nhận của bạn đọc.

Mùa đá

Mùa thương tìm về cao nguyên theo rặng cây sa mộc

Mênh mang gọi nhau ngang cổng Trời

Men dốc cao lận vào đá xám

 

Mừng cây ngô chắc hạt, dày bắp

Mỗi bắp ngô cho lũ trẻ một ngày đi học

Mang trên lưng cả quẩy tấu chữ Bác Hồ

 

Mùa thương giục trai gái ưng cái bụng nhau

Muốn nối gót lên nương, bám áo xuống chợ

Mong tiếng đàn môi có bạn đêm sương

 

Mùa thương nhuộm hồng dảnh đào, phủ xanh vạt mạch

Men lá rung vấy hoa tung tênh đỏ đá bên đường

Mà, khéo đá cũng run nín thở!

Tiếng Mường

Già bản nói tiếng Kinh như nhặt thóc

Khua Luống vang thình thích thịch thàng

Mời bước thần rừng, thần núi, thân sông về ăn cơm mới,

về với bản nghèo

Cho cái bắp dày hạt, cái bụng nghe no, cái lưng nghe ấm

Cho dân bản vững như cây cộng sản,

đội đá sỏi mà xanh cây ấm bụi.

 

Cắc kum cuông...

Thân gỗ già đanh giọng

Cối thóc rung mòn gót ệt làng

Khung dệt reo

Tơ rộn lòng thoi rối

Tiếng chim gù báo mùa dông.

 

Kính các Ngài xuống bản Mơi ngai, Mơi láu

Gái bản này đi " ủa lúm - ủa lang"

Chọn cần rượu gạo thơm ngon

Chọn cần nếp cái thơm ngọt

Xin nước Mường Trời cho dân làm mạ

Xin nước Mường Trời giúp dân làm mùa

Rồi tôi có lời chào tiễn đưa Ngài đến cửa, tiễn đưa về tới nhà.

 

Lòng Mường thật như mái rạ

Lòng Mường rộng như rừng già

Mượn câu Khắp dội vào núi xa, dẫn hồn người đi tìm tiên tổ

Lời Mường vụng mà mặn hơn tro bếp, sâu hơn lũng ngàn

 

Có nghe tiếng Mường thì xúm lại

Cắc kum cuông, thình thích thịch thàng...

Gửi gió!

Triều lạnh

Muối trắng lòng chiều

            xót nghe muối mặn

Biển xé toang dòng

lưới thở khơi xa

 

Thuyền phơi mộng gỗ

            đằm tanh vẩy bạc

Thuyền gối cát ghềnh,

ghềnh cao thuyền lỡ

 

Lưới thưa nhạt nắng

 soi óng lên vàng

Nắng lọt cước mềm

 khoé răm trút nắng

 

Xoà tung chân sóng

 xôn xao mây vỡ

Lặn vào bọt biển

            triều lạnh im lời.

PHẠM VÂN ANH

Cục trưởng trở thành nhà văn

2009-11-08 @ 01:20 in Truyện ngắn

Cục trưởng trở thành nhà văn

Hai ngày nghỉ cuối tuần, Tiểu Vương đi xe hơi, đến khu phong cảnh danh thắng vực Thiên Thủy, tham quan phong cảnh và thu thập tài liệu viết lách.

Tiểu Vương say mê chụp ảnh và sáng tác. Mùa xuân đến, Tiểu Vương thường hay đến vực Thiên Thủy ngắm phong cảnh, thu thập tư liệu. Sau khi ngắm cảnh và lấy tài liệu ở khu vực Thiên Thủy về, Tiểu Vương viết một bài tản văn du kí mang tên "Mùa xuân thăm vực Thiên Thủy", kèm theo tấm ảnh phong cảnh mê hồn, đăng trên một tờ tạp chí Tản văn rất có tiếng vang. Lần này, Tiểu Vương trở lại vực Thiên Thủy, là muốn viết bài "Mùa hè thăm vực Thiên Thủy".

Tám giờ rưỡi sáng, Tiểu Vương đi vào khu phong cảnh, vừa đi vừa viết vừa chụp ảnh. Sau khi bước ra khỏi khu phong cảnh, men theo bờ suối đi ngược lên, đi xa khoảng hai cây số, mới ngồi lại ăn cơm trưa. Cơm trưa rất đơn giản, một chiếc bánh mỳ, hai quả trứng luộc, một gói dưa góp, một chai nước khoáng. Tiểu Vương ăn xong rất nhanh. Ăn cơm xong, Tiểu Vương châm một điếu thuốc lá, vừa phì phèo khói thuốc, vừa lững thững tìm kiếm cảnh vật mê hồn. Đây là một nơi vô cùng hẻo lánh tĩnh mịch. Hai bên bờ suối là núi cao, những hòn đá dưới suối nhô lên, nước suối chảy siết mài mòn, nên rất nhẵn nhụi. Nơi có mấy tảng đá ngăn lại, trở thành một cái đầm nước. Đầm không lớn, nước rất trong, nhúng tay xuống nước, niềm khoái cảm bèn lan tỏa toàn thân. Tiểu Vương bỗng có ý tưởng lạ: Thử tắm tiên một lần xem sao? Ôn lại niềm vui trời con trẻ một chút!

