Mở hướng mùa xuân

By HOÀI KHÁNH

Mở hướng mùa xuân

Chẳng rõ trên trái đất có nơi nào như đất nước Việt Nam ta tổ chức Đảng Cộng sản ra đời đúng dịp mùa xuân của dân tộc. Mùa xuân 81 năm trước những đại biểu cộng sản Việt Nam bí mật họp tại Cửu Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) quyết định hợp nhất ba tổ chức thành một. Hội nghị nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn có tầm vóc lịch sử như là Đại hội thành lập. Khi bí mật xuống tàu thuỷ vượt biển sang Hương Cảng dự Hội nghị thành lập Đảng có lẽ thấy rõ một Hải Phòng rộng dài bừng sáng trong tương lai nên người lãnh tụ cộng sản Nguyễn Đức Cảnh những năm sau đó kiên cường gieo hạt giống đỏ giữa lòng thợ thuyền đất cảng. Đảng Công sản Việt Nam ra đời từ mùa xuân ấy. Cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ơ Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XX đã kết quả giữa ngày xuân thắm tươi.

Trong tiềm thức của tất thảy mọi người Việt Nam từ mùa xuân ấy Đảng trở thành biểu trưng của trí tuệ và sức sống vĩnh cửu của mùa xuân dân tộc. Đảng được đơm hoa kết trái từ mùa xuân lịch sử ấy khi chủ nghĩa Mác- Lênin đã hoà quyện trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đảng ta ra đời là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng Việt Nam đứng đầu là lãnh tụ thiên tài Nguyễn Ái Quốc -  Hồ Chí Minh. Đảng ra đời và dẫn chúng ta đi theo con đường do chính lịch sử đã nghiêm khắc sàng lọc và lựa chọn để làm rạng rỡ hơn những mùa xuân của dân tộc.

Hơn tám chục năm đã qua thật diệu kì trong mỗi bước đi lên của đất nước của dân tộc đều gắn liền với những chặng đường trưởng thành lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng đã lãnh đạo nhân dân giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vượt qua bao gian nan thử thách giành được những thành tựu vĩ đại đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập tự do đưa dân ta từ thân phận nô lệ bước lên địa vị làm chủ đất nước làm chủ xã hội làm chủ bản thân mình cùng nhau anh dũng đánh đuổi những tên xâm lược đầu sỏ ra khỏi bờ cõi thống nhất non sông tiếp tục đưa nước ta vượt lên nghèo nàn lạc hậu xây dựng được những tiền đề cần thiết để hôm nay vững chắc bước theo vận tốc của mùa xuân với bao niềm tin yêu và hi vọng.

Thật diệu kì trong sự ngẫu nhiên của tạo hóa trước bậc thềm mùa xuân mới Đại hội XI của Đảng từ 8 giờ sáng mai thứ tư 12-1-2011 chính thức diễn ra trọng thể tại Thủ đô Hà Nội thành phố 1000 năm tuổi mang đến cho đất trời và cuộc đời mỗi người Việt Nam bao niềm vui và sinh khí mới. Nguồn sinh khí đó được khởi đầu từ ngày ra đời chính Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam do Bác Hồ kính yêu sáng lập và rèn luyện. Từ đó như dòng sông không ngừng cuộn chảy cuốn theo muôn mạch nguồn từ lòng đất mẹ Đảng ta đã tiến hành thành công 9 kì Đại hội đại biểu toàn quốc dù ở hoàn cảnh bị mất nước hay đã giành được chính quyền trong kháng chiến hay trong thời bình đều hội tụ được sức mạnh dời non lấp biển của khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên một nước Việt Nam chói sáng trong thế kỉ XX và vững vàng tiến nhanh cùng thế kỉ XXI với sự nghiệp công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước. Đại hội XI của Đảng lần này là Đại hội của trí tuệ đoàn kết đổi mới và phát triển bền vững. Đây là sự kiện chính trị rất quan trọng của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta. Khẳng định bước phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong 5 năm qua những thành tựu đạt được sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Đại hội lần này mở hướng mùa xuân phát triển đất nước từ nay đến năm 2015 và những năm tiếp theo.

Trong những năm bôn ba nơi hải ngoại lãnh tụ Hồ Chí Minh đã miệt mài nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin để viết sách làm báo gửi theo tàu biển cập cảng Hải Phòng truyền ngọn lửa yêu nước về Việt Nam nên mùa xuân 70 năm trước ngay khi từ nước ngoài trở về trong nước hoạt động cách mạng ở vùng non cao Pắc Bó đặt tên cho núi Mác suối Lê-nin tin tưởng đất nước ta rồi đây sẽ xây dựng lại đàng hoàng hơn to đẹp hơn. Mùa xuân này chúng ta vẫn thấy Bác về chung vui trong Đại hội Đảng.

Giữa mùa xuân mơn mởn lộc biếc chồi non chào mừng Đại hội XI của Đảng chúng ta thêm tự hào về Hải Phòng là nơi sớm có tổ chức cộng sản trong cả nước. Từ ngày thành lập đến nay Đảng bộ Hải Phòng đã lãnh đạo nhân dân thành phố Cảng anh dũng đấu tranh giành và giữ vững chính quyền cách mạng bền gan kháng chiến giải phóng quê hương đồng sức đồng lòng xây dựng và bảo vệ thành phố. Thành tựu Hải Phòng đạt được trong hơn nửa thế kỉ qua kể từ ngày quê hương được giải phóng đã chứng minh một cách sinh động tinh thần chủ động sáng tạo của cán bộ đảng viên nhân dân và các lực lượng vũ trang thành phố trong chiến đấu xây dựng và bảo vệ Hải Phòng vì Hải Phòng và vì cả nước. Hiện nay Đảng bộ đang cùng quân và dân thành phố quyết tâm xây dựng Hải Phòng xứng đáng là đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia.

Mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chúng ta thêm vui vì Đại hội XIV Đảng bộ thành phố Hải Phòng vừa thành công rực rỡ. Đại hội đề ra được những giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ phát huy lợi thế thành phố Cảng đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa tạo nền tảng vững chắc để Hải Phòng phát triển toàn diện cơ bản trở thành một thành phố công nghiệp văn minh hiện đại trước năm 2020. Xuân này Hải Phòng triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV Đảng bộ thành phố với những niềm hân hoan phấn chấn cùng mùa xuân đất nước mùa xuân tưng bừng diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Không phải con đường chúng ta đi đều thênh thang bằng phẳng. Nhớ lại những gian khó mà đất nước vừa trải qua để chúng ta càng thêm biết ơn và tin tưởng vào Đảng ta Người đã vững tay chèo lái đưa con tàu Việt Nam vượt qua bao gió to sóng cả cập bến mùa xuân cho mùa xuân vẫy gọi những mùa xuân.

Mừng Đại hội XI của Đảng chúng ta muốn dâng lên Đảng quang vinh ngàn tiếng ca muốn hát vang những lời ngợi ca tha thiết về Đảng kính yêu của mình. Đảng đang mở hướng mùa xuân cho dân tộc cho non sông Việt Nam và cho mỗi chúng ta đi tới những chân trời tươi sáng.

HOÀI KHÁNH

More...

Qua bao thăng trầm Dòng sông chở kiếp vẫn phẳng lặng trôi

By HOÀI KHÁNH

Qua bao thăng trầm Dòng sông chở kiếp vẫn phẳng lặng trôi

Mấy năm gần đây người viết về nông thôn ngày càng ít; lùi lại thời gian dựng lại khung cảnh nông thôn với những người nông dân một nắng hai sương hiền lành chất phác và giàu lòng tin lại càng ít. Trong bối cảnh không lấy gì làm vui ấy tôi thật sự mừng khi được đọc cuốn tiểu thuyết thứ hai mới ra lò của nhà văn trẻ Nguyễn Quốc Hùng Dòng sông chở kiếp (Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2009).

Với 354 trang sách khổ 13 x 19 cm Dòng sông chở kiếp như một bức tranh về một vùng nông thôn có bề dày truyền thống lịch sử văn hóa với những quan hệ dòng tộc xóm làng mang đậm ý thức hệ phong kiến nhuốm màu nho giáo. Trong bức tranh có cả chiều sâu ý tưởng và chiều rộng không gian ấy quả là tác giả đã tạo dựng được lợi thế cho tiểu thuyết có "đất" tung hoành. Không phải người viết nào cũng dễ lựa chọn được hoàn cảnh và nhân vật thích hợp trong một môi trường với những xung lực luôn tương tác nhau ở mọi lúc mọi nơi dẫu đôi khi lẽ ra cũng chẳng có gì đáng để xung khắc nếu như con người có thể dễ quên đi sự ham muốn nhiều khi rất nhỏ nhen như một miếng ăn một chỗ ngồi nơi đông người thì đâu đến nỗi mang niềm hận thù cha truyền con nối. Chọn được một môi trường như thế xét về mặt nào đó đã là thành công của người viết; bởi trong công việc của nhà văn có lẽ chọn lựa ý tưởng (chủ đề) sáng tác để từ đó tổ chức nhân vật và xây dựng cốt chuyện là công việc có ý nghĩa quyết định đến quá trình hình thành tác phẩm. Bởi suy cho cùng trong tiểu thuyết nếu không tìm được mảnh đất mà ở đó yếu tố xung đột cả nhân vật và cốt chuyện như quả bom định giờ có thể bùng nổ bất cứ lúc nào thì dẫu có là nhà tiểu thuyết cũng khó có đất dụng võ. Thế nên trong Dòng sông chở kiếp Nguyễn Quốc Hùng đã chọn được cư dân làng Trằm một làng nhỏ tin hin vài trăm hộ nằm bên dòng sông Vàng đồng ruộng tiếng màu mỡ nhưng động mưa là úng động nắng là hạn quanh năm mặt bán đất lưng bán trời nhưng cứ treo liềm là treo niêu rất điển hình cho làng quê vùng châu thổ sông Hồng những năm trước Cách mạng Tháng Tám. Thế nhưng sự tranh giành quyền lực và ảnh hưởng giữa các dòng họ thì thật khủng khiếp nhất là khi quyền lực đó lại được bộ máy chính quyền và người đứng đầu hành chính cấp trên trợ giúp cả về quyền và lực như trường hợp Lí Ngà với quan tri huyện Thăng thì sự tranh giành đó càng quyết liệt hằn thù dòng họ càng khoét sâu.

