Hải Phòng

By HOÀI KHÁNH

HOÀI KHÁNH: Trong chuyến ra Thủ đô Hà Nội nhận giải thưởng Cuộc thi "Thơ về Hà Nội" anh Nguyễn Thánh Ngã - một blogger ở thị trấn huyện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng - đã về Hải Phòng giao lưu với một số anh chị em bloggers và sáng tác thơ của thành phố Cảng như: Quang Tuyến Đinh Thường Thái Thanh Hoài Khánh Bùi Thị Thu Hằng Trần Hồng Ánh Muối Biển Thy Nguyên ... Hẳn những ngày ở chơi Hải Phòng đã tạo ấn tượng mạnh và gợi cho anh nhiều xúc cảm để sáng tác thơ. Và bài thơ sau đây đã ra đời từ đó...

Hải Phòng

anh về có Hải Phòng đón đợi

ngời trong mưa môi phượng nở rằm

bàng hoàng sông Lấp...

 

lời phố cảng mặn môi

những hàng cây xanh thiếp ngủ

em hồn nhiên như thuở chưa chồng

nắm tay anh Cầu Rào Cầu Đất...

 

anh đi với Hải Phòng

như đi với sóng biển

xô dạt những cô đơn ầm ào vòng tay nồng ấm

nghe nhạc trong mắt em

và ngắm hoa trên môi em

 

anh thật sự yêu Hải Phòng

một mùa thu xanh lá

một trời mưa vội vã Cát Bi

một Đồ Sơn vắng lặng bờ nghiêng

 

và một em

hoa hạnh trắng trắng ngần

chỉ nở trong anh những con đường Hà Nội

 

tạm biệt em

đôi má cánh buồm

mang tình anh nói cùng biển cả...

NGUYỄN THÁNH NGÃ

More...

Thượng Hải ơi xin chào!

By HOÀI KHÁNH

Thượng Hải ơi xin chào!

Muốn tìm hiểu Trung Quốc 3.000 năm xin mời bạn hãy đến Tây An; tìm hiểu Trung Quốc 1.000 năm mời bạn đến Bắc Kinh; còn tìm hiểu Trung Quốc 100 năm thì bạn hãy đến Thượng Hải; muốn tìm hiểu Trung Quốc 30 năm bạn hãy đến với Thẩm Quyến.

Từ Bắc Kinh chúng tôi đi tàu hoả với quãng đường 1.200km trong 13 giờ liền để đến với Thượng Hải. Nghỉ một đêm trên tầu hỏa Trung Quốc cũng thật thú vị. Khoang tàu có 6 giường xếp thành 3 tầng hệt tàu khách Thống Nhất ở Việt Nam nhưng sạch sẽ thơm tho hơn nhiều. Tôi cởi áo khoác ngoài chia tay cái giá lạnh Bắc Kinh phía sau lưng uể oải trèo lên tầng 2 đặt mình nằm xuống cho đỡ mệt mỏi sau một ngày mải miết dạo bộ nơi trung tâm Thủ đô Trung Quốc. Con tàu nhằm hướng đông nam lao nhanh trong đêm. Tôi vờ nhắm mắt lại để mấy cô gái đỡ thẹn mà leo tót lên tầng giường cao nhất. Tầng trên tầng dưới toàn là những cô gái trẻ Trung Quốc. Họ là sinh viên thì phải. Tôi cố nhắm tịt mắt lại mà ngủ thế quái nào được. khi mà xung quanh mình trong khoang tàu ngoài nhạc sĩ Thế Vinh đồng hành thì toàn là những cô gái Trung Quốc da trắng chân dài thơm ngon như táo chín...

Gần 11 giờ trưa thứ sáu 5-11-2010 tàu tới ga Thượng Hải. Cô hướng dẫn viên du lịch tên là Dung đón chúng tôi ngay cửa toa tàu. Cô này cũng chân dài chứ không thấp bé như cô Phấn ở Bắc Kinh.  Chúng tôi lên xe đi qua nhiều đường phố Thượng Hải. Thượng Hải là thành phố hiện đại và lớn nhất Trung Quốc là 1 trong 4 thành phố trực thuộc trung ương. Diện tích: 6.340 km2. Dân số là 17 triệu người. Xuất phát là một làng chài hẻo lánh Thượng Hải đã trở thành một thành phố quan trọng bậc nhất. Nhờ sự cải cách mở cửa theo mô hình kinh tế thị trường do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và lãnh đạo mà đặc biệt là từ năm 1992 Thượng Hải đã có những bước bứt phá ngoạn mục về phát triển kinh tế. Có 9 quận thuộc Phố Tây khu vực Thượng Hải lâu đời nằm phía bờ tây sông Hoàng Phố. 9 quận này được gọi chung là Thượng Hải thị khu hay trung tâm thành phố: Hoàng Phố Lô Loan Từ Hối Trường Ninh Tĩnh An Phổ Đà Áp Bắc Hồng Khẩu Dương Phố.

Điểm tham quan đầu tiên của chúng tôi ở Thượng Hải là chùa Ngọc Phật. Chùa Ngọc Phật được xây dựng theo phong cách cung điện đời Tống nghiêm trang và tráng lệ với 2 pho tượng Phật bằng bạch ngọc cao 2m một là tượng Phật Thích Ca thuyết pháp và một là tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn. 2 pho tượng này được coi là báu vật của Trung Hoa. Sau đó chúng tôi vào thăm một xưởng chế tác ngjc trai và cửa hàng bán các sản phẩm bằng ngọc trai. Cái khoản này tôi không máu mê lắm vì mình không am tường và cũng chẳng mang nhiều tiền để mua sắm. Tôi lang thang theo 2 nghệ sĩ nhiếp ảnh Thanh Lãng và Lưu Quang Phổ đi ra đường phố chụp chơi mấy kiểu ảnh. Ngay chiều hôm đó chúng tôi tiếp tục rời Thượng Hải để đi ngay đến thành phố Hàng Châu mơ mọng...

Sau bữa ăn trưa tại một nhà hàng ven đường cao tốc chiều chủ nhật 7-11-2010 xe du lịch Trung Quốc lại đưa chúng tôi trở về thành phố Thượng Hải. Dẫu đường cao tốc cũng vẫn bị tắc đường như thường âu cái chuyện tắc đường đã trở nên cơm bữa của các thành phố lớn đâu chỉ có ở Việt Nam ta. Rồi xe cũng đưa chúng tôi vào nội thành Thượng Hải. Qua Khu Phố Tây xe chạy từ từ qua Đại Cầu Nam Phố - cây cầu hiện đại và dài nhất Trung Quốc bắc qua sông Hoàng Phố - để đưa chúng tôi sang tham quan Khu Phố Đông. Phố Đông là khu vực mới khai phá của Thượng Hải thuộc bờ đông sông Hoàng Phố. 8 quận của Thượng Hải bao quát các thị xã vệ tinh các vùng ngoại ô và nông thôn cách xa trung tâm thành phố: Bảo Sơn Mẫn Hàng Gia Định Kim Sơn Tùng Giang Thanh Phố Nam Hối Phụng Hiền. Một vài địa điểm văn hóa có thể thấy ở Thượng Hải ngày nay rất cổ kính và tiêu biểu thời Tam Quốc do địa điểm này nằm trong trung tâm văn hóa lịch sử của Đông Ngô (222-280). Trong thời kì Càn Long nhà Thanh Thượng Hải đã trở thành một cảng khu vực quan trọng của khu vực sông Trường Giang và sông Hoàng Phố. Tầm quan trọng của Thượng Hải tăng lên nhanh chóng vào thế kỉ 19 do vị trí chiến lược của thành phố này ở cửa sông Dương Tử khiến cho nó có vị trí lý tưởng để buôn bán với phương Tây. Thượng Hải ngày nay là thành phố phát triển và đông dân nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thượng Hải với vai trò là địa điểm của nhiều trụ sở các tập đoàn kinh tế tài chính thương mại ngân hàng và giáo dục quốc tế. Tăng trưởng GDP liên tục trong 14 năm qua đạt 2 con số. Thượng Hải là thành phố của các cao ốc các công trình công cộng khổng lồ với thiết kế hiện đại độc đáo như tháp truyền hình khách sạn nhà hát.... Khu Phố Đông là một khu đô thị mới với tốc độ xây dựng nhanh chóng khoảng hơn 10 năm và đã trở thành trung tâm mới của Thượng Hải với một rừng cao ốc. Hiện nay tòa nhà cao nhất ở Thượng hải là 101 tầng thứ nhì là 88 tầng. Đứng ở  Quảng Trường Tháp truyền hình Đông Ph­ương Minh Châu chúng tôi thỏa thích ngắm nhìn tháp truyền hình Thượng Hải cao thứ 3 thế giới. Khung cảnh thành phố với rất nhiều nhà cao chọc trời với hàng chục tầng.

Thượng Hải có điều lạ là gọi Bến nhưng không có thuyền gọi Miếu nhưng khong có nơi thờ tự. Đừng ai nghĩ rằng Bến Thượng Hải là có đông tàu thuyền. Chúng tôi ra Bến Thượng Hải bên bờ đông để ngắm nhìn bờ Phó Tây nơi còn lại đậm nét thời kì Thượng Hải là tô giới của "Bát Đại Liên Quân" trong cuộc chiến nha phiến. Chúng tôi cũng ghé vào một Công ty chế tác kĩ nghệ vàng bạc và đá quý xủa Hồng Kông đặt tại Thượng Hải.