Tiểu Vương đứng lên, nhìn ra chung quanh không có bóng người, bền cởi quần áo, nhảy ào xuống nước. "Ôi ! Sảng khoái làm sao!" Tiểu Vương không nén nổi cảm xúc reo lên. Tiểu Vương gối đầu lên đá, nằm dài trong nước, nhắm nghiền mắt lại, mặc cho nước suối mơn man tấm thân cường tráng, mềm mại trắng ngần của mình. Nằm bên bờ suối gần một tiếng đồng hồ, Tiểu Vương mới xuống núi, lên xe trở về nhà.

Ngày hôm sau, vừa đến cơ quan, Tiểu Vương bèn được Cục trưởng gọi ngay vào phòng làm việc.

Xem ra, cục trưởng cũng có thể coi là văn nhân. Khi rỗi rãi, Cục trưởng cũng thích viết những bài tản văn nho nhỏ, thể loại tùy bút, được đăng trên báo huyện, báo tỉnh. Cục trưởng rất thích người ta gọi ông là nhà văn. Sau khi Cục trưởng rất thích người ta gọi ông là nhà văn, ông bèn muốn tác phẩm được đăng trên các báo, tạp chí cao hơn. Nhưng bài vở gửi đi rất nhiều, đều như ném đá ao bèo, bặt vô âm tín. Cục trưởng rất đau đầu.

Cục trưởng rất đau đầu bèn dẫn Tiểu Vương đi ăn nhậu. Cơm no rượu say, sau khi người ta ra về sạch trơn, Cục trưởng bèn nói với Tiểu Vương: "Mình có mấy cấu tứ rất hay, chỉ có điều công tác bận quá, không có thời gian để viết. Mình kể cho cậu nghe, cậu làm chủ bút có được không?"

 Tiểu Vưởng lắc lắc đầu, nói: "E rằng không được, hoạt động sáng tác không giống như viết tài liệu, hoạt động sáng tác là phải dựa vào linh cảm, không có linh cảm em không viết được đâu."

Cục trưởng sa sầm nét mặt, rồi lập tức gượng nở nụ cười.

Cục trưởng nói: "Văn phòng cục thiếu một chân Phó chủ nhiệm viết lách tốt, nếu cậu cố gắng lên một chút, thì rất có hy vọng đấy!"

Con mắt của Tiểu Vương lóe sáng. Tiểu Vương nói: "Thế thì em làm thử xem sao nhé!"

Căn cứ vào cấu tứ của Cục trưởng, Tiểu Vương viết được hai bài, trao cho Cục trưởng sửa chữa đôi chút, rồi kí tên Cục trưởng, gửi bài đi, nhưng không có bàì nào được đăng.

Cục trưởng rất khó chịu. Cục trưởng nói: "Thế này là thế nào nhỉ? Vì sao kí tên của cậu thì lại được đăng?"

Tiểu Vương nói: "Chuyện này không có liên quan đến kí tên, then chốt là em không có chút linh cảm nào đối với những điều mà sếp muốn viết."

Cục trưởng sa sầm nét mặt, nói: "Thế thì nói sau vậy!"

Do không viết được những cái mà Cục trưởng muốn viết, cuộc sống của Tiểu Vương không còn dễ thở như trước. Có một tòa soạn tạp chí mời Tiểu Vương dự họp Hội nghị cộng tác viên ruột, nhưng Cục trưởng không phê chuẩn cho đi dự. Cục trưởng nói: "Thời gian này, trong cục có rất nhiều công tác cần làm, đợi khi nào đỡ bận rộn sẽ nói sau nhé!" Tiểu Vương buồn thỉu buồn thiu, song cũng đành cắn răng chịu.

Bây giờ, Cục trưởng lại gọi Tiểu Vương vào phòng làm việc.

Tiểu Vương không hiểu có việc gì đây, hơi thấp thỏm bất an, ngồi xuống chiếc ghế đối diện với bàn làm việc của Cục trưởng.

Cục trưởng rút ra hai điếu thuốc lá, đưa một điếu cho Tiểu Vương. Tiểu Vương châm lửa, vừa nhả khói thuốc, vừa nói: "Cục trưởng gọi em có việc gì ạ?"

Cục trưởng hì hì cười, nói: "Nghe nói gần đây những tác phẩm hay của cậu xuất hiện liên tục trên các báo. Bài "Mùa xuân thăm vực Thiên Thủy", mình đã đọc, cậu viết rất hay. Có người nói với mình, ngày hôm qua, cậu lại đi thăm vực Thiên Thủy, phải không?"

Tiểu Vương nói: "Đúng ạ!"

Cục trưởng nói: "Lại chuẩn bị viết tác phẩm gì lớn phải không?"

Tiểu Vương nói: "Em định viết bài "Mùa hè thăm vực Thiên Thủy".

Cục trưởng cười, nói: "Tốt quá! Nhất định là hay tuyệt, mình nóng lòng đón đọc đấy!"

Tiểu Vương nói: " Chỉ vì việc này thôi ư, Cục trưởng?"