Mở đầu bằng cảnh cư dân làng Trằm chạy lụt vào cái đình nhỏ rau cháo không còn đủ ăn lại còn chen chúc khổ sở ngày hai bữa Nguyễn Quốc Hùng ngay từ những trang đầu tiểu thuyết đã tạo được môi trường cho sự xung đột để từ đó bộc lộ bản chất và tính cách nhân vật. Chính trong ngôi đình nhỏ nhoi giữa ngày lụt lội nhưng chỉ một cái hẩy chân tưởng như vô tình của Lí Ngang khi đi qua chỗ chị đĩ Nhụ ngồi lại như một bóng ma cầm kéo chị đi. Rồi cái gì đến tất phải đến cuộc tình vụng trộm giữa một người là Lí trưởng làng trưởng dòng họ Vũ và một ngườ là dâu trưởng dòng họ Nguyễn vốn có mối hiềm khích không đợi trời chung diễn ra ngay gầm ban điện thờ. Cũng chính lúc đó chỉ cách gầm điện thờ mấy bước chân bà tổng Cờ mẹ chồng chị đang lăn lóc vượt cạn giữa lúc nước ngập mấp mé cửa đình. Chưa nói tới vai trò ý nghĩa của đứa con chắc sẽ sinh ra sau cuộc tình vụng trộm này cũng chưa nói tới đứa con bà tổng Cờ sinh ra ở đình giữa trận lụt hai đứa trẻ ấy rồi có đi hết tiểu thuyết hay không nhưng chỉ với việc tái tạo cuộc tình của hai con người ở hai dòng họ vốn mang niềm hận thù thâm căn cố đế và đứa trẻ sinh ra trong một hoàn cảnh rất éo le cũng có thể phần nào thấy năng lực của Nguyễn Quốc Hùng trong tạo dựng tình huống. Đây có thể coi là "nút thắt" có khả năng làm "bùng nổ" nhân vật và cốt chuyện đẩy nhân vật đi đến tận cùng tác phẩm nếu nằm trong tay người viết tiểu thuyết có nghề. Cũng trong cảnh chạy lụt còn thấy hiện ra hai gia đình hai dòng họ Nguyễn họ Vũ ở làng Trằm với những người trụ cột trong gia đình dòng tộc là tổng Cờ và Lí Ngang. Mối hiềm khích giữa hai nhà hai dòng họ dai dẳng từ mấy mươi năm. Nhưng giữa trận lụt ngoài sông Vàng trôi về từng súc gỗ to cha con Lí Ngang hò nhau bơi ra lôi vào bờ; cụ tổng gàn không cho Lí Ngang mang gỗ về nhà vì gỗ ấy là gỗ ngài (tức Phù Đồng Thiên vương) cho làng để làm lại đình làm Lí Ngang tức nổ ruột. Nhưng dẫu sao làm đình cũng là việc thiêng một Lí Ngang chứ mười Lí Ngang không thể cản nổi. Nhưng đến việc cụ tổng đề xuất và được quan tri huyện Thăng về tận nơi khảo sát để cấp tiền gạo cho làng Trằm mở sông Vàng phân lũ sang Thuận Thanh thì Lí Ngang ngấm ngầm phá kịch liệt. Ném đá giấu tay Lí Ngang sai trương Bân và Duân sang xúi giục trai đinh Thuận Thanh gậy gộc dáo mác ra ngăn không cho làng Trằm đào sông. Cuộc xô sát giữa hai làng diễn ra ác liệt bất chấp có mặt quan tri huyện Thăng. Thấy thế cụ tổng không thể kìm lòng sau khi giục Lí Ngang lệnh cho trai làng không xông ra đánh nhau nữa nhưng Lí Ngang ngược lại còn xúi trai làng xông vào đánh nhau kịch liệt hơn cụ tổng quyết lấy tấm thân già ngăn không để dân hai làng đổ máu cụ đi ra giữa ranh giới đào sông thuộc đất hai làng ngồi như trời trồng xuống sông mặc cho nước từ hai bên ào ào chảy vào và bất chấp sự can ngăn của mọi người. Cái chết của cụ tổng như một sự tuẫn tiết để ngăn cản điều ác bảo về lẽ phải. Cũng những ngày mở rộng sông Vàng Lí Ngang giao cho nhà Duân bỏ công ra đào chuôm cứ đào được một chuôm thì nhà Lí cho cấy hai sào ruộng. Một kiểu bóc lột lao động có thù lao tức thì bộc lộ rõ bản chất xảo quyệt của Lí Ngang. Nhưng ái oăn thay khi chuôm đào xong thì Duân cũng không còn sức cày cấy trên mấy sào ruộng nhà Lí trả công rồi phần vì làm kiệt sức phần vì rượu say ra đồng cảm gió Duân gục xuống ngay bên bờ chuôm do chính tay hắn đào. Với ở đâu cái chết kiểu như thế cũng chẳng thể thành chuyện nhưng ở làng Trằm bất kể cái gì cứ mang tính khác thường một chút kì dị một chút đều có thể được lan truyền là ma. Nhất là về sau Lí Ngang trong một tâm trạng vui buồn lẫn lộn uống rượu say rồi lẩn thẩn ra cánh đồng Đỗ đến chỗ mấy cái chuôm Duân đào rồi cũng lại bị cơn gió độc chết gục xuống bờ chuôm thì chuyện ma ở làng Trằm càng trở thành "cơm bữa". Nhưng cái gì cũng thế chừng mực là vừa nhiều quá đâm sái và chuyện ma ở làng Trằm ở chỗ này chỗ kia quả là cũng có phần hơi sái!