Cuối giờ chiều xe chạy qua con đường ngầm một chiều dưới lòng sông Hoàng Phố để đưa chúng tôi trở lại khu Phố Tây. Thượng Hải hiện có 12 đôi đường ngầm qua sông Hoàng Phố như thế. Chúng tôi tự do dạo bộ và vào các cửa hiệu siêu thị để mua sắm hàng hóa trên đ­ường phố Nam Kinh. Đây là con phố dài 2 km chỉ dành cho người đi bộ có hàng trăm ngàn cửa hiệu nối tiếp nhau với đủ các loại hàng hóa. Người ta cũng có tổ chức chạy xe điện bánh hơi phục vụ khách du lịch đi tham quan con phố Nam Kinh sầm uất và chật kín người này. Giá hàng hóa ở đây rất cao không phù hợp cho những ai có mức thu nhập khiêm tốn.

Sẩm tối chúng tôi còn đến khu phố Miếu Thành Hoàng - nằm trong khu phố cổ của Thượng Hải với những cảnh quan giả sơn hữu tình mua sắm quà lưu niệm đặc sắc. Bữa ăn tối tại nhà hàng được tổ chức ngay tại đây với một món mang tên Bún Qua Cầu. Chuyện xưa kể rằng có một chàng thư sinh đang tập trung ôn luyện bút nghiên để lên kinh thi cử. Chàng phải cách li người vợ trẻ sang khu rừng yên tĩnh phía bên kia cầu để dùi mài kinh sử. Hàng ngày người vợ mang đồ ăn sang cho chồng nhưng tới nưi thì đồ ăn đã nguội ngắt. Thương chòng nàng nghĩ ra món ăn lợi dụng sự giữ nhiệt của nước xáo váng mỡ. Từ đó cô vợ chế ra cái món bún độc đáo này.

Buổi tối chúng tôi tiếp tục mua vé xuống tàu thủy tham gia chương trình du thuyền trên sông Hoàng Phố thỏa thích ngắm nhìn cảnh đẹp hai bờ Tây - Đông của thành phố Thượng Hải thật tráng lệ dưới những ánh đèn đủ màu sắc của các toà nhà cao tầng dọc hai bên bờ con sông thơ mộng này.

Sáng thứ hai 8-11-2010 dùng bữa sáng tại khách sạn xong chúng tôi lại đi sang Phố Đông vào thăm Nhà máy chế tạo kim khí Hillmann liên doanh với Đức rồi trên đường ra sân bay quốc tế Thượng Hải đã ghé vào một siêu thị và dùng cơm trưa ngay trên tầng 4 của tòa nhà này. Sau đó xe và hướng dẫn viên du lịch đưa chúng tôi ra tận sân bay đáp chuyến bay VN913 của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam lúc 15 giờ 25 phút về nước. Sân bay rất rộng lớn nằm kề bên bờ biển Hoàng Hải. Vòm nhà ga sân bay tạo hình sóng biển trông rất thanh thoát. Máy bay lăn bánh hàng nghìn mét trên đường băng rồi tăng tốc đọ động cơ mở cánh bay vút lên bầu trời xanh. Ngoài ô cửa máy bay nắng vàng thật rực rỡ. Thượng Hải ơi xin chào!

HOÀI KHÁNH

More...

Thượng Thiên Đàng hạ Tô Hàng

By HOÀI KHÁNH

Thượng Thiên Đàng hạ Tô Hàng

"Thượng Thiên Đàng hạ Tô Hàng" - câu thành ngữ Trung Quốc này ý nói: trên trời có Thiên Đàng thì ở dưới đất có Tô Châu và Hàng Châu. Hàng Châu cùng với Tô Châu được ví như Thiên Đàng ở Hạ Giới. Chiều tối thứ sáu 5-11-2010 chúng tôi từ thành phố Thượng Hải đi xe du lịch qua 150 km đường cao tốc đến thành phố Hàng Châu. Hàng Châu là thủ phủ của tỉnh Triết Giang. Hai bên đường Hàng Châu trồng cây ngô đồng làm mát. Hàng Châu có chùa Linh Ẩn là 1 trong 10 ngôi chùa đẹp và lớn nhất Trung Quốc núi Phi Lai Phong với 350 tượng Phật được chạm khắc trên vạch núi. Hàng ngàn người nườm nượp đổ về Hàng Châu vào mỗi dịp cuối tuần để được thưởng thức trà Long Tĩnh ngắm phong cảnh Tây Hồ tuyệt đẹp. Hàng Châu được mệnh danh là "thành phố lãng mạn" của Trung Quốc.

Sáng thứ bảy 6-11-2010 Miếu Nhạc Phi là điểm đến thăm đầu tiên của chúng tôi. Miếu nằm bên mặt đường nhìn sang phía Tây Hồ. Miếu Nhạc Phi là nơi thờ vị anh hùng dân tộc thời Nam Tống. Bên trong chính điện Trung Liệt Từ có tượng anh hùng Nhạc Phi đang ngồi trên tấm bảng có 4 chữ lớn: "Hoàn tội sơn hà". Bên khuôn viên phía tây của gian miếu  là phần mộ của Nhạc Phi cạnh là mộ của con trai Nhạc Phi. Phía dưới khu mộ hai bên  có rào sắt quây quanh. trong rào có 4 tượng đúc bắng sắt là 4 kẻ gian tặc đã hại chết Nhạc Phi là Tần Cối Vượng Thị Trương Tuấn Van Hầu tượng đúc theo kiểu hai tay bị khóa trái và quì trước mộ và luôn phải chịu sự sỉ vả và đánh đập của người đời. Thật giống như 2 câu đối trước mộ Nhạc Phi viết: "Thanh sơn hữu hạnh mai trung cốt bạch thiết vô cớ đức nịnh thần."

Sau đó chúng tôi ngồi thuyền thưởng ngoạn Tây Hồ - được xem là đẹp và nên thơ nhất trong hơn 36 hồ có cùng tên ở Trung Quốc nhìn ngắm Quả sơn Đoạn kiều Trường kiều Tô Đê Bạch Đê Tam Đàn Ấn Nguyệt và Hoa Cảng gắn liền với những truyền thuyết về Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài nhà thơ Lý Bạch Thanh xà - Bạch xà   Trà Hoa Viên

Trung Quốc có đến 30 hồ với tên gọi là Tây Hồ nhưng Tây Hồ ở Hàng Châu đúng là tuyệt tác vì ba mặt được bao bởi núi một mặt gần phố thị nằm ở phía tây ở thành phố Hàng Châu tỉnh Triết Giang. Tên Tây Hồ bắt đầu được gọi từ đời nhà Tống. Hình dáng của hồ gần giống hình tròndài diện tích của hồ là 6 03 km2 trong đó diện tích mặt nước  là 5 20km2  độ dài xung quanh hồ là 15 km. Đáy hồ tương đối phẳng độ sâu khoảng trên dưới 1 5m nơi sâu nhất khoảng 2 8m nơi cạn nhất không đến 1m. Trên mặt hồ có Bạch sa Tô Công Nhị Đê làm cho ặt hồ chia thành Hồ ngoài Hồ Li Hồ Nhạc Hồ Tây Lí Tiểu Lí Hồ năm bộ phận. Giữa hồ có Cô Sơn Tiểu Ngân Châu Tâm Hồ Đinh Nguyễn Công Đôn 4 đảo những dòng suối trực tiếp chảy vào Tây hồ gồm có: Kim Sa Cảng Long Hoằng Giang Trường Kiều Khê. Nơi điều tiết chặn nước chảy ra khỏi Tây Hồ có 2 đường: Cống Thành Đường nước chảy vào sông Thành Đường và ra sông Vạn Hà Cống Thống Kim chảy qua sông Vạn Sa xuống ống ngầm dưới đất sau đó chảy vào sông ngoài thành Võ Lâm Môn. Nước trong Tây Hồ xưa là vốn ăn liền với sông Tiền Đường qua eo biển cạn sau đó hồ này được dòng suối tẩy rửa sau này qua tu tạo sửa chữa bởi bàn tay con ngườivà tiếng tâm nơi đây trở nên nổi tiếng.  Có tháp Lôi Phong trong truyền thuyết Thanh xà - Bạch xà. Đi thuyền trên Tây Hồ du khách có cảm giác như mình đang là những diễn viên trong những bộ phim lịch sử kiếm hiệp Trung Quốc với Đoạn Kiều Đê Đông Pha nổi tiếng do nhà thơ Tô Đông Pha xây khi ông còn làm quan tại đây. Ngay bờ Tây Hồ trước Miếu Nhạc Phi có ngôi mộ bằng đá của anh hùng đả hổ Võ Tòng.

Xong bữa trưa chúng tôi tiếp tục lên đường đi Tô Châu. Nếu Hàng Châu là thành phố của cây xanh thì Tô Châu là thành phố của những ngôi nhà cổ. Tô Châu là một thành phố với một lịch sử lâu đời nằm ở hạ lưu sông Dương Tử và trên bờ Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô (Trung Quốc). Thành phố này nổi tiếng vì những cầu đá đẹp chùa chiền và các khu vườn được thiết kế tỉ mỉ mà ngày nay chúng đã trở thành những điểm thu hút khách du lịch. Thành phố này là một phần của Tam giác vàng thuộc Trung Quốc. Thành phố này đặc biệt nổi tiếng vì những khu vườn. Một số vườn cây cảnh cổ điển đã được UNESCO xếp loại là Di sản thế giới. Dân số: hơn 6 triệu người (trong đó dân số nội thị 2 2 triệu người) diện tích: 8.488 km². GDP trên đầu người của thành phố này đứng hàng thứ 5 trong số 659 thành phố của Trung Quốc.