Trầm ngâm một lát, Cục trưởng nói: "Mình cũng muốn viết một bài du kí, cậu có thể chịu khó chịu khổ, giúp mình được không?"

Tiểu Vương do dự, nói: " Cái này..."

Mặt Cục trưởng lại sa sầm xuống. Cục trưởng rút trong ngăn kéo ra một bì thư, để lên mặt bàn, đẩy ra trước mặt Tiểu Vương. Vừa giở ra xem, Tiểu Vương bèn giật nẩy mình: Trong đó có cả một tập ảnh tắm tiên của mình ở vực Thiên Thủy !!!???

Cục trưởng nghiêm nghị nói: "Giữa ban ngày ban mặt, lại tắm truồng ở khu danh lam thắng cảnh. Đây là việc mà người đầu óc bình thường làm được sao?"

Tiểu Vương đờ đẫn người ra, nói: "Cục chuẩn bị xử lí như thế nào ạ?"

Cục trưởng hắng giọng, nói: "Tôi có thể giữ một người đầu óc bệnh hoạn như vậy ở lại trong cục ư?"

Tiểu Vương ấp a ấp úng, nói: "Thưa Cục trưởng, Chỉ cần......có thể giữ được bát cơm ăn, Cục trưởng ... bảo em làm việc gì...thì em sẵn sàng tận lực làm việc đó!"

Cục trưởng cười, nói: "Cậu đừng quá căng thẳng như thế, giữ cho cậu bát cơm, đó là việc chỉ một lời nói của mình là giải quyết được. Mình thấy cậu là một nhân tài, mình vẫn còn cần dùng cậu đấy!"

Tiểu Vương nói: "Cục trưởng có việc gì xin cứ sai bảo!"

Cục trưởng nói: "Cậu đã đi đến Lư Sơn chưa?"

Tiểu Vương nói: "Đi rồi ạ!"

Cục trưởng nói: "Thế Hoàng Sơn?"

Tiểu Vương nói: "Dạ, cũng đi rồi ạ!"

Cục trưởng nói: "Thế còn nơi nào cậu chưa đến?"

Tiểu Vương nói: "Tân Cương, Tây Tạng, Cửu Trại Câu..."

Cục trưởng nói: "Thế thì đầu tiên hãy đi Cửu Trại Câu nhé!"

Tiểu Vương nói: " Cục cho tôi đi du lịch?"

Cục trưởng nói: "Có nhiệm vụ đấy. Sau khi trở về, giúp mình viết một chùm bài tản văn về phong cảnh sông núi Cửu Trại Câu, để đăng trên chuyên san Tản văn."

Tiểu Vương nói: " Dạ!Không có vấn đề gì đâu!"

Hai tháng sau, tác phẩm tản văn của Cục trưởng viết về Cửu Trại Câu cuối cùng đã được đăng trên chuyên san Tản văn.

Sau đấy, tản văn du kí của Cục trưởng bèn đua nhau nở hoa trên báo chí các địa phương trong toàn quốc. Một năm sau, Cục trưởng trở thành nhà văn thật!

Tiểu Vương tuy hơn một năm qua không có một tác phẩm nào đăng báo, nhưng Tiểu Vương chẳng những được đi thăm thú vạn thủy thiên sơn của Tổ quốc, mà còn ngồi lên chiếc ghế Chánh văn phòng cục, khiến cho toàn cục kẻ trên, người dưới đều trố mắt há miệng...

DƯ TRƯỜNG THANH (Trung Quốc)

VŨ PHONG TẠO dịch

Chiêm bao

2009-11-07 @ 05:55 in Thơ

HOÀI KHÁNH: Nhà thơ Tô Ngọc Thạch trước khi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thì đã có 13 năm học tập, công tác và bảo vệ luận án tiến sĩ kĩ thuật tại Cộng hòa Liên bang Nga. Trong thời gian này, anh từng đoạt Giải B Cuộc thi sáng tác văn học do Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô và Hội Nhà văn tổ chức năm 1987. Đến nay, anh đã có 4 tập thơ in riêng và thêm nhiều giải thưởng văn học khác, như: Giải khuyến khích Cuộc thi thơ "Bác Hồ của chúng ta" do báo Văn Nghệ tổ chức năm 2003-2004, Giải ba Cuộc thi thơ "Ngàn năm thương nhớ" do báo Người Hà Nội và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức năm 2005 - 2006, Giải khuyến khích Giải thuởng Văn học nghệ thuật thành phố Hải Phòng lần thứ 3 (2006 - 2007). Hình ảnh nước Nga vĩ đại và con người của quê hương Cách mạng Tháng Mười luôn in đậm trong một mảng thơ đặc sắc của anh. Nhân dịp kỉ niệm lần thứ 92 Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2009), Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một số trang thơ như thế của nhà thơ Tô Ngọc Thạch.