Đi sau vào phần một trong số bốn phần (không kể đoạn kết) của tiểu thuyết bởi lẽ theo tôi đây là những trang viết khá nhất của Dòng sông chở kiếp cả về mặt xây dựng tích cách nhân vật cũng như kết cấu chuyện. Sau phần này nhất là từ cuối phần hai trở đi đến hết tác giả dường như có cái gì đấy như sự hẫng hụt cả về cách dựng chuyện và kết cấu tổ chức nhân vật. Sau khi Lí Ngang chết làng bầu người thay và tri huyện Thăng cũng người họ Vũ cùng họ nhà Lí về tận làng "chỉ đạo" hội đồng tiên chỉ làng cử Ngà con trai trưởng Lí Ngang làm Lí trưởng. Có lẽ Ngà làm Lí trưởng vắt qua hai thời trước sau cách mạng tháng 8-1945 vì trong kháng chiến chống Pháp với vai trò Lí trưởng làng Trằm Ngà còn thâm hiểm xảo quyệt và tàn ác hơn bố hắn thời trước mà đỉnh điểm là cuộc giặc càn Lí Ngà chỉ hầm nhưng lại không ra mặt giặc đào được hầm ở nhà bà Hướng bắn chết bà Hướng và Toản còn Sơn bị thương rồi bị bắt về đồn. Còn một người nữa tuy không ra mặt nhận Ngà là anh ruột nhưng về lòng tham và sự xảo trá cũng chẳng kém Lí Ngà là mấy đấy là Sông đứa con sinh ra sau cuộc tình vụng trộm giữa chị đĩ Nhụ và Lí Ngang bố Lí Ngà dưới gầm bàn điện thờ ở đình giữa ngày chạy lụt. Đến đây có thể hiểu cái "nút thắt" có khả năng làm "bùng nổ" tiểu thuyết mà tác giả dụng công "cài đặt" ở phần một hóa ra lại chẳng có sự "bùng nổ" nào hay có chăng chỉ là một minh chứng cho câu châm ngôn "Giỏ nhà ai quai nhà ấy" bởi Sông tuy sinh ra lớn lên và được nuôi dưỡng khá chu đáo trong nhà vợ chồng anh Diệc chị Nhụ nhưng dòng máu lại một nửa là của Lí Ngang. Thế nên có lẽ Sông mang nhiều tính cách và bản lĩnh của Lí Ngang nên cái hôm Lí Ngà làm khao lên chức Lí trưởng Sông săng sái cỗ bàn cứ như việc nhà mình cũng là điều dễ hiểu xét về mặt tình cảm huyết thống. Sông có lúc không cần giấu giếm nói toạc ra ước muốn tham danh hám lợi thậm chí có lúc còn trách mình sao không được giàu sang và quyền lực như Lí Nga! Như đã nói cuộc tình vụng trộm giữa Lí Ngang và chị đĩ Nhụ ở đình sản sinh ra thằng Sông nếu tác giả dầy dạn một chút tỉnh táo một chút và cả tài hoa một chút nữa thì rất có thể tạo ra một cái gì đấy có sức "công phá" đẩy tiểu thuyết lên một bước nữa. Bởi thằng Sông được sinh ra giữa hai dòng máu hai dòng họ có mối hằn thù thâm can cố đế nhưng thằng Sông lại lớn lên dưới chế độ mới giữa những con người ít nhiều tạm quên đi mối hiềm khích vì thời Việt Nam dân chủ cộng hòa khác hơn nhiều thời đế quốc phong kiến trước đó. Đây là sự khác biệt căn bản của cái nền tiểu thuyết nhưng không hiểu khi viết Dòng sông chở kiếp Nguyễn Quốc Hùng có lởn vởn trong đầu chăng. Tôi đồ rằng tác giả không mấy để tâm bởi nếu để tâm đã không để cho sự nhập nhằng không phân định ranh giới giữa hai thời kì có tính bước ngoặt là trước và sau cách mạng tháng 8/1945. Thế nên khi đọc đến phần ba thấy hoàn toàn ngỡ ngàng không hiểu đây là thời nào còn đế quốc phong kiến hay đã khởi nghĩa Tháng Tám rồi từ bao giờ sao không thấy dân làng Trằm có biểu hiện nào trước bước ngoặt lịch sử của quê hương đất nước chẳng lẽ họ đứng ngoài cuộc. Đứng ngoài cuộc thì họ không thể đi theo kháng chiến bằng sự hy sinh lớn lao như vậy và ngay cuộc kháng chiến ở đây là vào giai đoạn nào đầu hay cuối cuộc trường kì kháng chiến chống Pháp? Bởi nó rất có ý nghĩa khi dựng lại cuộc đời và số phận nhân vật vì muốn nói gì thì nói con người không thể tách rời hoàn cảnh ngược lại chính hoàn cảnh làm bộc lộ tính cách con người (nhân vật). Vì thế nhân vật thứ hai sinh ra giữa lúc chạy lụt vào đình là Sơn một người được cả dòng họ Nguyễn kì vọng lại sớm theo Việt Minh tưởng một hai có thể làm nên trò trống gì khả dĩ có thể làm rạng danh dòng họ nhưng lại không. Sơn mới đi Việt Minh đã bị thương rồi bị giặc bắt về đồn đày ra Côn Đảo mãi hòa bình lập lại mới về sau chuyển ngành sang thương nghiệp rồi chỉ mới chơi với cô y tá cơ quan đã bị tay trưởng phòng vu cho gây hỏa hoạn thế là vào tù. Sơn là người con trai duy nhất còn lại trong gia đình cụ tổng có tới mấy người con trai xét về hoàn cảnh và tính cách của Sơn nói riêng và nhà cụ tổng nói chung Sơn hoàn toàn có thể làm được cái gì đó để duy trì và giữ vững truyền thống gia phong nhà cụ tổng và họ Nguyễn rất có thể là người xoá đi hiềm khích bao đời giữa hai gia đình hai dòng họ lớn ở làng Trằm nhất là trong hoàn cảnh quê hương đất nước đã hoàn toàn thay đổi. Và như thế tiểu thuyết mang ý nghĩa xã hội càng thêm sâu sắc hơn. Nhưng chưa triệt để khai thác những mắt xích nhân vật và tình huống chuyện nên dẫu qua bao thăng trầm thì "Dòng sông chở kiếp" vấn chỉ phẳng lặng trôi chứ chưa để lại đôi bờ những bờ sôi ruộng mật như người đọc mong đợi. Dường như ý định người viết muốn tái hiện làng quê cả một thời kì dài mấy chục năm nhưng vốn sống và năng lực có hạn nên những gì hiện ra trên trang viết chưa theo kịp với sự phát triển của nhân vật và hoàn cảnh. Có lẽ thế tác giả phải viết thêm đoạn kết quá dài (33 trang in) lại mang đậm chất tự truyện có cái gì như lạc với toàn cục không hợp với không khí tiểu thuyết.

Trong thời buổi hiện nay không ít người chạy theo "mốt hiện đại" cả về nhân vật cũng như nội dung hình thức thì việc một nhà văn trẻ như Nguyễn Quốc Hùng lại tìm về những con người ở một vùng quê với bao biến cố xảy ra trước cả hàng chục năm người viết sinh ra thì quả là việc làm rất đáng trân trọng và khích lệ. Sau Chuyến hàng mưa tác phẩm Dòng sông chở kiếp lai thêm một lần nữa cho thấy năng lực tiểu thuyết cùng khả năng đi xa của Nguyễn Quốc Hùng trên con đường văn chương đầy chông gai phía trước.

CAO NĂM

More...

Nghiêng bên chiều Đồng Lộc

By HOÀI KHÁNH

Nghiêng bên chiều Đồng Lộc

Đồi thông xào xạc gió ngàn

Mười ngôi mộ tựa phím đàn là đây

Tiếng chim mắc võng trên cây

Hồn người ru sợi nắng gày đu đưa

 

Hố bom rạch đất năm xưa

Giờ mơn mởn cỏ như vừa vá xong

Vòm mây trinh nữ bềnh bồng

Chở lời ai hát trôi trong trời chiều

 

Hương bồ kết nghẹn bao điều

Mượn màu cúc trắng lay xiêu vạt đồi

Gội xanh mái tóc đôi mươi

Tô hồng tươi mãi làn môi chưa chồng

 

Khói nhang thơm ngát đồi thông

Lược gương sẵn đợi người không thấy về

Tôi nghiêng mình với chiều hè

Mang thơ đốt giữa bộn bề nắng nung.

Hà Tĩnh chiều 11-6-2009

HOÀI KHÁNH

More...

Chương trình thơ Vầng trăng quê Trạng

By HOÀI KHÁNH

Chương trình thơ Vầng trăng quê Trạng

Chiều nay chủ nhật 2-1-2011 (tức ngày 28-11 năm Canh Dần) ngay tại Khu di tích lịch sử - văn hóa Đền thờ Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê ông (thôn Trung Am xã Lí Học huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng) Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố Hải Phòng và Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo phối hợp tổ chức chương trình thơ Vầng trăng quê Trạng. Chương trình nằm trong khuôn khổ những hoạt động của thành phố Hải Phòng nhân Lễ hội Đền thờ Trạng Trình và kỉ niệm 425 năm Ngày mất của Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm.  Nhà văn Trung Trung Đỉnh - Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiều nhà thơ đến từ Hà Nội Hải Dương Thái Bình Quảng Ninh cùng hàng trăm công chúng yêu thơ đã tới dự.

Lời phát biểu khai mạc của nhà biên kịch điên ảnh Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội Liên hiệp VHNT thành phố Hải Phòng - và lời chào mừng của đống chí Nguyễn Văn Lợi - Phó Bí thư thường trực Huyện ủy Vĩnh Bảo đều tập trung ca ngợi công lao to lớn của Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm với việc giúp nước lo đời tinh thân lấy dân làm gốc và khẳng định nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác giả lơn của văn học Việt Nam thế kỷ XVI và của cả giai đoạn văn học thế kỷ XVII và nửa đầu thế ky XVIII xứng đáng là người đại diện của trí thức dân tộc sống trong giai đoạn suy vi của chế độ phong kiến.

Chương trình thơ Vầng trăng quê Trạng gồm 3 phần. Phần 1: Thơ từ quán Trung Tân - giới thiệu thân thế sự nghiệp và một số bài thơ tiêu biểu của Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm. Phần 2: Nhớ về Trạng Trình - trình diễn những bài thơ của các nhà thơ ca ngợi công trạng của Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân những dịp về dâng hương tưởng niệm tại đền thờ Trạng Trình trên quê hương ông. Phần 3: Đất và người quê Trạng - tập hợp những bài thơ viết về mảnh đất quê hương Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Chương trình công diễn thơ của các nhà thơ Kim Chuông Hồ Anh Tuấn   Nguyễn Xuân Hải Tô Ngọc Thạch Hoài Khánh Phạm Xuân Trường Phạm Vân Anh cùng nhiều tác giả thơ tiêu biểu của Hải Phòng như Trần Lưu Nguyễn Thanh Toàn Vũ Hiển Nguyễn Đình Di Lưu Đình Hùng Nguyễn Lâm Cẩn Nguyễn Thị Thúy Ngoan... Chương trình cũng có sự tham gia của một số hội viên Câu lạc bộ thơ huyện Vĩnh Bảo. Gần 30 bài thơ được các tác giả tự đọc hoặc do các diễn viên của Đoàn Chèo Hải Phòng và Trung tâm văn hóa - thể thao huyện Vĩnh Bảo trình diễn đã tạo rõ không khí thơ ca và thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng nhân dân khi tới tham dự lễ hội Đền Trạng. Cùng dịp này Nhà xuất bản Văn Học cho ra mắt bạn đọc tập thơ Mây trắng sông Hàn với trên 100 bài thơ của 78 tác giả Trung ương và địa phương.

Chương trình thơ Vầng trăng quê Trạng là hoạt động văn học mở đầu năm mới 2011 của Hải Phòng đồng thời thêm một dịp tôn vinh thơ ca dân tộc và phong trào sáng tác thơ trong công chúng ở thành phố Cảng.

HOÀI KHÁNH

Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một số bài thơ tham gia chương trình này.