Chúng tôi vào tham quan khu nhà vườn cổ Sư Tử Lâm sau đó đến chùa Hàn Sơn. Đây là ngôi chùa xây dựng từ năm 502 thời Nam Triều (nhà Lương) là 1 trong 10 ngôi chùa danh tiếng nhất Trung Hoa. Ngay cổng ngôi chùa đã khắc ghi bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Trương Kế với những câu thơ "Trăng tà tiếng quạ kêu sương/ Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ/ Thuyền ai đậu bến Cô Tô/ Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn"

Tô Châu cũng đã từng là một trung tâm quan trọng của công nghiệp sản xuất tơ lụa Trung Hoa kể từ thời kì nhà Tống (960 - 1279) cũng như tiếp tục nắm giữ vị trí nổi tiếng này trong thời gian gần đây. Sáng chủ nhật 7-11-2010 chúng tôi vào tham quan nhà máy sản xuất tơ lụa Giang Nam - nơi đây có thể mua các sản phẩm tơ lụa độc đáo về làm quà và xem biểu diễn thời trang.  Chẳng rõ người đẹp vì lụa hay lụa đẹp vì người mà những cô gái da trắng chân dài vừa đứng quầy giới thiệu sản phẩm tơ lụa khi bước lên sân khấu thời trang thực thụ như những người mẫu chuyên nghiệp...

HOÀI KHÁNH

More...

Đến Bắc Kinh thấy gì cũng... nhất!

By HOÀI KHÁNH

Đến Bắc Kinh thấy gì cũng... nhất!

5 giờ sáng thứ ba 2-11-2010 tôi cùng đoàn văn nghệ sĩ Hải Phòng lên đường ra sân bay quốc tế Nội Bài đáp chuyến bay đi Bắc Kinh lúc 10 giờ 20 phút bắt đầu chuyến đi thực tế và sáng tác tại Trung Quốc. Đoàn gồm 11 vị Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hải Phòng và 4 cán bộ Văn phòng Hội. Nhà biên kịch điện ảnh Tô Hoàng Vũ - Chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập tạp chí Cửa Biển - làm trưởng đoàn. Trong đoàn có khá nhiều người thành danh như: nhà văn Lưu Văn Khuê họa sĩ Quang Ngọc nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Long Khánh nghệ sĩ nhiếp ảnh Lưu Quang Phổ nghệ sĩ ưu tú Kim Liên v.v... Chuyến đi có sự hỗ trợ hướng dẫn của Công ti du lịch Hoa Phượng.

Lúc 14 giờ 25 phút (giờ Trung Quốc) máy bay VN900 của Hãng hàng không quốc dia Việt Nam sau hành trình hơn 3 giờ bay trên không trung từ Nam lên Bắc đã từ từ hạ cánh an toàn xuống sân bay quốc tế Bắc Kinh (Trung Quốc).

Sân bay quốc tế Bắc Kinh có số lượng hành khách rất đông. Mỗi năm có khoảng gần 50 triệu lượt khách qua sân bay quốc tế Bắc Kinh. Năm 2006 sân bay này được xếp thứ 9 trong top 10 sân bay có lượng khách đông nhất thế giới. Đây là lần đầu tiên sân bay Bắc Kinh lọt vào danh sách này. Trong ba năm liên tiếp sân bay Bắc Kinh đã duy trì số lượng hành khách tăng liên tục trên dưới 20%. Với tốc độ tăng trưởng này sân bay Bắc Kinh sẽ tiếp tục vượt qua nhiều sân bay lớn trên thế giới. Đến cuối năm 2007 sân bay Bắc Kinh vượt qua sân bay Frankfurt của Đức để đứng ở vị trí thứ 8. Năm 2008 nhân dịp tổ chức Đại hội Olympic 2008 sân bay Bắc Kinh sẽ vươn lên vị trí thứ 7 vượt qua sân bay quốc tế Charles De Gaulle ở thủ đô Paris của Pháp và không quá 10 năm nữa sẽ vượt qua vị trí thứ 4 của sân bay quốc tế ở Tokyo (Nhật Bản) để trở thành sân bay có số lượng hành khách đông nhất châu Á.

Hướng dẫn viên Trung Quốc đưa xe đến đón chúng tôi về thăm thành phố Bắc Kinh và nghỉ ngơi sau một hành trình dài 2.300 km bằng việc thưởng thức một chương trình xiếc đặc sắc độc đáo của các nghệ sĩ Trung Hoa. Đây là lần đầu tiên tôi nghỉ đêm tại một khách sạn ở Bắc Kinh.

Sáng hôm qua thứ tư 3-11-2010 chúng tôi lên thăm Vạn Lí Trường Thành. Công trình này thực sự là niềm kiêu hãnh của dân tộc Trung Hoa. Vạn Lí Trường Thành (có nghĩa là "Thành dài vạn Lí) là bức tường thành nổi tiếng của Trung Quốc liên tục được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỉ 5 trước Công nguyên cho tới thế kỉ 16 để bảo vệ Đế quốc Trung Quốc khỏi những cuộc tấn công của người Mông Cổ người Turk và những bộ tộc du mục khác đến từ những vùng hiện thuộc Mông Cổ và Mãn Châu. Một số đoạn tường thành được xây dựng từ thế kỉ 5 trước Công nguyên trong đó nổi tiếng nhất là phần tường thành do Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc là Tần Thủy Hoàng ra lệnh xây từ năm 220 trước Công nguyên đến năm 200 trước Công nguyên nằm ở phía bắc xa hơn phần Vạn Lí Trường Thành hiện nay của Trung Quốc xây dưới thời nhà Minh và hiện chỉ còn sót lại ít di tích. Bức thành trải dài 6.352 km từ Sơn Hải Quan trên bờ biển Bột Hải ở phía đông tại giới hạn giữa Trung Quốc bản thổ ("đất Trung Quốc gốc") và Mãn Châu tới Lop Nur ở phần phía đông nam Khu tự trị người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương.

Bức tường thành nằm trong các danh sách "Bảy kỳ quan thời Trung cổ của thế giới" tất nhiên nó không nằm trong danh sách truyền thống Bảy kì quan thế giới mà người Hi Lạp cổ đại công nhận. Bức tường thành trở thành Di sản thế giới của UNESCO năm 1987. Người Trung Quốc có câu nói "Bất đáo Trường Thành phi hảo hán" đã được khắc bia tại Trường Thành.

Buổi chiều chúng tôi đến Thập Tam Lăng. Đây là quần thể lăng mộ 13 vua đời Minh (1368 - 1644) nằm cách Bắc Kinh 50 km về phía tây bắc. Thập Tam Lăng được xây dựng từ năm 1409 cho đến 1644 rộng trên 40 km vuông với tường thành bao bọc dài 40 km. Mỗi lăng mộ toạ lạc trên một gò cao và nối với lăng mộ khác bằng lối đi gọi là "thần đạo". Hai bên thần đạo có hai hàng tượng lính gác lạc đà voi và quái thú bằng đá để canh giữ lăng. Cổng đá vào lăng xây năm 1540 cao 14 mét và rộng 19 mét. Thập Tam Lăng được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào năm 2003.

Di Hòa Viên có nghĩa là "vườn nuôi dưỡng sự ôn hòa" là cung điện mùa hè nguy nga tráng lệ của Từ Hi Thái Hậu là một cung điện được xây dựng từ thời nhà Thanh nằm cách Bắc Kinh 15 km về hướng tây bắc. Di Hòa Viên rộng khoảng 290 héc-ta trong đó ba phần tư diện tích là mặt nước. Đây là khu vui chơi giải trí nổi tiếng dành riêng cho hoàng gia của các triều đại Trung Hoa. Di Hòa Viên đến nay vẫn còn được bảo tồn tốt. Nơi đây nổi tiếng về nghệ thuật hoa viên truyền thống của Trung Quốc.

Di Hòa Viên có lịch sử tồn tại trên 800 năm với nhiều tên gọi khác nhau. Khu công viên này được hình thành từ triều Kim (1115 - 1234). Tại đây các vị hoàng đế nhà Kim đã dựng lên vô số những hành cung nguy nga và những khu giải trí cực kì xa xỉ. Từ đó các triều đại tiếp nối nhau xây thêm nhiều công trình hoành tráng khác. Đầu đời nhà Tấn một cung điện tên là Kim Sơn Cung đã được xây dựng tại nơi mà ngày nay là Di Hòa Viên. Đến đời vua Càn Long (1736 - 1796) nhà Thanh quy mô khu công viên không những đã mở rộng một cách đáng kể mà còn được xây thêm nhiều công trình mới và đổi tên là Thanh Ý Viên. Năm 1750 vua Càn Long xây Thanh Y Viên tại khu vực này để mừng sinh nhật mẹ. Năm 1860 trong Chiến tranh Nha Phiến liên quân Anh - Pháp tấn công Bắc Kinh đã tràn vào đây cướp bóc đốt phá khiến Thanh Ý Viên tan hoang. 28 năm sau năm 1888 Từ Hi Thái Hậu đã lấy 500 vạn lạng bạc từ vốn dùng để hiện đại hóa hải quân ra để trùng tu lại Thanh Ý Viên trong vòng 10 năm thành một công viên tráng lệ và đổi tên là Di Hòa Viên. Năm 1900 trong loạn Quyền Phỉ liên quân 8 nước lại phá hoại hoa viên lần nữa. Khi Từ Hi hồi cung tại Bắc Kinh năm 1903 bà cho đại trùng tu hoa viên. Di Hòa Viên ngày nay chính là những gì được tạo ra từ lần trùng tu này.