Chiêm bao

Đêm độc thân mộng du trong khoảnh khắc thiêng liêng

Chiêm bao trôi về miền Xibia băng giá

Tuyết phập phồng trú trong nỗi nhớ

Từ sâu xa kí ức bá vai giấc ngủ quay về

Tôi gặp tôi trong lòng Xibia

Gặp tuyết ấm trong tầng tầng tuyết trắng

Kỉ niệm năm nao ngác ngơ trong căn phòng yên ắng

Ngọn gió bơ phờ sau mỗi lần bỏ nhà đi hoang nằm ngủ co ro

Bao vui buồn chồng đống xác cơn mơ

Nụ c­ười rêu phong ngợp vùi trong tuyết

Tiếng kêu bị thương của lũ quạ hoang*

bện vào nhau chằng buộc lấy cánh rừng heo hút

Gặp hơi thở mình ven dòng Ôp** giá băng

Phía cuối mông lung ánh mắt nâu huyền sắc như­ thủy tinh

Cắt vụn cơn mê thành trăm ngàn mảnh vỡ

Tan vào đêm Xibia cũ kĩ

Chiêm bao

              chạm nắng

                                        vỡ òa...

Ánh sáng của tuyết

(Trích trường ca)

Lại một lần chuyển tiếp nhớ xôn xao

Về mảnh đất An Tai yêu dấu

Barnaul dang hai tay, đón chào ta bánh mì và muối

Lòng tâng tâng rung động một chiều tà

Những buồn vui giông gió bộn bề

Kia sông ốp trong veo tầng tầng ánh nắng

Tuổi xanh tôi đội hè Xibia thong dong trên con đường sáng láng

Giữa điệp trùng ngưu bàng và tử đinh hương

Giữa mênh mông bát ngát tình thương

Cầm thương mến theo con buồm no gió

Hồ Trê Lếch xanh tràn cõi nhớ

Con thuyền lao vút xa khơi

Chiều Xibia cởi áo như mời

Mắt ai liếc lung liêng trái đất

Tôi khỏa tay vốc nước lên mặt

Tựa gương soi bao bè bạn ùa về

Người á châu, người Đức, người Nga...

Dàn hợp xướng tấu muôn trùng âm điệu

Dòng thời gian vèo trong ảo diệu

Ngày tuyết rơi*** lòng lạnh giá như băng

Ai luồn kim xe chỉ thêu hoàng hôn

Thùa khuy áo bằng câu dân ca Nga réo rắt

Tuyết phăm phăm như mảnh thủy tinh cắm vào hồn đau nhức

Đốt nhớ thương thành trầm hương thơm cả nỗi buồn...

*

Tôi nhai đời mình như chiếc kẹo cao su

Vuốt ve vùng nhạy cảm tháng năm làm năm tháng đê mê

Khoác vào cổ thời gian chuỗi cườm tuyết

Cơn xoáy lốc

Đêm non tơ vẹt mòn

Gặm nham nhở tầng ô zôn

Bình minh mở mắt

Dường như ngày đông Xibia đang ngót

Tuyết trải dài tít tắp trời xa

Bông tuyết ôm nhau đắm đuối la đà

Tuyết khật khưỡng hòa hai thành một

Tuyết giao hoan trong bùa mê se sắt

Tuyết sinh sôi vào tháng giá ngày đông

Tuyết cồn cào sinh lực thập thồng

Tuyết cuồn cuộn ngập ngừng trong sắc nắng

Tuyết chôn vùi bao khổ đau bãng lãng

Tuyết là tình yêu

Tuyết năng lượng phồn sinh

Tuyết sự sống

Tuyết sáng lòa trong mộng

Tuyết mối tình trắng trong

Tuyết cùng người kết bạn thuở hồng hoang

Trái đất trải muôn phong ba bão táp

Tuyết ngọt ngào cũng luôn mặn chát

Tuổi xanh tôi rải trên đồng tuyết bao năm

Cánh đồng huyền thoại, thần tiên

Cánh đồng huyễn hoặc

Cánh đồng con đường hoa

Cánh đồng Xibia đẫy đà sung mãn

Từ giá băng ý chí con người trở lên bất tận

Những công trình khoa học bật từ đây

Ánh sáng Xibia mê say

Bài học đầu đời tuổi xanh thời trinh trắng    

ánh sáng tuyết rọi soi thầm lặng

Bao diệu kỳ huyền thoại một vùng thiêng...

TÔ NGỌC THẠCH

__________

* Xibia nổi tiếng về quạ

** Sông thuộc Cộng hòa Liên bang Nga

*** 20-9-1983 ngàytác giả  đang điều trị tại Bệnh viện  An-tai

Bí mật

2009-11-04 @ 08:34 in Tác phẩm của Hoài Khánh

Bí mật

Nấp trong quả bưởi

Một đàn tép con

 

Ngồi trên trăng tròn

Chị Hằng, chú Cuội

 

Nở đầy vở mới

Những hoa điểm mười

 

Giấu sau nụ cười

Là cái răng sún.

Nhà sáng tác Đại Lải, 12-10-2009

HOÀI KHÁNH



Sáng tác văn học thiếu nhi: Nhọc nhằn tìm hướng đi!

2009-11-02 @ 09:29 in Bàn về văn chương

Sáng tác văn học thiếu nhi: Nhọc nhằn tìm hướng đi!