Mùa xuân về với Trạng Trình

Dọc sông Tuyết theo con đò thời gian

Câu sấm Trạng dẫn tôi về Trung Am

Giọt nắng xuân mang hồn đại thụ

Ngàn lộc tơ lá đời tở mở

Bên t­ượng đài Trạng Trình

mây trắng buông lảng thảng góc trời xư­a

Bốn trăm sáu mư­ơi tám* mùa xuân qua

Mốc thời gian ngả bạc

Đời Hiến Tôn nhà Mạc

Hoàng thân Quốc thích**ỷ thế lộng hành

Ng­ười treo ấn từ quan

Về mở Bạch Vân Am - Dạy chữ

Ng­ười khắc vào hồn sĩ tử:

Với dân dâng Tâm - Đức - Nghĩa

Với Vua thờ hai chữ Tôi - Trung

Ng­ười ­ươm v­ườn xanh

Cho mai sau quả ngọt

Nguyễn Bỉnh Khiêm

một Trạng nguyên tài ba lỗi lạc

Một bậc danh nho thông kim bác cổ trên đời

Một nhà thơ nhà t­ư t­ưởng

một Hiền triết sáng ngời

Bóng Ng­ười rợp dọc dài thế kỷ

Lời sấm truyền huyền bí

Đức Thánh nhân***vằng vặc trời Nam

Ngôi sao sáng trần gian

trong lòng ng­ười dân Việt

TÔ NGỌC THẠCH

___________

*    Sau 8 năm làm quan trong Triều và xin dâng sớ chém 18 lộng thần không

đ­ược Vua chấp nhận. Năm 1542 Nguyễn Bỉnh Khiêm cáo quan về ở ẩn tại quê.

**  Nh­ư Phạm Dong con rể Vua Mạc tên quan khét tiếng lộng thần...

*** Đạo Cao Đài tôn thờ 3 vị thánh: Trạng Trình Tôn Trung Sơn và Vich-to Huy-gô.

Viết ở đền thờ Trạng Trình

Thành tâm con cúi lạy người

Khói hương lẩn khuất dưới trời Trung Am

Cho con chữ ngọc lời vàng

Câu thơ san sẻ dọc ngang khóc cười

 

Phận con hóa đá mồ côi

Mây trôi bèo dạt cuối trời dở dang

Trên đầu đội mấy vòng tang

Sợi dọc cho mẹ-sợi ngang cho chồng

 

Cò gầy còn có bến sông

Con đi mót tép phố đông không bờ

Ba con thơ dại bơ vơ

Nuôi con bằng xác-nuôi thơ bàng hồn

 

Cò gầy biết tránh bão giông

Con như cỏ dại giữa đồng tả tơi

Xin Người chữ vãi chữ rơi

Nỗi đau dìm xuống nụ cười vớt lên

 

Cho con chân cứng đá mềm

Để con chèo lái màn đêm sang ngày

Bơ vơ ngọn gió heo may

Hương hoa con nhủ ngày này năm sau.

NGUYỄN THỊ THÚY NGOAN

Quê Trạng 

Vẫn là đất

Lúa trồng lên mây biếc

Làng dài xanh như câu hát ngàn đời

Người nhân hậu như hạt mầm gieo cấy

Quê Trạng Trình giản dị thế thôi.

 

Người là một. Là riêng. Là hạt thóc

Trước bao la vụ gặt giữa đời này

Người là Trạng. Người là tất cả

Bởi đại dương nằm trong hạt muối cầm tay.

 

Một giọt nước quê nhà nuôi Người lớn

Dấu chân Người in bên lối ngõ trăng gầy

Góc ao tắm hiên cửa ngồi đọc sách

Nơi cội nguồn đất Trạng là đây.

 

Khi vũ trụ nằm trong con người ấy

Thế sự ngàn năm sau trước rộng dài

Có tiếng sấm truyền vang đi trên đất

Có làng Am ngời sáng mãi tên Người.

KIM CHUÔNG

Cô gái phơi rơm trên sân nhà Trạng

Nắng

Bóng ngôi nhà xưa trùm lên em

Bóng em  đổ trên sân thóc

Vàng

Vàng

Dưới  chân em nhẩy nhót...

 

Những hạt thóc đẫm mồ hôi

Có vị chát chua cồn cào sông Tuyết *

Trắng cao khiết mầu áo xưa Người mặc

Có cái vuốt râu và tiếng khà thanh bạch

Sau câu thơ sang sảng động trời xanh !

 

Nước mắt  Người xưa tan vào dòng sông

Hồn thơ Người xưa nhập vào cây lúa

Cây lúa cho hạt " Trường Xuân "

Dẫu " Trường Xuân Kiều " ** giờ không còn nữa

Để em quẩy thóc đi qua...

 

Cô gái phơi thóc trên sân nhà Trạng

Ngả nón hứng nắng trưa

Đi vòng quanh sân

Tóc xõa

Vầng trán đầm đìa mồ hôi

Quẩn quanh cùng ý nghĩ :

" Văn chương chữ nghĩa để mà chi " ?

Cô tủm tỉm cười một mình...

Lý Học - Vĩnh Bảo 10-2000

VŨ HIỂN

------------------

 *   Sông Tuyết ( Tuyết Giang ) xưa chảy qua quê Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 **   Cây cầu đá do chính Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bắc nay không còn nữa .

Chiều Trung Am

Chắt tinh hoa hồn đất

ý cao thâm của trời

Thơ cất cánh giữ dòng thế sự

Kết tinh trong trái cây đời.

 

Về đông dòng Tuyết giang trôi

Để lại khúc bồi khúc lở

Giọt phù sa nào thành thơ phu tử

Mang hương quê kiểng mặn mòi

 

Đi qua thời gian dâu bể chuyển dời

Những vàng son thịnh hưng   suy phế

Thơ vẫn một niềm đau nhân thế

Gửi trong sắc cỏ mượt mà xanh

 

Giữa ảo mờ sương khói Bạch vân

Lòng tĩnh lại trước tiếng đời ồn ã

Chiều Trung Am

Hoa trạng nguyên nở đỏ

Cháy bững như một mặt trời riêng.

NGUYỄN ĐÌNH MINH

Bài ca trong khe suối

Người leo bậc cao

Nước luồn khe thấp

Công danh cười khà

Xanh cỏ ấm

Quán Trung Tân mái lá khảm trăng.

 

Nặng nợ gì mũ áo xênh xang

Ao vải quạt mo tiêu dao sông nước

Gậy trúc chõng tre thơm thảo trà xanh

Qua mắt giếng sâu thấu lẽ đời trong đục.

 

Người buồn!

Thế cuộc thêm đau

Nước rì rầm: "Cổ lai quốc dĩ dân vi bản"

Thương một tấm lòng!

 

Nước luồn khe thấp

Miệt mài tháng năm  núi lở đá mòn.

 

Một cõi tâm sáng trăm năm cõi thế

Một chữ ‘nhàn" đau đáu dòng huyết lệ

Một cuộc cờ dở dang

 

Thênh thênh thuyền chở trăng vàng

Gió ru mấy khóm tre hoang bãi chiều.

PHẠM VÂN ANH

More...

Hải Phòng bừng nở sắc xuân

By HOÀI KHÁNH

Hải Phòng bừng nở sắc xuân

Đã thấy mùa xuân Tân Mão về sớm với Hải Phòng ngay trong những ngày đầu năm mới 2011. Năm mới đến ta muốn hát vang cùng miền sóng miền gió muốn hát vang cùng Hải Phòng thân yêu. Đã thấy mùa xuân tràn đầy sức trẻ và tương lai rộng mở của thành phố quê hương. Trong ta đang rạo rực mùa xuân bởi trong ta luôn có một Hải Phòng. Trong tiết trời ấm áp chúng ta hân hoan nắm tay nhau chúc mừng những thành tựu mà Hải Phòng đạt được trong năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố. Khi hoa lá bật dậy chồi non lộc biếc chúng ta cùng nhau chúc mừng bước chuyển biến mạnh mẽ của Hải Phòng trong Năm Tăng cường bảo vệ môi trường và bảo đảm an sinh xã hội. Đảng bộ quân và dân thành phố đã tăng cường đoàn kết phát huy tốt hơn các yếu tố tiềm năng lợi thế tích cực đổi mới công tác lãnh đạo điều hành khắc phục nhiều khó khăn giành được những kết quả quan trọng hoàn thành khá toàn diện nhiệm vụ kế hoạch của năm 2010. Hải Phòng đang bừng nở sắc xuân.

Khi chào đón xuân sang ta thường nghĩ về những tháng ngày qua. Thời tiết không mấy thuận lợi gây tác hại không nhỏ đến nông nghiệp và thuỷ sản. Nguồn điện bị thiếu ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống sinh hoạt. Từ nội thành tới đảo xa giữa ngày nắng nóng nhất chúng ta vẫn phải luân phiên tiết kiệm điện. Rồi biến động giá tăng cao ở nhiều loại vật tư hàng hóa. Chính sách thuế chống bán phá giá của nước ngoài làm cho thị trường xuất khẩu hàng dệt may da giày... gặp thêm nhiều khó khăn. Bên cạnh đó một số vụ việc bức xúc mà dư luận quan tâm chưa giải quyết dứt điểm khiến chúng ta phải dành nhiều thời gian công sức và các nguồn lực không nhỏ để tập trung xử lí. Nhớ lại những gian khó mà thành phố vừa trải qua để ta càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Phòng đang nỗ lực thực hiện ước nguyện của Bác Hồ kính yêu cách đây 65 năm khi Người lần đầu tiên về Hải Phòng từ phía biển. Bác mong "Hải Phòng sẽ trở nên thành phố gương mẫu của nước ta".