Hai cảnh nổi bật ở Di Hòa Viên là Vạn Thọ Sơn và hồ Côn Minh. Hoa viên rộng 294 mẫu trong đó diện tích hồ chiếm 220 mẫu. Vườn chia làm ba khu vực: khu hành chính (chủ yếu là Nhân Thọ Điện - nơi Từ Hi tiếp các quan lại và giải quyết quốc sự) khu nghỉ ngơi (gồm các điện và vườn hoa) và khu phong cảnh.

Nổi bật ở chính khu trung tâm là Phật Hương Các một ngôi chùa nhiều tầng nguy nga lộng lẫy nằm trong khu Vạn Thọ Sơn nơi để Từ Hi niệm Phật. Dưới chân Vạn Thọ Sơn là hồ Côn Minh bao la gợn sóng. Một bến thuyền có hình dáng là một chiếc thuyền làm bằng đá nhô ra mặt hồ ngay dưới Phật Hương Các là nơi đón du khách lên thuyền dạo trên hồ. Men theo bờ hồ là một dãy hành lang dài 728 mét gồm nhiều gian mỗi gian được kiến trúc khác nhau với những hình vẽ vô cùng tinh xảo mang đậm nét nghệ thuật Trung Hoa... Giữa hồ Côn Minh là hòn đảo nhỏ được nối với bờ bằng một chiếc cầu vồng làm bằng đá gồm 77 nhịp có tên là Thập Thất Khổng Kiều. Cho tới ngày nay Di Hòa Viên vẫn được coi là một trong những công viên đẹp nhất thế giới. Nơi đây còn được coi là một kiệt tác về kiến trúc mà người ta đồn rằng toàn bộ khuôn viên của Di Hòa Viên đã được xây dựng theo bố cục rất chặt chẽ về mặt phong thủy thể hiện ý tưởng Phúc Lộc Thọ theo một mật chỉ của Từ Hi Thái Hậu.

Lại thêm một đêm nghỉ tại khách sạn ở Thủ đô Trung Quốc.

Sáng hôm nay thứ năm 4-11-2010 chúng tôi tham quan lầu Đức Thắng Môn Đây còn được gọi là lầu phong thủy ở Bắc Kinh. Nơi đây có đặt một con Kỳ Hươu bằng đá trắng có niên thọ gần 600 năm. Trong lịch sử mỗi lần hoàng đế Mãn Thanh duyệt binh ra trận đều ở đến thỉnh Kỳ Hươu bảo hộ (cờ xuất trận của Hoàng đế Mãn Thanh có thêu hình Kỳ Hươu ở đuôi cờ. trong lịch sử 600 năm của Kỳ Hươu tại lầu Đức Thắng Môn có 2 sự kiện lớn: vua Sùng Chinh mất nhà Minh về tay nhà Thanh do bị gián điệp của Mãn Châu lừa xoay ngược lại hướng của Kỳ Hươu. Năm 1989 trong quá trình trùng tu lầu Đức Thắng do sơ ý nên công nhân đã làm đổ con Kỳ Hươu này và bị mẻ một miếng lớn ở cánh và năm 89 đã xảy ra một biến cố chính trị rúng động toàn nước Trung Hoa đó là biến cố Thiên An Môn.

Kết hợp dạo thăm những khu phố cổ kính và những khu phố hiện đại đang phát triển mạnh mẽ của Bắc Kinh chúng tôi còn lần lượt ghé vào tìm hiểu và mua sắm những sản phẩm độc đáo ở cửa hàng Ngọc Thạch thư giãn và thưởng thức các loại trà nổi tiếng Trung Hoa như Trà Long Tỉnh Trà Ô long.. tại quán trà đạo Dr Tea kiểm tra sức khoẻ miễn phí và mua thuốc Tổng công ti bào chế thuốc Đồng Nhân Đường - nơi quay bộ phim "Danh gia vọng tộc" nổi tiếng.- có lịch sử trên 300 năm thăm xưởng sản xuất đồ sứ Cảnh Thái Lam.

Buổi chiều chúng tôi vào thăm Cố Cung nguy nga tráng lệ được xây dựng năm 1406 trên diện tích 72 hec-ta. Cố Cung - còn gọi là Tử Cấm Thành là nơi ngự trị của 24 đời vua của nhà Minh và nhà Thanh - hai triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc. Cố Cung có 9999 5 gian điện cổ kính. Cố Cung nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh. Viện bảo tàng nằm trong Cố Cung được gọi là Viện bảo tàng Cố Cung gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó UNESCO đã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và vào năm 1987 được công nhận là Di sản thế giới tại Trung Quốc với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương. Tử Cấm Thành được Hoàng Thành bao bọc xung quanh. Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại phía nam quảng trường Thiên An Môn.

Rời Từ Tử Cấm Thành chúng tôi theo đường hầm sang qua ssaji lộ Tràng An sang phía Quảng trường Thiên An Môn. Nơi đây được coi là quảng trường lớn nhất thế giới rộng hơn 44 hec-ta nổi tiếng với nhiều sự kiện lịch sử. Quảng trường được đặt tên theo Thiên An Môn cổng thành phía bắc của Tử Cấm Thành. Có thể coi đây là nơi tượng trưng trung tâm chính trị của Trung Quốc với Đại Lễ Đường Lăng Mao Chủ tịch Đài tưởng niệm Liệt sĩ. Quảng trường được xây vào năm 1417 với chiều dài 880 mét theo hướng nam - bắc và chiều rộng 500 mét theo hướng đông - tây. Thời xưa nó mang tên là quảng trường Thừa Thiên Môn. Trong năm  1651 đời nhà Thanh cổng nó được tu bổ và đổi tên như bây giờ. Trong đời nhà Minh và nhà Thanh tại Thiên An Môn không có quảng trường mà ở khu vực này chỉ là các cơ sở của triều đình. Trong cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn khu này bị thiệt hại nhiều và đã được dẹp bỏ để tạo ra quảng trường như ngày nay. Trong năm 1949 nó được nới rộng ra bằng bây giờ. Ở giữa quảng trường có Đài tưởng niệm Anh hùng Nhân dân và Lăng Mao Trạch Đông. Quảng trường nằm ở giữa hai cổng đồ sộ cổ xưa phía bắc là Thiên An Môn và phía nam là Tiền Môn. Dọc theo phía tây quảng trường là Đại lễ đường Nhân dân. Dọc theo phía đông là Viện bảo tàng Lịch sử Trung Hoa. Đại lộ Trường An nằm giữa Thiên An Môn và quảng trường được dùng trong các cuộc diễn hành. Dọc theo lề phía đông và phía tây quảng trường có cây cối nhưng trong quảng trường thì phong quang thoáng rộng. Về ban đêm quảng trường được chiếu sáng bởi những cây cột đèn lớn. Khu vực này có đặt máy thu hình theo dõi có cảnh sát mặc đồng phục bà nhân viên an ninh giám sát chặt chẽ. Quảng trường Thiên An Môn là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị như: việc Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 1 tháng 10 năm 1949 và các buổi mít tinh trong thời kì Cách mạng Văn hóa. Nó cũng là nơi xảy ra nhiều phong trào phản đối trong đó có Phong trào Ngũ Tứ (1919) đòi khoa học và dân chủ các cuộc biểu tình trong 1976 sau cái chết của Chu Ân Lai và các cuộc biểu tình đòi dân chủ năm 1989.

Thật thú vị khi bữa ăn trưa hôm nay chúng tôi được thưởng thức món đặc sản vịt quay Bắc Kinh ngay tại Bắc Kinh.

Ăn tối xong lúc 22 giờ 40 phút chúng tôi ra ga Bắc Kinh đáp tàu hoả đi tới Thượng Hải. Nhà ga Bắc Kinh cực kì rộng hiên đại và lớn. Cảnh nhà ga Bắc Kinh quá ngọt ngạt hành khách đợi tàu cũng chen lấn xô đẩy chẳng khác gì như các ga xe lửa Việt Nam. Ròi thì tôi cũng lên được toa số 6 chuyến tốc hành Bắc Kinh - Thượng Hải. Chuyến tàu bắt đầu chuyển bánh cất tiếng còi dài thay chúng tôi nói lời chào tạm biệt Bắc Kinh.

HOÀI KHÁNH

More...

Những câu thơ không chịu lụi tàn

By HOÀI KHÁNH

HOÀI KHÁNH: Sau một thời gian dài ốm đau nhà thơ Trần Công Hữu đã tạ thế hồi 17 giờ 5 phút ngày thứ năm 28-10-2010 tức ngày 21 tháng 9 năm Canh Dần hưởng thọ 82 tuổi.