Nhà văn Tô Hoài từng nói, sở dĩ văn học thiếu nhi ở ta tồn tại như hôm nay là do chúng ta đang thiếu một phong trào viết cho thiếu nhi. Muốn tạo ra được phong trào này phải có nhiều cuộc thi, phải chăm lo bồi dưỡng và quan tâm đội ngũ viết cho thiếu nhi, có những hỗ trợ thích đáng, kịp thời để tác phẩm có chất lượng đến được với bạn đọc...

"Nhà văn có sáng tác văn học cho thiếu nhi không?"

Có rất nhiều câu trả lời khác nhau xung quanh câu hỏi này. Người thì cho rằng: Tôi có sáng tác nhưng không thường xuyên và chỉ khi nào thấy thật sự có hứng thì ngồi vào bàn viết. Có người lại nói: Tôi sáng tác nhưng không nhiều, một năm chỉ khoảng 5, 6 bài thơ, thời gian còn lại tôi viết báo, sáng tác những tác phẩm của người lớn.

Thậm chí, một nhà văn trẻ tuyên bố: "Tôi chả dại gì viết cho thiếu nhi. Nhuận bút văn chương nước mình quá thấp, mấy ai mong mình làm giàu bằng văn học được. Vấn đề còn lại là danh tiếng...". Một nhà văn khác tâm sự: Sở dĩ tôi còn viết cho thiếu nhi vì tôi cảm nhận được sự quý mến thành thật và tự nhiên của các em, nhất là khi tác phẩm của tôi được chọn in trong sách giáo khoa, đây là điều rất khác so với những tác phẩm của người lớn, cho dù đạt giải thưởng nhưng tôi luôn hoài nghi về độ chân thật của độc giả.

Nhà văn Trần Kỳ Trung (Đà Nẵng) chia sẻ: "Tôi viết cho thiếu nhi là vì lứa tuổi các em rất trong sáng, chưa bị chi phối nhiều thứ, lại yêu ghét rõ ràng. Các em luôn có khám phá bằng những câu hỏi và mong muốn khám phá tận cùng để tìm hiểu cuộc sống xung quanh. Tất cả điều đó thể hiện một khao khát hoàn thiện nhân cách."

Còn nhà văn Trần Hoài Dương, một nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi có lần tâm sự: "Mình muốn viết cho thiếu nhi là viết cái đẹp của tâm hồn trẻ thơ. Một tâm hồn trẻ thơ mãi mãi tồn tại trong một người lớn tuổi, từng trải như mình."

Nhà thơ Hoài Khánh (Hải Phòng) bày tỏ: "Với tôi, thiếu nhi là những con người vĩ đại, bình đẳng với con người trong xã hội. Những người viết cho thiếu nhi không bao giờ làm điều ác, lúc nào cũng vui vẻ, tử tế và hiền hậu."

Nhà thơ Hữu Thỉnh nói: "Văn học thiếu nhi rất quan trọng và không thể thiếu. Mỗi tác phẩm có giá trị được ví như một người thầy không những bồi dưỡng tâm hồn mà còn định hướng cho các em".

Vì sao các nhà văn không mặn mà với văn học thiếu nhi?

Có người cho rằng, trong các tập thơ viết cho thiếu nhi xuất bản gần đây, không thấy một chữ @ nào cho thế hệ thiếu nhi hiện đại, các em cứ quẩn quanh với những hình ảnh xưa cũ, nhàm chán... khiến các em dần quay lưng lại với các sáng tác viết cho lứa tuổi của mình. Thêm vào đó, cuộc sống hiện nay diễn ra nhanh và gấp gáp nên sáng tác cho các em cũng cần nhanh, gọn, ngắn. Ngôn ngữ, văn phong cũng phải "hiện đại" như chính cuộc sống của các em. Nhưng khi chúng ta hướng đến mục tiêu là giáo dục đạo đức và nhân cách cho các em, hướng các em về cội nguồn của dân tộc, về Chân - Thiện - Mỹ... thì việc hướng các em về những điều nhân văn, nhân bản, sẽ là thiên chức của những nhà văn, nhà thơ, của những người làm công tác giáo dục...

Giống như một món đồ chơi đắt tiền, nhưng dùng một lần rồi bỏ, những tác phẩm viết cho thiếu nhi nếu chỉ dựa vào tiêu chí bán đắt, bán chạy và bán... thật nhiều thì độc giả cũng chỉ đọc qua một lần rồi quên mất. Hiện nay, số lượng tác phẩm văn học thiếu nhi không nhiều. Ngoài báo Khăn quàng đỏ, Thiếu niên Tiền phong, Nhi đồng, Hoạ mi ra thì các báo khác, "đất" dành cho văn học thiếu nhi gần như không có. Một tờ báo thuần túy văn học, dành riêng cho thiếu nhi vẫn còn là mơ ước xa vời của các em ham mê văn học (cả đọc lẫn sáng tác) và của cả các nhà văn, nhà thơ tâm huyết với văn học thiếu nhi.