Năm mới đến chúng ta vui hơn vì tình hình kinh tế - xã hội của Hải Phòng ổn định và phát triển khá toàn diện. Đã thấy mùa xuân rộn ràng trước cửa khi kinh tế phát triển ổn định và liên tục tăng trưởng; cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu chủ yếu của Đại hội XIII Đảng bộ thành phố đề ra trong đó một số chỉ tiêu đạt mức khá cao. Cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô kinh tế thành phố tiếp tục phát triển rõ nét; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tiên tiến; tiềm năng lợi thế của thành phố cảng được khai thác phát huy toàn diện và hiệu quả hơn; khẳng định rõ tính chất vai trò là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc và cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ; đang từng bước trở thành một trong những trung tâm công nghiệp thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ của vùng Duyên hải Bắc bộ; tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đạt được những kết quả bước đầu quan trọng. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong giai đoạn 2006 - 2008; từ năm 2009 đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng chậm hơn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới bình quân trong 5 năm đạt 11 15%. Huy động nguồn lực nhất là lợi thế của thành phố cho đầu tư phát triển tăng nhanh đạt kết quả tích cực. Tài chính ngân sách khá ổn định cơ bản đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên phát sinh đột xuất và tăng chi đầu tư phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiên tiến tỷ trọng GDP của các nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng từ 87% năm 2005 lên 90% năm 2010. Một số ngành lĩnh vực kinh tế chủ lực nhiều lợi thế phát triển nhanh có thêm sản phẩm mới. Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Kinh tế dịch vụ phát triển đa dạng đúng định hướng chất lượng và hiệu quả được nâng lên tạo sức tác động lan tỏa bước đầu đối với vùng miền và vươn ra quốc tế khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội; góp phần tích cực trực tiếp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố từng bước trở thành một trong các trung tâm dịch vụ lớn của vùng Duyên hải Bắc bộ. Hoạt động dịch vụ cảng biển phát triển khá mạnh. Sản lượng hàng hoá thông qua các cảng trên địa bàn tăng nhanh. Thương mại phát triển khá toàn diện; tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng 23 7%/năm. Quan tâm đầu tư them nhiều trung tâm thương mại siêu thị hiện đại đáp ứng yêu cầu để Hải Phòng giữ vai trò trung tâm phát luồng hang hoá của vùng và cả nước. Kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 1 94 tỷ USD tăng bình quân 18 76%/năm. Số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tăng nhanh; cơ cấu sản phẩm xuất khẩu có chuyển biến; sản phẩm công nghiệp chế biến tăng khá. Du lịch phát triển trên nhiều lĩnh vực thu hút khoảng 4 2 triệu lượt khách vào năm 2010. Bưu chính viễn thông phát triển mạnh. Các dịch vụ mới như kinh doanh bất động sản tư vấn bảo hiểm cho thuê tài chính ngân hàng chứng khoán... phát triển khá. Hoạt động dịch vụ trong các lĩnh vực giáo dục - đào tạo y tế văn hoá thể dục thể thao công ích tư vấn...được đẩy mạnh mở rộng theo hướng xã hội hoá và đạt được kết quả tích cực. Kinh tế nông nghiệp chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá và bảo đảm an ninh lương thực. Trong thời khắc thiêng liêng của ngày đầu năm mới chúng ta càng trân trọng tình người lòng người gắn bó keo sơn đồng tâm hiệp lực cho sự cường thịnh an khang của thành phố và đất nước.

Mùa xuân vẫy gọi mùa xuân trên đất cảng Hải Phòng. Cũng mới năm qua thôi bên cạnh những công trình kinh tế là những công trình văn hoá giáo dục phúc lợi được xây dựng. Giao thông công cộng nội đô được quan tâm đầu tư; vệ sinh môi trường có chuyển biến cơ bản. Bức tranh toàn cảnh Hải Phòng đang bừng nở sắc xuân đón chào năm mới tràn đầy niềm tin yêu hi vọng. Mùa xuân đang đơm hoa trước cửa biển ngay ngày đầu năm mới. Có biết bao công trình mà ta không thể nhìn được qua hình hài dáng vóc nhưng vô cùng ý nghĩa. Đó là sự tiến bộ của lĩnh vực văn hóa - xã hội khi cả thành phố đặc biệt quan tâm. 5 năm qua văn hóa giáo dục - đào tạo y tế khoa học và công nghệ có bước chuyển biến tiến bộ; an sinh xã hội được tăng cường và đảm bảo; các chính sách về tiến bộ và công bằng xã hội được quan tâm thực hiện đạt kết quả rõ nét; đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng-an ninh được củng cố và tăng cường an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ổn định và giữ vững. Công tác xây dựng Đảng được Thành uỷ và các cấp uỷ tập trung lãnh đạo chỉ đạo đi vào chiều sâu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ thể hiện sự đổi mới và hiệu quả được nâng lên rõ nét trên nhiều mặt góp phần trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của toàn Đảng bộ Chính quyền các cấp được củng cố nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động; thực hiện cải cách hành chính cải cách tư pháp đạt kết quả khá toàn diện và rõ nét. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân: tiếp tục được củng cố mở rộng phát huy; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các tổ chức xã hội có đổi mới chất lượng và hiệu quả được nâng lên. Thành quả ấy tạo rõ niềm tin cho mỗi chúng ta vào những bước đi lên của Hải Phòng trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Niềm tin và sự đồng thuận chính là sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người mỗi địa phương cơ sở.

Một mùa xuân dân tộc đang lại gần chúng ta gánh cả hành trang hào hùng của năm cũ để bước vào năm mới 2011 chói sáng niềm tin cùng mọi sự tốt lành. Bước vào năm mới Hải Phòng đang rộng dài bừng sáng cùng đất nước sang xuân.

HOÀI KHÁNH

More...

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt từ góc nhìn của người xứ Thanh

By HOÀI KHÁNH

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt từ góc nhìn của người xứ Thanh

Năm 2009 Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hoá phát chương trình "Thơ và cuộc sống" giới thiệu bài thơ "Rau má" của Trịnh Anh Đạt được nhiều người mến mộ yêu cầu phát lại nhiều lần. Trịnh Anh Đạt là nhà thơ sinh ra và lớn lên ở Hà Trung Thanh Hoá sống và lập nghiệp ở Đồ Sơn Hải Phòng.

Tôi và có thể cả nhiều người Thanh Hoá biết và tiếp xúc với thơ Trịnh Anh Đạt là từ bài "Rau má" - bài thơ được giải thưởng cuộc thi thơ cuối thế kỉ (năm 2000) của Tạp chí Xứ Thanh. Đã có nhiều người làm thơ về đề tài này nhưng Trịnh Anh Đạt có lối đi riêng và thành công hơn cả. Thơ nói về cây cũng là nói về người. Một loài rau được coi là đặc trưng của con người và vùng đất nơi đây: "Miền quê bão lụt nắng hanh/ Vươn lên để sống chỉ nhành má thôi". Nhà thơ gọi cây rau má là "sâm" của người xứ Thanh quả không ngoa cây rau từng đỡ lòng ta lúc tháng ba ngày tám... Cái màu"xanh rười rượi" và vị "ngai ngái" của cây rau trong mùi mồ hôi có lẽ cũng chỉ có người sinh ra sống chết với mảnh đất này mới cảm nhận được. Cây rau nhẫn nại khiêm nhường lại có sức sống mãnh liệt vươn lên dù từ đất cằn cỗi. Trịnh Anh Đạt kể và tả về cây rau má cùng lời nhắn nhủ: "Dù ai lận đận nơi đâu/ Dù ai sống giữa nhà lầu xe hơi...". Trong khi Huy Trụ bóng gió: "Ơi cây rau má đất này/ Nói điều chi với tháng ngày mà xanh?" thì Trịnh Anh Đạt bộc bạch: "Vĩ nhân và các đời vua/ Cũng từ rau má ốc cua nên người!". Giá trị thông điệp nhà thơ đưa ra là ở hai câu cuối này bởi thế nó có sức nặng.

Là người sinh ra lớn lên từ xứ Thanh học xong trung học phổ thông giữa lúc cuộc chống Mỹ cứu nước đang thời kì ác liệt như bao người cùng thế hệ Trịnh Anh Đạt lên đường ra mặt trận. Quê hương và đồng đội là những kí ức thường nhật trong trái tim anh trong đó sâu nặng nhất là hình ảnh người mẹ: "Bậc thềm mòn vẹt mẹ ngồi ngóng trông". Người mẹ trong thơ Trịnh Anh Đạt là biểu tượng của bà mẹ Việt nam anh hùng với tất cả đức hy sinh chịu đựng tình thương của mẹ cao lớn bao trùm lên những đứa con. Còn mẹ thì: "Lụi lầm thân cuốc bờ ao/ Cọng rau cái tép... thế nào cũng xong" là: "Lành nhường con ấm dụm chồng/ Áo dăm mụn vá...nỗi lòng đâu yên". Mặt khác thơ Trịnh Anh Đạt cũng nói giùm tấm lòng của những đứa con những người lính nhớ về mẹ tựa vào lời ru của mẹ mà lớn khôn trưởng thành.

Có thể thấy biên độ thơ Trịnh Anh Đạt những biểu cảm ghi nhận của anh trong khoảng thời gian không gian đất nước và thế hệ anh từng trải: mái trường đồng đội con người và những vùng đất anh qua... Còn thơ lục bát Trịnh Anh Đạt lại dành cho những chiêm nghiệm những khoảng lặng ở "nửa sau cuộc đời".

Đây là phút uy nghiêm trầm mặc giữa núi rừng: "Nỗi niềm mỗi bứơc một dừng/ Lối mòn đỏ giữa điệp trùng Lam Kinh" anh lặng bước mà nghĩ tới những người anh hùng đã đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh. Cả cây rừng cũng "đánh giặc" qua kế sách của Nguyễn Trãi: sai người đi khắp nơi dùng mỡ mật viết lên lá cây cho kiến ăn thành tám chữ: "Lê Lợi vi quân Nguyễn Traĩ vi thần" để thu phục lòng dân tham gia khởi nghĩa...Qua Na Sài - cây cầu vừa nối nhịp vượt sông Mã tới Hồi Xuân thị trấn miền núi trữ tình của Thanh Hoá một ban mai trong trẻo thanh khiết: "Này em! Gùi địu trĩu quai/ Sớm xuôi chợ huyện có ai đi cùng/ Mùi thơm dủ dẻ lạ lùng/ Lịm như hương tự núi rừng chắt ra".