Nhà thơ Trần Công Hữu sinh ngày 1 tháng 12 năm 1929 tại quê gốc ở tỉnh Thái Bình. Ông từng là xã viên Hwjp tác xã Thủ công Mĩ nghệ sau đó nghỉ hưu. Ông thường trú tại căn gác nhr số 44 phố Nguyễn Đức Cảnh phường An Biên quận Lê Chân thành phố Hải Phòng. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Hải Phòng từ năm 1994.

Nhà thơ Trần Công Hữu đã xuất bản 3 tập thơ: Chú bồ câu ra ràng (thơ thiếu nhi in chung) Tiếng hát qua phố nhỏ (thơ) Những năm tháng ấy Hải Phòng... (trường ca). Ông được trao tặng Kỉ niệm chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Lễ viếng nhà thơ Trần Công Hữu từ 14 giờ 30 phút thứ sáu ngày 29-10-2010 tại Nhà tang lễ Quân khu Ba số 22 phố Bén Bính - Hải Phòng. Truy điệu và đưa tang hồi 8 giờ thứ bảy ngày 30-10-2010. An táng tại Nghĩa trang Ninh Hải - Hải Phòng.

Hoài Khánh xin trân trọng gửi lời chia buồn sâu sắc tới tang quyến và xin giới thiệu một bài viết nhỏ về nhà thơ Trần Công Hữu.

Những câu thơ không chịu lụi tàn

Khi tôi cùng nhà thơ Tất Hanh đến thăm nhà thơ Trần Công Hữu tại căn gác nhỏ của ông trên đường Nguyễn Đức Cảnh tôi đã gặp một ông già với mái tóc và chùm râu đã bạc gần hết. Hơi thở của nhà thơ đã khá nặng nề trong cái không khí ngột ngạt của căn phòng chật chội sực nức mùi nhựa của những bao tải đồ chơi trẻ em chất la liệt quanh chỗ ông nằm.

Ông giải thích rằng đó là hàng của người em gái gửi các cháu đều tất bật với việc mưu sinh gần đó nên gửi hàng trong căn phòng của ông là tiện nhất. Ông không có vợ con lại ít giao du nên tuy đồ đạc lềnh kềnh đôi chút nhưng ông bảo ông đâu có cần gì nhiều nhặn có chỗ đặt lưng có chiếc bàn nhỏ để viết và hai chiếc ghế đẩu tiếp dăm ba người bạn văn chương là đủ với ông rồi.

Trần Công Hữu viết là để quên mình có người chê ông không viết lên sự thật giọng thơ chỉ toàn những ngợi ca nhưng liệu họ có hiểu rằng ông đang ở dưới tận cùng của tuyệt vọng tận cùng của thương yêu thì mới viết lên những điều tốt đẹp ca ngợi cuộc sống này.

Sắp bước sang tuổi 80 nhà thơ Trần Công Hữu chỉ còn một mong muốn duy nhất là có được sức khỏe để sáng tác. Bữa ăn của ông càng ngày càng đơn giản hơn vì ông không còn ăn được nhiều. Ông lại luôn giữ cho mình lòng tự trọng không muốn phiền lụy đến ai nên cuộc sống thực sự của ông như thế nào đời sống tinh thần ra sao sức khoẻ có gì trầm trọng không thì chỉ có mình ông biết mình ông lặng lẽ chịu đựng để đi nốt những ngày tháng còn lại của đời mình. Trường ca Những năm tháng ấy - Hải Phòng... là một khúc tráng ca ngợi ca thành phố về sức sống quật cường của những con người cần lao đã chiến đấu bảo vệ và dựng xây thành phố.

Căn gác nhỏ ấy còn một ông già cô đơn và những câu thơ đang cố níu bám cuộc đời bằng một niềm khát khao cháy bỏng!

PHẠM VÂN ANH

More...

Cô gái dạt vào chòi cá

By HOÀI KHÁNH

Cô gái dạt vào chòi cá

Đầm cá rộng mênh mông dễ đến năm chục mẫu chạy dài từ cuối khu dân cư đến sát tận hàng rào sân bay nghe nói vẫn nằm trong dự án treo nên dù khu này đã nhập vào nội thành nhưng mấy năm nay vẫn còn nguyên trạng. Thế là hắn gắn bó với cái chòi canh đầm này cũng đã hơn một năm kể từ ngày vợ hắn xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Cùi cũi một mình đêm ngủ ngày đi dọn tạp cho cá ăn hắn rất ít khi về quê dẫu lúc nào cũng nhớ vợ nhớ con đến nẫu gan nẫu ruột.

Đêm nay hắn nằm trân trân nhìn lên mái chòi đã tu cạn cả cốc rượu đầy mà đôi mắt trống tễnh vẫn không chịu khép lại. Hắn nhổm dậy vơ lấy chai rượu định rót tiếp thì rượu cũng chỉ còn một tợp. Bực mình hắn văng mạnh ra xa một tiếng "tõm" vang lên giữa đầm hoang vắng ngắt những con cá ngủ đêm hốt hoảng phóng loạn xạ. Trước mặt hắn mênh mông một khoảng không kìn kịt thỉnh thoảng mới gợn lên vài vệt sáng mờ nhạt phản chiếu từ ánh sao hiếm hoi vừa thoát khỏi đám mây đen. Ngồi tệt mông bên bờ đầm mặc cho những con muỗi đói bâu vào hút căng bụng máu. Một lúc lâu rồi hắn đứng dậy vào trong chòi lật tấm phản lên móc bọc tiền gói trong giấy báo phía dưới chẳng cần đếm hắn rút lấy một tập rồi khật khưỡng bước đi. Tiền bán vợ đấy mà giờ còn gì nữa mà thương tiếc... cứ tự nhủ như thế hắn või või men theo bờ đầm hướng vào trong phố rồi cũng đến một quán bar đêm. Quãng đường ấy vào ban ngày hắn phải mất một "cuốc" xe ôm nhưng không hiểu sao lúc này hắn lại đi nhanh thế vì buồn vì khát rượu hay vì cả hai?

Quán bar không còn nhiều khách chỉ có vài đôi đang quấn ép lấy nhau trong góc khuất tiếng rít nước bọt rộn nhiều hơn tiếng uống rượu. Ở trên quầy mấy cô tiếp viên hớ hênh ngồi phơi đùi chợt giật mình nhìn ra thấy bộ dạng nhếch nhác của hắn một cô nói khẽ: "Lại một thằng bét rượu bị vợ đuổi..." một cô khác lầm bầm: "Chắc lại mò đi xóc đĩa về làm đếch gì còn tiền mà vào đây!"... Không cô nào chịu đứng dậy đón khách hắn ngồi đợi mãi bèn lè nhè: "Có loại rượu nào nặng không...!". Mấy cô đưa đẩy nhau rồi một cô mạnh bạo hỏi: "Uống rượu gì nặng thì nhiều chỉ sợ tiền không nhiều thôi!". Hắn cảm thấy nóng gáy vỗ tay vào túi quần lập tức thái độ mấy cô tiếp viên thay đổi cô lấy  rượu cô với khăn tranh nhau sán lại.

Hai ba tấm thân nóng hổi lả lơi ôm rịt lấy hắn những bàn tay đứa mân mê ở trên đứa sờ vuốt phía dưới khiến hắn có cảm giác râm ran. Giá như là lúc khác... còn bây giờ hắn đâu có tâm trạng nào mà tần mần hắn cầm cả chai vốt-ca Nga vừa tu vừa đẩy bọn đàn bà háo của ra. Nhưng những con "đỉa đói" dường như chưa muốn rời hắn đập mạnh cái đít chai xuống mặt bàn: "Đã bảo đi vào đây hôm nay chỉ uống rượu không cần thứ khác". Mấy cô tiếp viên oãi người sửa lại cạp váy nịt áo rồi bảo nhau đi vào. Có tiếng làu bàu: "Thêm một thằng thất tình..." cô khác chanh choe: "Đã thế tí nữa tính tiền rượu gấp đôi lên cho chết mẹ nó đi...". Bất chợt  một cô chợt reo lên: "Em biết thằng này nó trông cá thuê ngoài đầm tuần trước chủ nó gọi em ra nó cũng được cho một sái húc như ngựa..." có tiếng cười khúc khích: "gái đĩ nhớ được mặt giai tao chịu mày...".

Tu chưa hết một chai mắt hắn đã mờ đi và gục mặt xuống bàn mê mết. Trong giấc ngủ hắn mơ thấy vợ ở Đài Loan vừa rập rình trên bụng một ông chủ già nhẽo thịt vừa đếm tiền...tiền rất nhiều tiền... Hắn bừng dậy trời đã hưng hửng không còn đôi nào quấn nhau trong quán trên quầy bar cũng chỉ còn một gã đàn ông mặt mày khó coi. Chưa tỉnh hẳn nhưng hắn đã cảm thấy rờn rợn chợt nhớ ra hắn sờ tay vào  túi quần thật may tiền vẫn còn. Gã chủ quán chạy lại: "Đại ca cho em xin tiền để em còn đóng cửa quán em không bán ban ngày...". Hắn hỏi: "Bao nhiêu?" gã kia nhanh nhảu: "Tửu lượng đại ca ghê thật hết ba chai quy ra tiếng Việt là lít rưỡi đấy cho em xin triệu tám". Hắn giật mình: "Độc có chai rượu mà triệu tám?". Gã chủ quán trợn mắt: "Ông đếm lại vỏ chai đi". Nhìn lên mặt bàn quả đúng có ba chiếc vỏ chai cạn hắn móc tiền ra trả một bữa rượu mất hơn tháng lương nhưng tiếc gì tiền bán vợ ấy mà... hắn cười chua chát.