Thực tế, chỉ có ngày Quốc tế thiếu nhi và Rằm trung thu hàng năm là các phương tiện truyền thông mới ưu tiên đăng tải nhiều tác phẩm viết về mảng văn học này. Nhà văn Lê Phương Liên ngậm ngùi: "Hình như vào mỗi dịp 1- 6 và Rằm trung thu thì báo chí mới đến hỏi tôi về sách văn học thiếu nhi. Giá như tháng nào cũng có bài phê bình, điểm sách trên báo để các em tìm đọc. Giá như các vị phụ huynh ai cũng không chỉ mua sách cho con mỗi năm vài dịp như thế...".

Hơn nữa, văn học cho thiếu nhi là một đề tài khó viết, khó hay, khó kiếm được độc giả. Nhà văn hoặc nhà thơ phải huy động tối đa trí tưởng tượng, phải sống lại bằng những hồi ức của tuổi thơ của mình, phải am hiểu đời sống, tính cách, những tâm tư, tình cảm, phải có sự quan sát tinh tế về những biến đổi của các em nhỏ, có sự trải nghiệm sâu sắc, sự dí dỏm... thì mới sản sinh ra được một tác phẩm có ý nghĩa. Điều này đòi hỏi nhà văn, nhà thơ dù còn trẻ hay đã lớn tuổi phải gần như thoát khỏi con người thực tại của mình để đắm mình vào thế giới trẻ thơ, sáng tạo ra những trang viết hóm hỉnh, trong sáng và hồn nhiên.

Có rất nhiều yếu tố để sáng tạo ra một tác phẩm có chất lượng, trong đó có sở trường, sở đoản và khả năng của mỗi người cầm bút. Vì thế, mỗi nhà văn, nhà thơ nên tìm lấy những mảnh đất của riêng mình để ươm và gieo hạt. Không có đề tài hay hoặc dở, hấp dẫn hay không hấp dẫn... mà chỉ có tác phẩm hay và không hay mà thôi!

Cuộc sống là một dòng chảy không ngừng, luôn vận động và phát triển từng giây, từng phút dù con người có muốn hay không. Những người đã từng viết cho thiếu nhi, nếu đang chuyển bút sang đề tài hoặc lĩnh vực khác cũng là một điều dễ hiểu. Và tình yêu văn học thiếu nhi vẫn âm thầm chảy cùng với sự vận động đó, và vẫn là nỗi khát khao sáng tạo của những nhà văn dành nhiều tâm huyết cho trẻ em.

Sáng tác văn học thiếu nhi: Cần một cái nhìn đa chiều!

Ngày nay, một bộ phận thiếu nhi ở thành phố, sống và học tập như rô-bôt được lập trình sẵn. Đồ chơi giải trí của các em đều là những máy móc hiện đại, đắt tiền. Cuộc sống các em gắn với "cuộc sống số", cái cảm, cái nghĩ của các em xa lạ với những bạn bè khác cùng trang lứa. Rất nhiều em, bây giờ hoàn toàn không biết gì về các trò chơi dân gian của trẻ con. Không phân biệt được cây này với cây khác, con này với con kia... Khái niệm cực khổ, thiếu đói, các em hoàn toàn không có, trong khi một bộ phận khá lớn các em thiếu nhi ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa... lại khao khát, thèm muốn một phần rất nhỏ của đời sống thị thành. Các tập truyện như "Doremon", "Harry Potter"... cho dù có là sách "best seller", bán ra hàng trăm triệu bản, thì phần nhiều mang tính giải trí và cũng chủ yếu dành cho các em thiếu nhi ở thành phố.

Thời gian gần đây, nhiều người cho rằng, sự sa sút, thưa vắng của văn học viết cho thiếu nhi là do có quá nhiều loại hình giải trí, thông tin cùng xuất hiện, nhất là sự phát triển của Internet. Nhưng đây là điều cần thiết đối với một xã hội ngày càng phát triển và là dấu hiệu đáng mừng nhằm đáp ứng mọi lựa chọn, phù hợp với sở thích, thói quen và điều kiện của mỗi người. Không thế nói rằng: vì tác phẩm văn học viết đang ít người đọc nên các báo nghe, nhìn hãy giảm bớt đi, càng không thể bắt các em từ bỏ những thói quen. Bởi mỗi một hình thức, phương tiện truyền tải thông tin đều có những ưu điểm riêng, tất cả đều có quyền bình đẳng tồn tại và chịu sự cạnh tranh lành mạnh. Vì vậy, nên chăng, tự thân mỗi phương thức hãy tự cứu lấy mình?

Cũng không nên "dò xét" hay "níu kéo bằng được" những nhà văn một thời viết cho thiếu nhi hoặc chưa từng viết cho thiếu nhi "vào cuộc" để cải thiện thực trạng hôm nay, mà chỉ nên động viên, khuyến khích họ bằng những việc làm, hành động cụ thể, thiết thực. Hãy để họ tự ý thức, tự học hỏi và tự nguyện gia nhập vào đội ngũ viết cho thiếu nhi, vậy mới mong có được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật thực sự.