Xứ Thanh trong thơ lục bát Trịnh Anh Đạt trước hết là những kỉ niệm về mái trường về lứa bạn bè một thuở ở Trường cấp III Hà Trung quê hương tác giả là dòng sông bên lở bên bồi: "Bương luồng xanh bến sông Lèn/ Dô tà dô tá...đan chen  nhịp hò..." là mía thơm đất Ba Bùi là thứ mắm tép đỏ au ở Đình Trung... Phải gắn bó sâu nặng với quê hương thế nào không chỉ ở cảnh sắc con người mà cả cách ăn nếp nghĩ phong tục tập quán mới thấm đượm trong tâm hồn tác giả đến thế. Nhưng điều đọng lại trong kí ức của anh về quê hương vẫn là về bạn bè đồng đội về nỗi đau sau chiến tranh:"Thằng nào vùi xác cuối trời/ Hồn thiêng nhập tiếng ve sôi vọng về?/ Còn đây tím nấm mộ thề/ Run tay bạn gái...tái tê đời thường"

Yêu quê hương Xứ Thanh nơi chôn rau cắt rốn Trịnh Anh Đạt cũng gắn bó tha thiết với những miền quê anh qua nơi anh sinh sống lập nghiệp trở thành một doanh nhân thành đạt. Anh đã tìm được một lối đi riêng cho thơ lục bát của mình như đi tìm một lối không dễ giữa thị trường nhiều thử thách. Thật ngạc nhiên về những bài thơ anh viết về Đồ Sơn Hải Phòng. Đây là những địa danh ở biển Đồ Sơn: bến Nghiêng: "Sao em xuống tắm một mình/ Để con sóng biếc rập rềnh cũng nghiêng" đây là hòn Dáu: "Đảo xanh hoá chiếc ô xoè/ Bồng bềnh trôi giữa tiếng ve bồng bềnh" đây là chợ Cầu Vồng: "Mùa xuân đi chợ Cầu Vồng/ Quá mù...nên chẳng ai trông thấy giời" và đây là đồi Vung nơi có biệt thự Bảo Đại "Căng nưng nức ngực đồi Vung/ Xiêm y lơ đễnh buông chùng gió mây/ Núm hồng biệt thự nây nây/ Cho bao nhiêu kẻ run tay si cuồng"...Đọc những vần thơ này càng thấy cái tinh tế hóm hỉnh đầy vẻ trào lộng trong thơ Trịnh Anh Đạt. Điều này cắt nghĩa vì sao giữa phong cách thơ ào ạt của một thành phố biển với những thi hữu tiềm tàng sức vóc Trịnh Anh Đạt vẫn không bị "đồng hoá" vẫn tìm được lối nói riêng.

Xen giữa những bài thơ lục bát viết về quê hương về những kỉ niệm chiến tranh về cuộc sống đời thường...bài thơ "Phút bình yên Văn Miếu" lại như một thể nghiệm của tác giả về một đề tài "hiện đại" lấy cái lục bát truyền thống làm cầu nối hoà bình. Nhà thơ gặp một nhà thơ Mỹ gốc Việt vốn là cựu chiến binh từng là "hai thằng lính trận thuở nào choảng nhau" giờ "Duyên thơ nối nhịp ân tình" lần đầu tiên tại Đại lễ hội Thơ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội họ đã gặp nhau: "Vào nơi trọng dụng hiền tài/ Qua Khuê Văn các sánh vai cùng người". Vượt qua giông bão trăm miền những người lính ở hai chiến tuyến đã gặp nhau ở Văn Miếu Quốc Tử Giám sống "những phút bình yên diệu kì".

Thật tiếc nếu không nói đến mảng thơ tình yêu trong thơ lục bát Trịnh Anh Đạt trong đó có bài thơ về một nữ cựu chiến binh anh gặp ở quê Lèn. Không rõ có hẹn hò gì không hay chỉ là lời mời xã giao của người nữ cựu chiến binh ấy mà nhà thơ cứ qua lại trước dãy chung cư nhìn vào cánh cửa phòng cô khép hờ. Nhà thơ phân vân vì thấy chưa có cơ sở gì: "Đò Lèn xông xổng gió lùa/ Triền đê cỏ ấm lời lưa thưa nồng". Lời lưa thưa tức là chưa có gì mặn mà thân thiết đễn mức tự nhiên được rồi tất cả chỉ dừng lại ở đó: "Không qua nổi bước ngập ngừng/ Lòng ai then đóng giữa lưng lửng lòng/ Gió vò nhàu nát mặt sông/ Mối mai mòn mỏi miền mông mênh mờ" và anh buột tiếng thở dài:"Lách qua khe cửa khép hờ/ Gió trăng thuở ấy đến giờ vẫn suông".

Có thể còn dẫn ra nhiều câu thơ hay của Trịnh Anh Đạt ngay cả bài thơ "Màu thương thớ" viết về cô TNXP anh gặp nơi cửa Phật - một đề tài gần gặn với đề tài trên anh có những câu thơ thật ân tình nhưng nghe sao đắng đót: "Hàm răng khoé mắt ấy ơi/ Nhẽ nào làm ánh sao rơi sân chùa/ Em như taó rụng cuối mùa/ Héo lăn lóc giữa chát chua chợ người...Trường Sơn khuyết một lần trăng/ Mãi còn cánh võng xanh giăng giăng chờ"...Tình yêu trong thơ Trịnh Anh Đạt đúng hơn là tình yêu thương đồng đội sự cảm thông và chia sẻ với những phận người.

Thơ lục bát Trịnh Anh Đạt dung dị chặt chẽ trong câu chữ tinh tế trong lựa chọn hình ảnh liên tưởng đến tục ngữ ca dao các điển tích lời hát dân gian.... Điều đáng ghi nhận là việc anh đưa vào thơ lục bát các điệp âm các từ láy từ ghép đặt ở chữ thứ sáu của câu tám (Mối mai mòn mỏi miền mông mênh mờ; Hương nghèn nghẹn thoảng giữa rưng rưng chiều...) đã làm tăng hiệu quả nội dung diễn đạt tạo ấn tượng với người đọc và làm cho thơ lục bát Trịnh Anh Đạt có sắc thái riêng. Tuy nhiên ưu điểm này cũng là hạn chế khi anh quá lạm dùng hoặc đặt nó không đúng chỗ như những lời nói thường dễ gây nhàm chán (Mắc nơi biển cạn đã heo héo rồi...).

Giữa ồn ã của đổi mới thơ nhiều hình thức thể nghiệm mà thành công chưa thể khẳng định thì Trịnh Anh Đạt bằng việc sử dụng và nâng cao chất lượng từ thể thơ lục bát một thể thơ truyền thống làm ta vui và tin vào con đường thơ của anh. Chúc anh tiếp tục có những bài thơ lục bát hay làm rung động lòng người.

TRỊNH NGỌC DỰ

More...

Gặp ở Mã Pì Lèng

By HOÀI KHÁNH

alt

Gặp ở Mã Pì Lèng

Đường ngược bao dốc đá

Vai chạm vào tầng mây

Dưới chân sông Nho Quế

Nhỏ như một sợi dây

 

Không gặp suối gặp cây

Chỉ giăng giăng những núi

Chợt nghe thấy đâu đây

Xanh tiếng cười con gái

 

Váy xập xòe hoa cải

Gió cao nguyên tuềnh toàng

Người Mông đứng hiên ngang

Chân đóng đinh vào núi

 

Công trường như chảo rang

Con đường dài thêm mãi

Từng vách đá xô nghiêng

Trước vòm ngực con gái

 

Dăm câu thơ ngây dại

Bỗng thành thứ bông phèng

Xin cho tôi dừng lại

Cúi chào Mã Pì Lèng.

Hà Giang 27-11-2009

HOÀI KHÁNH

More...

Mai Văn Phấn với Bầu trời không mái che

By HOÀI KHÁNH

Mai Văn Phấn với Bầu trời không mái che

Tập thơ Bầu trời không mái che (NXB Hội Nhà Văn - 2010) của nhà thơ Mai Văn Phấn kịp ra mắt bạn đọc trước khi tác giả đi dự Liên hoan Thơ ca và Văn học Hàn Quốc - ASEAN vào đầu tháng 12 vừa qua. Tập thơ gồm 3 phần: Cửa Mẫu Mùa trăng Hình đám cỏ có thể coi đó là 3 tập hợp thơ 3 bài thơ dài hoặc 3 trường ca nhỏ cũng được. Với tập thơ này lại một lần tác giả tự đổi mới thơ mình thêm một bước tiến mới cho thơ mình. Cố gắng tạo cho mình một sự bứt khỏi vết mòn xưa cũ Mai Văn Phấn tiếp tục tự vấn bằng những thôi thúc trong chính sự hoảng loạn. Là một nhà thơ tiên phong cho việc cách tân thi ca trong cả nội dung và hình thức qua những ngôn từ lạ và nền tảng xúc cảm có bề dày Mai Văn Phấn hi vọng mang đến cho bạn đọc yêu thơ có thêm một giọng điệu mới một bầu không khí mới.

Tập thơ Bầu trời không mái che vẫn làm nổi rõ giọng điệu riêng của Mai Văn Phấn một nhà thơ Hải Phòng đủ dũng khí nhận chân bản ngã phủ định cái cũ ở chính mình mà vẫn giữ được hồn cốt của riêng anh. Mai Văn Phấn thường quan niệm dù có cách tân thi ca đến đâu thì vẫn phải hướng con người vươn tới cái cao đẹp. Chỉ bằng sự giản dị mà nói được những vấn đề lớn lao và mới mẻ - đó là điều mà tác giả mong đợi từ tập thơ này. Anh đã làm được khá nhiều trong suốt cả 3 phần thơ.