Trời chưa sáng hẳn nhìn quanh không có bóng xe ôm nào hắn lại khật khưỡng đi bộ. Vừa đi vừa nhớ thằng con trai bé nhỏ đang ở quê với bà nội khổ thân thằng bé mới lên năm tuổi bố mẹ đã bỏ đi ở với bà không biết học hành ăn uống thế nào. Hắn nghĩ đến vợ xa mới hơn một năm nhưng chưa lúc nào hắn hết nhớ học cùng với nhau vở chưa ráo mực đã cưới các cụ bảo "bằng tuổi nằm duỗi mà ăn" thế mà từ lúc có đứa con lúc nào vợ chồng hắn cùng lâm vào cảnh thiếu đói. Cứ tưởng cho vợ sang xứ người vài năm tích cóp lấy tý vốn liếng nào ngờ! Qua mấy lần dằn dứ hôm trước vợ hắn chính thức gửi đơn ly hôn về kèm theo là mấy chục triệu đồng nói là đã lấy ông chủ Đài Loan. "Đàn bà bạc bẽo thế thấy tiền là hoa mắt..." hắn nhủ thầm rồi lại dày vò: "Cũng tại mình...".

Về gần đến chòi cá hắn đã tỉnh hơn nhưng đầu thì đau như búa bổ đẩy cánh cửa tre định nằm quật ra phản ngủ luôn nhưng hắn bỗng nhảy dựng lên. Ở góc phản một cô gái tóc xõa ra cả thân ướt đẫm áo quần tơi tả ngồi thu lu như một bóng ma đang ôm mặt khóc. Trấn tĩnh hắn quát: "Ở đâu vào đây ăn cắp hả?" cô gái không trả lời chỉ có tiếng nức nở giật lên từng cơn sau mảng da gáy trắng đến nõn nà. Hắn chợt thấy mủi lòng: "Cô ở đâu đến mà sao tàn tạ thế này?". Cô gái từ từ ngẩng mặt sau những vạt tóc ướt sượt cặp mắt đen long lanh đượm buồn cô nói trong tiếng nấc: "Em xin lỗi... em tưởng đây không có ai ở...". "Nhưng sao cô lại dạt ra đây?". Cô gái thút thít: "Em bị cướp nó lấy mất điện thoại với túi của em rồi nó định làm nhục em... nhưng mà ...em chạy được"...

Qua những lời kể đứt đoạn hắn chắp ghép lại hiểu là cô gái đang làm công nhân ở xí nghiệp giày da bên kia sông. Cô có một chị gái đi lao động ở Hàn Quốc gửi cho mấy chục triệu nhờ một người cùng làm bên ấy mang về. Vì phải làm thêm giờ nên tối mới có thời gian đi lấy ai dè đưa tờ giấy ghi địa chỉ người quen cho gã xe ôm gã chở thẳng ra khu đầm này định giở trò. May mà cô chống cự được nhảy đại xuống đầm chạy thoát người thì không sao nhưng có ít tiền với mấy thứ đồ đạc cầm theo thì mất hết...Nghe xong hắn nhìn theo hướng cô gái chỉ tỏ vẻ nghi ngờ: "Bên kia là khu vực sân bay lúc nào chẳng có lính gác làm gì có chuyện nó chở cô vào được?". Cô gái quả quyết: "Em bịa ra làm gì em chẳng biết nữa lúc ấy em cũng kêu lên nhưng chẳng thấy có ai..." hắn nghĩ: "Chắc là mấy ông lính buồn ngủ lại bỏ gác..." nhưng vẫn tỏ vẻ nghi ngờ:  "Gần 3 giờ sáng tôi mới đi sao xảy ra từ tối hôm qua mà lúc ấy không thấy cô?" cô gái trả lời: "Em sợ nên ngâm nước dưới đầm mấy tiếng rét quá thấy bên này có cái chòi nên liều lội qua...".

Cả hai lặng yên một lúc lâu cô gái mới rụt rè: "Anh làm chủ đầm à?" hắn ậm ừ: "Ừ... mà không" "Thế anh làm thuê à?" hắn trả lời cho qua chuyện: "Ừ!". Cô gái có vẻ đã lấy lại can đảm hỏi nhiều hơn: "Quê anh ở đâu?" "Thái Bình!". Cô gái reo lên: "Em cũng ở Thái Bình anh ở huyện nào?". Có lẽ  gặp đồng hương hắn cởi mở hơn nên đổi cách xưng hô: "Anh ở Thái Thụy thế còn em?" "Em ở Vũ Thư chỗ trọ em cũng có mấy đứa Thái Thụy có khi có cả họ hàng nhà anh nữa đấy...". Hắn lại yên lặng lát sau quay sang hỏi: "Đói không có mỳ ăn liền đấy".  Cô gái hơi xoay người rồi đứng dậy cố ý để lộ hai vạt áo đứt tung cúc phía trong chiếc áo lót màu thiên thanh rạng trên nền da trắng mịn màng. Hắn thấy động lòng xa vợ lâu rồi nhớ hơi đàn bà lắm mà cô nàng này trẻ đẹp hơn vợ hắn nhiều. Cô gái làm bộ e thẹn chộp lấy vạt áo đậy lại: "Thằng khốn nạn nó giật bung hết của em ra rồi đồn công an có ở gần đây không anh?". Hắn giật mình mặt hơi rợn đỏ mắt liếc vội tấm thân thon thả đang lộ dưới bộ quần áo sũng nước vừa quay đi vừa nói: "Cách mấy cây nhưng cứ như thế mà đi sao?". Cô gái thẽ thọt: "Thì biết làm sao được anh có thương cho em xin mấy nghìn xe ôm!".

Hắn móc điện thoại định gọi cho tay xe ôm quen trong phố nhưng nghĩ thằng cha này lẻo mép vào đầm mà nhìn thấy hắn ở với con bé này trong chòi lại ton hót với chủ đầm thì mệt lắm. Hắn quay sang thấy cô gái vẫn loay hoay với hai vạt áo đứt cúc mới bùi ngùi: "Em chờ ở đây anh vào phố mua cho bộ quần áo mà thay rồi gọi xe ôm luôn thể?". Cô gái có vẻ cảm động: "Anh làm thuê lấy đâu tiền mà chiều em...". Hắn mềm giọng: "Gặp hoạ được đồng hương giúp còn vẽ chuyện.". Cô gái rơm rớm: "Số em vẫn còn may em định ra báo công an rồi đến nhà người quen lấy tiền anh hỏi giúp luôn xe ôm xem từ đây đến chỗ ấy mất bao nhiêu?" vừa nói cô gái vừa móc ra mảnh giấy. Hắn phải dán mắt mới đọc được mấy dòng địa chỉ trên mảnh giấy ướt nát rồi lấy bút chép lại sang mảnh khác nói giọng hiểu biết: "Ở Kiến An à hơn chục cây chắc cũng mất bảy tám chục ngàn...".

Hắn hỏi số đo rồi đi vào trong phố một lúc sau quay về cùng với một chiếc quần bò một cái áo phông và đôi dép nhựa. Cô gái líu ríu cảm ơn hắn đưa đồ cho cô nàng và đi ra ngoài đứng đợi. Ở phía trong cô gái lần cởi từng thứ dù muốn quay đi giữ ý nhưng ánh mắt hắn vẫn cứ đảo qua đảo lại qua kẽ hở của cánh cửa tre thân hình kiều nữ hiện ra khêu gợi. "Không có gì dễ quên người đàn bà này bằng người đàn bà khác" câu này hình như hắn đã nghe ai nói những ý nghĩ đen tối lởn vởn trong đầu hắn... Nhưng hắn sợ người ta vừa gặp nạn lại đang định đi báo công an giờ mà làm liều được thì không sao ngộ nhỡ gặp phải gái chính chuyên nó gào lên thì chết. Cơ hội trôi qua cô gái đã mặc xong bộ quần áo mới nhìn diện mạo càng hấp dẫn có vẻ như cô gái đã quên chuyện kinh hoàng lúc đêm mặt ửng đỏ: "Anh khéo chọn thật đấy ai làm vợ anh chắc miễn chê...". Nghe nhắc đến vợ hắn tái mặt lặng đi mọi cảm giác trong người biến mất hắn trở lại vẻ mặt lạnh lùng: "Thôi xe ôm nó sắp vào rồi chuẩn bị đi cho được việc". Cô gái làm như không nhận ra sự thay đổi ấy quay trở vào trong chòi lúi húi tìm một lát cô hỏi: "Anh ơi mảnh giấy địa chỉ của em đâu rồi?". Hắn buông giọng: "Đưa cho xe ôm rồi!". "Ấy chết còn số điện thoại người nhà em thế mảnh cũ em vứt đi rồi à?" "Ừ"...