Nhìn lại văn học trong nước hiện nay thì nhận thấy, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh thực sự đã tạo ra một làn sóng. Những bộ sách tái bản của nhà văn vẫn được các em hào hứng đón đọc, những tập truyện mới đang được các em mong chờ và đọc say sưa từng chương một. Đọc văn của Nguyễn Nhật Ánh (Kính vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ) các em cảm thấy những nhân vật trong tác phẩm gần gũi, thân thuộc như chính bạn bè xung quanh mình. Qua giọng văn hóm hỉnh, nhẹ nhàng và dễ tiếp nhận, đọc xong cuốn sách, các em tìm thấy sự đồng cảm, chia sẻ "bởi tác giả đã viết đúng cho các em, phù hợp với lứa tuổi của các em" (Nhà văn Khôi Vũ - Đồng Nai nhận xét). Hơn nữa, "Ở thế hệ nhà văn trẻ có sự chân thật, có vốn sống, sự nhiệt tình. Nhưng để có những trang viết về thế giới trẻ thơ một cách thật tự nhiên trong sáng mà không bị "giả nai" là rất khó. Có thể nói, cho đến nay, chưa ai thực sự thành công như Nguyễn Nhật Ánh." (Nhà văn Lê Phương Liên đánh giá).

Sáng tác văn học thiếu nhi: Sự định hướng là quan trọng và cần thiết!

Có một thực tế hiện nay mà ai cũng nhận khi đọc tác phẩm của các em là đang tồn tại một trường phái thơ "con ếch", đẻ ra những "thi sĩ ếch". Tức là làm thơ mang nặng tính giải trí mua vui và lấy tiếng cười làm trọng tâm. Đây là một điều khá đau xót! Do thể thơ này dễ thuộc nên lại càng kích thích các em. Mặc dù cũng có những bài thơ hay, nhưng rõ ràng các em đang bị nhầm lẫn giữa làm thơ để vui cười và làm thơ là sáng tạo. Thơ không còn tính Chân - Thiện - Mĩ nữa. Đáng tiếc nhất là một bộ phận thiếu nhi này lại là ở những em có khả năng làm thơ, biết gieo vần (vần chân). Bản thân thể thơ này không có lỗi, nhưng người làm ra nó chưa có ý thức, chưa phân biệt được giữa giải trí và sáng tạo. Vì thế, việc định hướng cho sáng tác thiếu nhi là rất quan trọng và cần thiết, trách nhiệm thuộc về người lớn chúng ta.

Nhìn lại những tác phẩm của người lớn viết cho thiếu nhi, lại thấy có tình trạng áp đặt suy nghĩ quá nặng nề của người lớn. Khác với văn chương của Nguyễn Nhật Ánh, nhiều tác phẩm này mang tính dạy dỗ như những bài học đạo đức, công dân đầy khô khan và cứng nhắc. Đã đến lúc người cầm bút phải thay đổi cách viết, thay đổi tư duy nhìn nhận về thiếu nhi, để mỗi một tác phẩm phải là tiếng nói gần gũi của các em, phải là sự cộng hưởng những tâm tư tình cảm của các em... để phù hợp với cuộc sống hiện đại chứ không thể áp đặt cái hay của một thời vào mọi thời. Theo nhà văn Trần Kỳ Trung, văn học thiếu nhi hiện giờ vẫn phát triển, nhưng mang tính tự phát, thể hiện rõ nhất trên các blog. Dòng văn học này ngày càng xuất hiện nhiều trên mạng, nhưng thiếu sự định hướng của chính những nhà văn.

Còn nhà thơ Hoài Khánh cho rằng, thơ thiếu nhi hiện nay khá hơn thơ thiếu nhi của những năm trước - thế hệ những năm 60, 70, 80 của thế kỉ XX. Chất lượng hiện nay hay hơn bởi các yếu tố: Tư duy của người làm thơ hôm nay chuyên nghiệp hơn, vì có học vấn hơn nên cách viết khôn ngoan hơn. Đề tài cũng mở mang hơn, nếu trước đây ta chỉ có thơ gieo vần hay nội dung thường là các bài học luân lí. Cái này chưa hẳn là thơ. Thơ bên cạnh tiếng nói tình cảm còn là vẻ đẹp được khúc triết trong một tứ nhất định. Các bài học luân lí trước đây còn nặng về tính giáo dục, áp đặt thì nay đã ẩn đi, tính tư tưởng rõ nét hơn, vượt qua tính giáo dục.

Ví như con búp bê, một món đồ chơi có từ hàng vạn năm nay, dẫu qua nhiều cách tân, đổi mới, thì nó vẫn là một con búp bê đáng yêu, giúp trẻ nuôi dưỡng tình nhân ái, nhân văn và nhân bản, được triệu triệu các em thiếu nhi trên khắp hành tinh này ôm ấp, nâng niu và khát thèm. Sáng tác văn học cho thiếu nhi cũng thế! Những cái gì có thể đổi mới, cách tân được mà mang lại lợi ích cho nhân cách và tâm hồn của các em, thì nên làm. Văn học giả tưởng cũng không sao, vì nó nuôi dưỡng trí tưởng tượng phong phú của các em, mở ra một chân trời mới hấp dẫn, rất cần được chú ý.