HOÀI KHÁNH

Blog Hoài Khánh xin giới thiệu một phần nhỏ trong tập thơ này:

Hình đám cỏ

Nhịp II

 

Tin nhắn hiển thị

Sáng ô cửa nhỏ

 

Trời xanh mưa nắng phía sau

Nỗi lo toan không thấy được

 

Thời khắc đầu ngày

Vẽ chân trời rẻ quạt

Mỗi vệt sáng ghi nhớ từng việc

Em ẩn sau chiếc quạt khổng lồ

 

Lá khô rụng xuống

Cơn giông cuối chiều ập đến

Mở đường chim bay

 

*

 

Tiếng em vọng ai quàng lên chiếc khăn ấm nhẹ

Chạm vào anh thuở khờ dại xưa

Ngắt bông hoa kẹp vào trang sách

Chim non vươn trên thành tổ

Chênh vênh vòm lá treo mưa

 

Em cười nói hồn nhiên trẻ nhỏ

Lất phất mưa anh phờ phạc ưu tư

 

*

 

Lặng lẽ một mình đan ngón tay

Không cho ánh sáng đi qua

Không cho gió đi qua

 

Ở đây không nắng và gió

Càng khủng khiếp nép vào tĩnh lặng

 

Anh thành hạt đậu mũi kim

Chiếc đũa lẻ loi

 

Trên kia có thể trời vẫn cao

Mây trôi nhanh và nắng

Chiếc khăn lượn lờ 

Vô tình từ cửa sổ ngôi nhà

Chim bay qua từng đàn

 

Gọi tên em anh khẽ gọi

Ngọn khói lên từ một mái nhà

Giữa rừng lặng thinh không gió

 

*

 

Chiếc bút trên bàn. Khi dọn dẹp vẫn muốn để lại. Cầm bút thư giãn vừa lạ vừa quen. Quản bút nhẵn ngón tay cầm. Đôi khi tháo ruột bút xem (phải tháo trộm vì hành vi quái đản). Mở nắp bút như bật cánh cửa cậy nắp hầm tối... Cảm giác chợt thức chợt mở mắt. Muốn tháo nắp bút một nơi. Nắp bút để trên thân bút bên phải hay ở dưới. Cả ngược lại.

 

Mở...

Lắp...

Lắp... mở...

Lắp lại...

Cây bút ngay ngắn bình yên

 

*

 

Tựa lan can tàu tưởng tượng

Cùng em đang bay rất gần

Lưng mềm tóc xoã hất ngược

 

Dặn chiếc túi nhỏ anh mang

Có đồ ăn và chai nước uống

 

Con tàu lướt trên ngọn sóng

Anh muốn em bay cao hơn

 

Khi xa tít một cánh chim

Anh bình tĩnh nhấp ngụm nước nhỏ

 

Biển rộng hơn

Em chao liệng xa

Bé tí ti làm anh nheo mắt

 

Sóng cuộn trước mũi tàu anh từng cột nước

 

*

 

Thanh thản uống trà

Nắng sáng màu hoa nâu ve áo

Chân em co duỗi nền gạch ô vuông

 

Mở không gian hương trà thơm

Từ cánh tay ngấn cổ

Móng chân sơn đậm màu trà

 

Nhắc anh hãy nhấp

Chậm từng ngụm

Thấy vạt chè lên xanh buổi sớm

Búp chè se lại

Từng nóc nhà đỉnh núi đội sương lên

Mây trắng đến quấn quanh ý nghĩ

 

Anh uống gần cạn ly trà

Chỉ vơ vẩn hình dung mây trắng

Gương mặt em ẩn hiện

Rạng rỡ lo âu

Hạnh phúc và em...

 

Chén trà ngon anh thêm minh mẫn

Dù đã uống cả làn mây trắng

Vẫn móng chân màu trà ẩn hiện bay qua

 

*

 

Thầm thì lời vô nghĩa

Luôn thấu hiểu nghe rõ

Trời xanh chân cỏ

 

Đất đai mỡ mầu

Em bóng tối

Lần tìm từng ngón chân anh

 

*

 

Hơi thở truyền nóng điện thoại giây lát hỏi anh ăn sáng chưa đang làm gì nhớ ngồi ngay ngắn. Anh trả lời bâng quơ đặt tay lên bàn. Tiếng em rì rầm. Quạt để tốc độ nhỏ thổi gió khắp phòng. Bàn rộng. Cánh cửa hẹp. Đưa tay có thể chạm đồ vật bất kỳ. Lọ hoa sáng nay đang tươi trở lại. Tiếng em vọng từ bông hoa phớt tím cánh lá nhỏ vây quanh. Anh nghe em cất đi cuốn sách.

 

Chiếc bút và đồng hồ tự trôi...

 

*

 

Muốn dừng lại bên đường

Nằm lên cỏ

Trời cao mong leo lên cây

Nhìn xuống tiếc nuối cát

Thèm trộn vào cát

 

Giây phút phân vân anh bất động

 

Mặc sương sớm ùa đến

Sóng mặn và nắng ùa đến

Kéo căng anh cỗ xe ngựa phanh thây

 

Trước lúc đặt cuốn sách xuống

Như cố trấn tĩnh đợi lệnh gã đồ tể

 

Giọt nước buồn bay lên đám mây

Nghe quả trứng ấm nóng lăn qua cơ thể

Đôi sẻ nâu vội vàng giao hoan chớp mắt.

MAI VĂN PHẤN

More...

Có một đêm sông Cầu

By HOÀI KHÁNH

Có một đêm sông Cầu

Khát khao em thêm một Thái Nguyên

Bồn chồn đợi bên cầu Gia Bảy

Thổn thức tiếng trầm hùng sông chảy

Đường cong nào trong câu hát giao duyên

 

Tay cầm tay cho thành phố lên đèn

Ra bờ sông xem cát reo ngô trổ

Vùi một ngày mệt nhoài xuống cỏ

Nép vào nhau nghe nhịp thở sông Cầu

 

Giọt giọt cà phê tí tách nhỏ rất lâu

Anh nhấp đắng cả những gì vốn ngọt

Có lời rầm rì đâu đây thẽ thọt

Trăng làm thuyền trôi giữa đêm thâu

 

Vồ vập đồi cao e thẹn khe sâu

Vục xác nước mà hồn sông tan biến

Cánh hoa bèo nở hết mình dâng hiến

Cho đôi ta tím biếc với sông Cầu.

Thái Nguyên 8-4-2010

HOÀI KHÁNH

More...

Sáng tạo tinh thần cho điểm đến

By HOÀI KHÁNH

Sáng tạo tinh thần cho điểm đến

HOÀI KHÁNH: Liên hoan Thơ văn Hàn Quốc - ASEAN với chủ đề "Sáng tạo của nhà thơ châu Á tinh thần cho điểm đến" vừa được tổ chức thành công. Nhận lời mời của Ban tổ chức Liên hoan nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà thơ Mai Văn Phấn của Việt Nam đã đến Hàn Quốc tham dự Festival này từ ngày 2 đến 7-12-2010. 2 nhà thơ đã đọc thơ tham luận và giao lưu với bạn đọc xứ sở Kim Chi tại 3 thành phố Seoul Ansan và Sokcho của Hàn Quốc. Blog Hoài Khánh xin chúc mừng chuyến đi giao lưu văn học tại Hàn Quốc của 2 nhà thơ và xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nhà thơ Mai Văn Phấn cho tạp chí Thi Bình (Poem and Comment Magazine) một tập chí hàng đầu về thơ ở Hàn Quốc: Bài do Ko Hyeong Ryeol - Tổng biên tập tạp chí Thi Bình - thực hiện.

Ko Hyeong Ryeol: Chào nhà thơ Mai Văn Phấn. Trước hết xin thay mặt Ban tổ chức cảm ơn ông và nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã nhận lời tham dự Festival Thi ca và Văn học Hàn Quốc - ASEAN. Sau khi đọc kỹ các tác phẩm của ông tôi có vài điều muốn hỏi liên quan tới tinh thần chủ đạo của Festival "Sáng tạo của nhà thơ châu Á tinh thần cho điểm đến". Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ về ông hơn trước khi ông đến Hàn Quốc. Câu hỏi nhân loại trong đó có các nhà thơ đang đi về đâu? Nhà thơ anh là ai trong thế giới đương đại này là chủ đề tất cả chúng ta đang quan tâm. Vậy xin ông cho biết quan niệm riêng của ông về thơ ca?