Vừa lúc ấy tay xe ôm vè vè lượn qua khoanh bờ đầm lắt léo đỗ xịch trước cửa chòi. Cô gái nhìn hắn với ánh mắt hàm ơn như không muốn đi hắn cũng thấy trong lòng xốn xang người ta bảo như thế cũng là có duyên với nhau nhất là lúc hắn đang cô đơn đau khổ như lúc này! Dứt day một hồi hắn móc chiếc điện thoại ra đưa cho cô gái: "Cầm lấy chiếc điện thoại để liên lạc xong việc quay lại trả anh cũng được." tia mắt hắn xoáy thẳng vào cô gái ánh lên niềm hy vọng.

*

Nhìn hút theo bóng cô gái khuất vào trong phố hắn chui vào trong chòi nằm vật ra phản miên man nghĩ ngợi rồi ngủ lúc nào không biết. Cho đến khi nghe thấy tiếng xe máy xình xịch ngoài cửa tưởng ông chủ đầm đến hắn vội vùng dậy. Hoá ra là tay xe ôm lúc trước anh ta nhăn nhở: "Nó trả lại ông chiếc điện thoại đây cấn quá hay sao mà trả công gái bằng điện thoại bọn nó thiếu đếch gì tiền mà dùng cái dế đểu của ông". Hắn gắt: "Ai chơi gái? đừng nói linh tinh ông chủ đầm nghe thấy lại chửi tôi con nhà lành gặp nạn đấy.". Tay xe ôm phì cười: "Lành cái gì? Ông đừng có làm tịch con này tôi chở nó đi khách mấy lần lạ gì...". Nhớ tới mấy đứa tiếp viên hồi đêm ngoài quán hắn giật mình: "Thật không?" "Nó vẫn làm đêm ở quán bar trong phố tôi làm xe ôm ông còn phải hỏi à?" Hắn lật đật chạy vào lật tấm phản lên. Chao ôi! Cả gói tiền vợ gửi về lẫn mấy tháng tiền lương đã biến mất.

Hắn  hốt hoảng hỏi tay xe ôm: "Ông biết nó ở đâu không?". Hình như đoán ra tay xe ôm nhìn hắn thương hại: "Nó phang mất cái gì à? thế thì nó té mất rồi ai biết tên với quê thật của ca-ve đâu mất nhiều không lên đây tôi chở đi chỉ có nước báo công an thôi.". Hắn lặng người rồi lập cập leo lên xe như một con rối.

LÊ MINH THẮNG

More...

Tình khúc mưa - tiếng lòng thơ Lê Thị Phù Sa

By HOÀI KHÁNH

Tình khúc mưa - tiếng lòng thơ Lê Thị Phù Sa

Tập thơ đầu tay mang tên Tình khúc mưa của Lê Thị Phù Sa - hội viên Hội VHNT tỉnh Tây Ninh - vừa được Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho ra mắt bạn đọc. Có thể bắt gặp thoáng chập chờn một nỗi nhớ bâng khuâng về quê hương bạn bè về mùa thu con đò dòng sông và những vùng đất mà tác giả từng đến đó. Những nỗi nhớ ấy vừa như được ấp ủ vừa như để an ủi có khi oán trách vô cớ bạn đọc dễ cảm thấy như mình cũng có nỗi niềm trong đó.

Phảng phất chất liệu ca dao mượt mà trữ tình và đằm thắm trong những bài thơ của Lê Thị Phù Sa. Có tính ước lệ trong những câu thơ ngọt ngào. Mỗi bài thơ trong tập như là mỗi câu chuyện có nhân vật có nỗi niềm có tâm trạng.

"Nào hay ngày tháng hững hờ

Tựa lưng vách nhớ mong chờ tái môi

(Giữa thu)

Có Thời gian cứ trôi mà mình chưa làm được những điều gì. Tác giả muốn oán trách mình hờ hững với thời gian một sự tự trách mình thật đáng yêu.  Đó như là tâm trạng chung của nhiều người. Vịn theo dòng xao xuyến ấy tác giả chất vấn mình khi lưu luyến cả những gì mà thời gian đã chôn sâu trong dĩ vãng:

Phố thị trăng rằm người xa có nhớ

Góc nhỏ rừng chiều xào xạc heo may

Người quên ta chiếc bóng hao gầy

Đốt lá vàng thu hong từng nỗi nhớ.

(Thu ca)

Mùa thu như con người hằn sâu nỗi nhớ đến nỗi phải đốt lá vàng hong từng nỗi nhớ. Cách ví von sao da diết nhưng nỗi nhớ trong thơ Lê Thị Phù Sa không hề chút gì bi lụy không mang màu sắc u ám chỉ mơ hồ bảng lảng giữa quá khứ và hiện tại:

Chợt nghe lời gió bâng khuâng

Rưng rưng niềm lá...

                                    Em ngần ngại thu

(Tình khúc mưa ngâu)

Nỗi niềm người thơ thường bộc lộ tình yêu thiên nhiên và quê hương. Chỉ có điều là mỗi tác giả đều có cách cảm riêng nên khi tình yêu ấy chảy vào câu chữ  của mỗi người cũng khác nhau gợi cho bạn đọc những ring cảm nghệ thuật thú vị và chân thành trước cái đẹp của thơ.

Em dắt mùa thu đi

Loanh quanh chiều phố nhỏ

Nắng vàng vương trong gió

Mây ngập ngừng quên trôi

(Hương ca mùa thu)

Mùa thu hiện lên trong tập thơ này ở nhiều bài. Có lẽ cảnh thu dìu dịu dễ đồng điệu tiếng lòng tác giả. Mỗi bài thơ về mùa thu của Lê Thị Phù Sa lại mang tâm trạng riệng biệt:

Mới xa nhau đã nhớ nhiều

Chưa thu đã thấy hắt hiu lá vàng

(Khúc thu)

Hoặc:

Bụi còn hạt cuối tiễn đưa

Niềm riêng chưa cạn chiều chưa vơi chiều                                         

(Tiễn)

Lê Thị Phù Sa có sự bức phá ít nhiều khi phản ánh trong thơ về những phong cảnh non nước hữu tình của quê hương gấm vóc. Tác giả mượn cảnh sắc thiên nhiên để nói hộ lòngmình:

Xe lướt nhẹ lên đèo cao gió hát

Đường quanh quanh leo đỉnh dốc Rù Rì

Chợt gặp em giữa màu xanh bát ngát

Nhịp lòng rung trói buộc bước chân đi

(Lên dốc Rù Rì)

Người nhớ cảnh bao nhiêu thì cảnh cũng nhớ người bấy nhiêu. Qua những ngôn ngữ giản dị gần gũi đọc những bài thơ trong chùm thơ Nha Trang ta nghe như ai đó thủ thỉ tâm tình. Đôi khi tác giả thất vọng trước cảnh trớ trêu của lẽ đời thì những câu thơ tả cảnh cũng trở nên trầm lặng.

Đò ơi!

Đò qua bến vắng bên bồi

Một tôi khờ đợi giữa trời bơ vơ.

(Tình khúc qua đò)

Cô đơn mà không hoang mang tác giả chỉ nhớ thương tâm niệm với những số phận cùng cảnh ngộ. Mảng thơ tả cảnh của Lê Thị Phù Sa gom góp được những ý thơ vụt lóe nhưng cũng bộc lộ những cảm nhận chưa sâu có chút gì đó hơi vội vàng trực giác.

Đọc thơ Lê Thị Phù Sa ta ngỡ chính mình cũng đang nhớ đang yêu thương  hờn giận. Những câu thơ còn có khi hơi mộc mạc kia bằng chính sự chân thành của tác giả mang lại cho ta những thư lòng. Tin rằng Lê Thị Phù Sa sẽ cho bạn đọc những cảm xúc tươi tắn mà không kém phần sang trọng ở những tập thơ tiếp theo.

HOÀI KHÁNH

More...

Lời của gai

By HOÀI KHÁNH

HOÀI KHÁNH: Tập thơ Lặng lẽ cánh buồm em của Bùi Thị Thu Hằng vừa được Nhà xuất bản Văn Học cho ra mắt bạn đọc. Tác giả là một người phụ nữ nhỏ nhắn tươi tắn là hội viên trẻ của Hội Nhà văn Hải Phòng. Bùi Thị Thu Hằng chủ yếu sáng tác thơ về đề tài tình yêu và hạnh phúc gia đình. Những bài thơ do chị sáng tác ra công bố trong các kì sinh hoạt CLB thơ ở thành phố rồi được đăng báo Văn Nghệ Trẻ tạp chí Cửa Biển và một vài trang văn học mạng. Cái tên Bùi Thị Thu Hằng dần dần được nhiều người chú ý. Hiện chị ở phường Minh Đức quận Đồ Sơn - Hải Phòng. Những bài thơ lục bát của chịít nhiều tạo cảm gíac thú vị cho bạn yêu thơ. Âu đó cũng là cái cớ để blog Hoài Khánh dành giới thiệu một số bài trong tập thơ đầu tay của chị và mong nhận được sự chia vui và những cảm nhận chân tình của bạn đọc gần xa.