Như vậy, dưới con mắt người cầm bút, văn học thiếu nhi vẫn có những chuyển động, nhưng thiếu sự định hướng nên tác phẩm hay ít được biết đến, hoặc chỉ là sản phẩm cá nhân chưa được công bố trên những cơ quan truyền thông chính thống. Cũng theo họ, lâu nay các phương tiện truyền thông, những người có trách nhiệm mới chỉ quan tâm đến lực lượng người lớn viết cho thiếu nhi, còn thiếu nhi viết cho chính lứa tuổi của mình chưa có những đánh giá xác đáng. Và báo chí giới thiệu tác phẩm viết cho người lớn là chính, còn việc giới thiệu tác phẩm viết cho thiếu nhi thì quá hiếm hoi, nếu không nói là không được chú ý. Tuy nhiên, vẫn có nhiều cây bút được phát hiện qua các cuộc thi nhỏ, lẻ, qua các phong trào của trường, chỉ tiếc là không có môi trường để phát triển thành ra những cây bút có khả năng ấy bị khuất lấp, ít có cơ hội phát triển.

Sáng tác văn học thiếu nhi: Cần một sự quan tâm thỏa đáng!

Nói về sự quan tâm đến mảng văn học thiếu nhi, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam đã đưa ra những giải pháp: "Chúng ta cần khơi dậy văn hoá đọc. Các nhà văn phải hiểu các em, phải lắng nghe các em nói gì. Vào dịp trung thu, Hội Nhà văn sẽ có buổi giao lưu gặp gỡ giữa các nhà văn và thiếu nhi. Hội nhà văn dự kiến sẽ tổ chức trại sáng tác dành cho các em để khơi dậy khả năng sáng tạo và viết cho chính mình. Tới đây, Hội sẽ liên kết với Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản những tác phẩm thiếu nhi, để bên cạnh hệ thống sách giáo khoa, còn có một tủ sách văn học phục vụ các em. Hội cũng sẽ nghiên cứu để có những cuộc thi nhằm tạo ra những giải thưởng để khuyến khích mảng văn học thiếu nhi".

Ngoài những nỗ lực tích cực của bản thân người cầm bút, muốn cho tác phẩm văn học thiếu nhi phát triển về số lượng và chất lượng cũng cần phải có sự quan tâm từ nhiều phía của các tổ chức, cơ quan và của toàn xã hội. Chúng ta cần có sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ trở thành cầu nối để tác phẩm đến với các em một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Các cơ quan truyền thông, xuất bản, in ấn cũng đóng góp một phần không nhỏ thúc đẩy sự phát triển của văn học thiếu nhi.

Trên thực tế, những năm gần đây, sự quan tâm dành cho văn học thiếu nhi mới chỉ là bề nổi và dừng lại ở những hội nghị, hội thảo. Hội thảo là cần thiết, nhưng qua đó phải có được tác phẩm sẽ thiết thực hơn. Hoạt động trại sáng tác dành cho văn học thiếu nhi còn quá thưa thớt, ngay như Hội Nhà văn Việt Nam sau 14 năm mới mở thêm được trại sáng tác. Mong rằng trong những năm tới, các trại sáng tác sẽ được tổ chức thường xuyên hơn.

Trong nhiều năm qua, phải ghi nhận những đóng góp tích cực của một số nhà xuất bản như NXB Kim Đồng, NXB Trẻ. Các NXB này, ngoài mang đến cho độc giả những ấn phẩm còn phối hợp với các Hội nhà văn tổ chức nhiều cuộc thi về văn học thiếu nhi. Thậm chí, NXB Kim Đồng đã in những tủ sách cầm chắc là phải bù lỗ nhưng thấy cần thiết cho thiếu nhi như: Tủ sách Nghệ thuật (Danh hoạ thế giới, nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật điện ảnh...), Tủ sách Văn học Nga, Tủ sách Thơ với tuổi thơ (gồm hơn hai trăm tác giả, tác phẩm của nhà thơ Việt Nam), Tủ sách Tuổi mới lớn, Tủ sách Kiến thức thế hệ mới...

Chúng ta chưa đến mức quá bi quan về lực lượng sáng tác cũng như đối tượng tiếp nhận mảng văn học cho thiếu niên, nhi đồng. Vấn đề là chúng ta phải tạo ra được một phong trào viết cho thiếu nhi hiệu quả, có tính thiết thực và lâu dài. Thiết nghĩ, một mình Hội thì không thể xoay chuyển tình thế. Chỉ khi nào các tác phẩm văn học cho trẻ em được chú ý, được đầu tư và quảng bá mạnh, thì mới có thể thay đổi suy nghĩ của người viết, thúc đẩy một số cây bút tiềm năng đầu tư hẳn vào mảng đề tài này. Nhà văn Tô Hoài quả quyết: "Nếu trao giải thưởng 1 tỉ đồng thì sách thiếu nhi sẽ hay ngay". Câu nói đó hàm ý rằng, cần có một sự đánh giá xứng đáng hơn đối với những người cầm bút viết cho thiếu nhi. Có như vậy thì mới mong có được những tác phẩm hay. Và cố nhiên, sẽ thu hút được sự quan tâm nhiều hơn của nhà văn trẻ. Câu trả lời vẫn nằm ở phía trước.

PHẠM NGỌC HUỆ

Nguồn: Website Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 4-9-2009