Mai Văn Phấn: Các nhà thơ lần theo thơ ca nhằm khai mở tiếng nói mới hoặc tìm lại âm sắc thuở hoàn nguyên đã mất. Từ khi hình thành ngôn ngữ tiếng nói loài người luôn bị biến dạng vừa đào sâu vào bản chất sự vật... vừa làm chúng méo mó dị hình trong vỏ bọc ngôn ngữ. Vậy phải chăng thơ ca ngoài mục đích tải đạo tuyên truyền mô phỏng diễn tả... nó còn tìm cách đặt tên lại sự vật định hình lại thế giới. Việc sáng tạo thi ca gần giống trạng thái bàng hoàng của một đứa trẻ lần đầu được nhìn thấy những hiện tượng kỳ lạ của thiên nhiên và khám phá những bí ẩn phức tạp của con người. Một bình minh vừa rạng con sâu trong nách lá hay tiếng thở dài của một thiếu phụ... tất cả hiện lên trong thơ ca luôn tươi non mới mẻ như vừa được thấy lần đầu. Cùng một hiện tượng sự vật đời sống nhưng chúng hoàn toàn khác nhau trong cách nhìn mỗi nhà thơ. Có bao nhiêu nhà thơ là bấy nhiêu con đường đến với thi ca. Tầm vóc nhà thơ càng lớn dung chứa không gian thi ca càng rộng càng riêng biệt cũng như ảnh hưởng áp lực lên cộng đồng càng mạnh. Nó như bóng cây lớn có thể làm râm mát thảo mộc ở gần. Nhà thơ là người được chọn (tạm gọi Thượng đế chọn) được "ơn gọi" trong tinh thần của Jesus Christ gặp được "nhân duyên" trong Phật giáo. Là người được may mắn nhìn thấy một thế giới khác mang hình hài nó nhưng không phải nó. Gọi tên vẻ đẹp cụ thể nhưng khó nắm bất ấy chính là lý tưởng thi ca mà nhà thơ vươn tới. Vẻ đẹp này không phải lúc nào cũng hiển hiện truớc mắt nhà thơ mà xuất hiện như một "cơ duyên" hoặc đột khởi trong những biến động tinh thần con người. Thường được ra đời trong những cơn dư chấn nên nhiều người đã lầm tưởng thơ ca chính là lòng phẫn nộ nỗi tuyệt vọng hay sự quá khích của hưng phấn. Tất cả đều nhầm lẫn và ngộ nhận. Mọi trạng thái tình cảm con người như mừng giận yêu ghét buồn vui muốn... đều là cái cớ cho thi ca chứ hoàn toàn không phải mục đích. Mục đích của thi ca là tạo lập một từ trường để trong không gian đặc biệt ấy tất cả từ đồ vật đến linh hồn đều được cất tiếng nói được công bằng như nhau trong một trật tự mới. Những hình ảnh hiện lên trong không gian ấy là cánh cửa mở ra tương lại hoặc tìm về với quá khứ hoặc tất cả cùng đồng hiện và đồng hành trong những thời khắc đặc biệt.

Ko Hyeong Ryeol: Trong tham luận gửi tới Ban tổ chức Festival ông có nêu khái niệm "sáng tạo là phủ định bản ngã một cuộc vong thân". Vậy xin ông nói rõ hơn về tính phủ định trong nghệ thuật thi ca?

Mai Văn Phấn: Sáng tạo của nhà thơ hoàn toàn khác với sáng tạo của một nghệ nhân hay người thợ thủ công. Bài thơ vừa viết tôi quan niệm không thuộc về tôi nữa mà thuộc về người khác về đám đông. Với bài thơ này nhà thơ đã hoàn thành sứ mệnh xin hãy coi như anh ta đã chết. Nhà thơ muốn tiếp tục tồn tại phải được tái sinh trong một bài thơ khác đang chờ đợi phía chân trời. Đó là cuộc lột xác khác thêm một lần lên đường một cú nhảy vượt thoát... Muốn thực hiện được hành trình tiếp theo nhà thơ phải nhìn thấy lý tưởng thi ca tức ánh sáng vừa mơ hồ vừa minh bạch đang soi rọi phía trước. Và nhà thơ tư duy và cảm xúc bằng ánh sáng đặc biệt đó. Do vậy những hình ảnh tưởng chừng quá quen thuộc từ bóng mây bước chân trảng cỏ... đến những đồ vật vẫn dùng như bàn ghế bát đũa sách vở... khi tái hiện trong thơ ca nó được mang một tinh thần khác tạo nên một thế giới khác.

Ko Hyeong Ryeol: Trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Poetry Kit của Anh Quốc quốc ông có nói: "Bằng những quan niệm tiên tiến đổi mới quyết liệt trong cách tiếp cận vấn đề hoà đồng với hơi thở của đời sống đương đại mỗi nhà thơ như vậy đều có trách nhiệm làm phong phú tính truyền thống". Ông đồng thời cũng nhấn mạnh quan hệ giữa nội dung và hình thức. Vậy ông đã tìm được nội dung và hình thức mới cho mình chưa?

Mai Văn Phấn: Đổi mới thi pháp không phải như thay đổi mẫu mốt hay thay bình cho rượu mà chính là "cuộc cách mạng" giữa nội dung và hình thức. Trong thi ca hiện thực đời sống đ­ược viết đi viết lại nhiều lần như­ng vẫn giữ nguyên nội dung thì đó mới là dạng chất liệu. Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức đ­ược xác định và hình thức không bao giờ tồn tại độc lập với nội dung của chính nó. Hình thức được chuyển hoá thành nội dung đó mới là đổi mới thực sự. Nội dung mới trong thơ tôi là những quan tâm mang tính thời đại và thời sự như lý tưởng sống của thế hệ trẻ vấn đề ý thức hệ quan niệm về tự do công bằng dân chủ... Tôi đau đáu và trăn trở về đời sống khổ cực của những người dân nghèo đói khao khát cho dân tộc tôi không thua kém bất kỳ dân tộc nào. Nội dung ấy phải được dung chứa trong hình thức mới của thi ca. Hình thức mới ấy nằm trong nhịp điệu tiết tấu nhanh trong chuyển động tốc độ của đời sống hiện đại. Cách diễn đạt dứt khoát tối giản liên kết rời và xa nhau tạo cho thơ một hơi thở mới người phương Đông chúng ta quen gọi là "Khí". Theo tôi "Khí" làm nên cốt cách thi sỹ và phân biệt được các thế hệ thi ca.

Ko Hyeong Ryeol: Ông từng nói "Rất nhiều những bóng dáng đang loay hoay nằm ì trong bản năng với vẻ mặt coi thường học vấn". Vậy xin hãy giải thích thêm về  "học vấn"?

Mai Văn Phấn: Quan niệm học vấn đối với một nhà thơ không đơn giản như phải có học hàm học vị. Nhà thơ phải tự trang bị cho mình  kiến thức tổng hợp ở mọi lĩnh vực. Nhà thơ theo tôi phải là nhà văn hoá. Kiến thức văn hoá ấy lắng sâu vào nhà thơ một cách tự nhiên và tới một hoàn cảnh "hữu duyên" nào đó nó đột khởi dâng lên thành cảm xúc thi ca. Lúc ấy tứ bài thơ vụt đến bất ngờ tưởng như "của nhặt được" nhưng thực ra nó đã được tích luỹ vô tình ở đâu đó đã lâu. Một bóng cây lạ ngôi nhà lá đơn sơ một gương mặt... Tất cả tưởng như vô tình thoáng qua nhưng vào một thời khắc đặc biệt nó sẽ hiển hiện trong không gian thơ thật riêng biệt và lộng lẫy.

Ko Hyeong Ryeol: Câu thơ "The silent lamp shines even brighter" (Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ) trong bài thơ Tắm đầu năm theo tôi dường như tiêu biểu cho phong cách thơ Mai Văn Phấn. Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc "giao tranh" giữa văn xuôi theo lối "tư bản" và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Ông có nghĩ rằng sự súc tích trong những bài thơ của ông ở một mức độ nào đó phù hợp với thi ca hiện đại?

Mai Văn Phấn: Về bài thơ Tắm đầu năm của tôi nhà văn Bão Vũ đã viết: là sự tắm ánh sáng trong nỗi cô đơn chơ vơ vào một đêm đầu năm chống chếnh. Ánh đèn xối vào những góc khuất của tâm hồn làm sạch những ngóc ngách. Sự vệ sinh tâm hồn vào đêm đầu năm là sự thanh toán với quá khứ xám ngắt một sự sám hối.  Cái ánh sáng ấy cũng bồng bềnh hoài thai sắp sinh nở những điều rực rỡ mà ta đang kỳ vọng... Ngọn đèn lặng phắc càng tỏ. Trong hoàn cảnh này tôi gọi một ai đó một người bất kỳ cũng không một tiếng vang không một sự  hưởng  ứng nỗi cô đơn tột cùng. Ở đây chẳng có gì ngoài vừng sáng trong sạch và cao quý. Đúng như ông nói: Thơ hiện đại đang tìm kiếm sự vận động chống lại cuộc "giao tranh" giữa văn xuôi theo lối "tư bản" và phong cách thơ bảo vệ tính vần điệu truyền thống. Khuynh hướng cách tân của tôi là xoá nhoà ranh giới giữa văn xuôi và thi ca. Tôi đã từng thử nghiệm thành công viết nhiều bài có hình thức văn xuôi nhưng quyến rũ bạn đọc vào một không gian thơ rộng lớn và thậm phồn. Thơ hiện đại ít chú trọng vào nhịp điệu tu từ đặc biệt tránh dùng mỹ từ. Nhưng những câu văn xúc tích giản dị được đặt trong một "từ trường thơ" có sức mạnh thôi miên gấp nhiều lần những câu mang nhịp điệu quen thuộc. Những bài thơ của tôi viết theo cách này lúc đầu bị bạn đọc phản đối quyết liệt bởi họ đã quá quen với quan niệm truyền thống. Nhưng thời gian qua đi những giá trị thi ca đích thực vẫn còn đó. Những giá trị thi ca mới mẻ thậm chí xa lạ hôm nay sẽ dần chinh phục được bạn đọc và nó sẽ trầm tích thành "truyền thống". Tôi rất biết sở thích của số đông bạn đọc nhưng không bao giờ có chủ ý làm thơ để "ve vuốt" sở thích đó. Thơ tôi là ngôi nhà của riêng tôi truớc hết ai muốn vào xin hãy gõ cửa và tuân theo những nghi thức nhất định.

Ko Hyeong Ryeol: Cảm ơn ông!

KO HYEONG RYEOL (Hàn Quốc) thực hiện

More...