Lời của gai

Người không biết uốn đầu môi

Em đành yêu cả những lời của gai

 

Vẫn tin có một ban mai

Chợ đời dành lại cho hai đứa mình

 

Cố vun vén cái tang tình

Dầu không trúc đứng sân đình khoe duyên

 

Đâu còn lúng liếng mắt huyền

Cũng nào má phấn tóc đen trao người

 

Bóng chiều chia nửa xa vời

Con tim còn khát những lời bùa mê

 

Chín giông mười gió bộn bề

Anh vin ngọn sóng vỗ về bờ em

 

Tiếng chì tiếng bấc người đem

Câu thơ chảng thể lấm lem tháng ngày

 

Nỗi riêng đọng ở cuối mày

Như sông gặp cạn hao gầy đợi mưa

Tâm sự cùng cha

Ngày về chỉ một chỗ nằm

Trần gian ở trọ lo trăm nỗi đời

Cha làm thơ để tự cười

Con làm thơ để nói lời nỉ non

Cha lo khuôn thước vuông tròn

Con lo đắp ấm nỗi buồn riêng tư

Cha không vay mượn ca từ

Thơ con cũng chẳng ngọt lừ giống ai

Con đi về phía ban mai

Đường đông bước chật rộng dài về đâu?

Chân con vấp phải bể dâu

Mỗi lần bớt một nỗi đau tật nguyền

Cõi vô thường sáng dòng tên

 Ung dung bỏ lại Người lên niết bàn

Hương trầm vạch dấu chấm than

Con không khóc lệ cứ tràn mặn môi!

 

Gia tài cha có vậy thôi

Đủ cho sóng lặng bãi bồi đời sau...

BÙI THỊ THU HẰNG

More...

Hà Nội ơi một thời áo trắng của tôi đâu rồi?

By HOÀI KHÁNH

Hà Nội ơi một thời áo trắng của tôi đâu rồi?

altNgày 2-6-1977 lần đầu tiên tôi lên Hà Nội. Đó là phần thưởng của Trường phổ thông cấp 2 Nguyễn Công Trứ (khu phố Lê Chân - Hải Phòng) dành cho những học sinh chăm ngoan học giỏi. 14 tuổi tôi thi đỗ tốt nghiệp cấp 2 với 34/40 điểm đứng thứ 3 toàn trường và được vào thẳng cấp 3. Cả nhà tôi mừng và cũng lo lắng vì đây là lần đầu tiên tôi đi xa không có cha mẹ đi kèm. Nhà tôi nghèo và thời đó cũng khó khăn nhưng cha mẹ tôi vẫn cố gắng sắm cho tôi một bộ quần áo mới để đi Hà Nội vào viếng lăng Bác. Trưa hôm ấy đoàn học sinh chúng tôi nghỉ lại quanh bờ hồ Gươm. Bóng cây và gió hồ làm dịu đi cái nắng mùa hè. Tôi có chụp một tấm ảnh bé xíu cỡ 3x4 nay nhìn lại trông ngộ lắm. Tôi mặc cái áo trắng mới tinh   dài chùm đến gần đầu gối ông tay xắn cao quá khuỷu. Chiếc quần âu cũng gấp gấu đến mấy lần. Khổ thật ngày đó đất nước còn nghèo nên mọi người đều có thói quen mua sắm quần áo cho trẻ con phải thật dài thật rộng để chúng lớn lên vẫn mặc vừa...

14 tuổi tôi bắt đầu làm thơ nghĩa là bắt đầu mơ mộng bắt đầu biết bắt chuyện làm quen và chơi thân với các bạn gái. 15 tuổi tôi bắt đầu quen biết những cô bạn gái Hà Nội. Ngọc Dung là cô bạn đầu tiên. Dung là đứa em họ ngoại của Tuấn - một thằng bạn cùng học Đội Vẽ ở Câu lạc bộ Thiếu nhi thành phố (sau này là Nhà văn hóa Thiếu nhi Hải Phòng) với tôi. Nhà Dung là một cửa hiệu vàng bạc ở cuối phố Hàng Đào nhìn ra hồ Gươm. Dung thường được mẹ cho theo xuống Hải Phòng chơi thăm bà con họ hàng. Chẳng hiểu sao những năm học cấp 3 Dung hay xuống Hải Phòng lắm và lần nào cũng gặp và được tôi lai xe đạp đi chơi tối lòng vòng khắp các đường phố. Cuối mùa hè năm 1978 Dung rủ tôi lên Hà Nội chơi nhưng bố mẹ tôi không đồng ý cho tôi đi. Tôi buồn lắm. Chú ruột tôi dùng một câu thơ nửa động viên nửa pha trò cho tôi vui: "Xa nhau tình cảm dạt dào - Bạn ơi chớ tiếc một hào hai xu!". Một hào hai xu nghĩa là bằng 12 xu giá cước phí con tem bưu điện trong nước ngày đó. Thế là từ đó do bận học hành năm cuối cấp chúng tôi không gặp mặt nhau được mà chỉ giao lưu tình cảm qua những lá thư. Để tránh bị gia đình kiểm soát thư tín Dung bảo tôi lấy tên là Trần Hoài Khánh (chắc là tên một cô bạn của Dung). Nét chữ của tôi ngày đó khá đẹp như nét chữ con gái vậy. Từ đó tôi ngẫm thấy cái tên này cũng hay hay bỏ quách cái họ Trần kia đi chỉ giữ nguyên tên Hoài Khánh. Cái tên này từ năm 1983 trở thành bút danh của tôi và sau này thành tên thường dùng trong mọi giao tiếp. Hè năm 1979 có lần tôi lên Hà Nội thăm Dung. Nhà Dung chật chội lắm chỉ đủ trải 4 cái chiếu là cùng. Chúng tôi nháy nhau ra bến xe điện Bờ Hồ trò chuyện bước lên cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn chơi  sóng đôi dạo quanh mấy vòng hồ Hoàn Kiếm. Rồi chúng rôi đều vào đại học. Dung học Đại học Y Hà Nội. Cô sinh viên y khoa này nhanh chóng trở thành một thiếu nữ đài các ăn diện. Chúng tôi xa mặt rồi cách lòng. Nghe tin Dung lấy chồng hình như lấy một tay bác sĩ hơn gần chục tuổi có nhà riêng ở phố Thợ Nhuộm tôi cố quên cô bạn thuở học trò này đi nhưng xuất xứ cái tên Hoài Khánh thì luôn nhớ.

Sau kì thi vào đại học giữa tháng 7 năm 1980 tôi có nhiều thời fian ranh rỗi và hay có những chuyến đi xa khi về quê nội Hưng Yên khi thì lên Hà Nội vào Hà Nam hoặc ra Quảng Ninh. Trên một chuyến xe lửa Hà Nội - Hải Phòng tôi quen một cô bạn Hà Nội nữa cùng tuổi 17 tên là Thúy Nga. Cô bạn này cũng mơ mộng lắm. Có lần viết thư Nga gọi tôi là "Giọt nước của biển cả thân yêu". Không mơ mộng sao được khi chỉ ít tháng sau Nga được tuyển vào học nghề diễn viên múa ở Trường nghệ thuật Quân đội. Những ngày học tập trung tại Trường đại học Sư phạm Hà Nội 1 tối tối tôi thường đi bộ gần 2 cây số sang khu Văn công Mai Dịch tìm gặp Nga. Chúng tôi ngồi bên nhau nơi bờ ruộng rau muống vui gọi là "Công viên Rau Muống" nói cho nhau những câu chuyện không đầu không cuối có khi ngồi yên lặng để nghe tiếng côn trùng kêu ra rả bên tại hoặc nhìn đàn đom đóm bay lập lòe trước mắt. Cuối tuần thì Nga được về nhà. Nhà Nga trong khu tập thể Đường Sắt bên thị trấn Gia Lâm (nay là quận Long Biên). Có một tối thứ bảy tôi đạp xe qua cầu Long Biên sang Gia Lâm tìm vào nhà Nga. Dễ chừng không muốn cha mẹ biết Nga rủ tôi ra vườn hoa thị trấn. Mùa vắng những cơn mưa trời Hà Nội se lạnh trong hun hút gió bấc. Cái ghế đá cũng lạnh hơn khiến hai chúng tôi run rẩy. Nga kể rằng bố mẹ Nga là cán bộ y tế trong ngành đường sắt chị gái cũng theo nghề y nhưng Nga thì không. Nga vừa được chụp ảnh khi tập múa để đăng báo. Sau này tôi đã tìm được bức ảnh ấy trên một tờ Báo ảnh Việt Nam của Thông tấn xã Việt Nam. Đôi mắt to tròn và kafn da trắng hồng của Nga cứ lảng vảng mãi trong những giấc mơ của tôi ngày ấy. Ba năm sau Nga trở thành diễn viên múa của Đoàn nghệ thuật Không quân. Một buổi tối tôi sang Hà Đông chơi với cô bạn đồng hương đang học tại Trường đại học Quân y. Cô bạn này mượn cho tôi bộ quân phục mặc vào người thì mới trà trộn trong đám sinh viên quân y để qua được cổng quân cảnh vào trong trường. Tối ấy tôi vô tình lần đầu tiên được xem Nga múa trên sân khấu ngoài trời khi đoàn nghệ thuật Không quân về trường đại học Quân y biểu diễn phục vụ. Hết tiết mục tôi chạy ra hậu đài gặp Nga. Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp cô bạn ấy.

Đầu năm 1981 tôi quen 2 cô bé 13 tuổi trên một chuyến xe điện Bờ Hồ - Cầu Giấy. Thu Nguyệt ở nhà E7   Huyền Nga ở nhà B2 đều trong khu tập thể Thành Công. Nguyệt và Nga chơi thân với nhau. Nguyệt có gương mặt tròn trĩnh còn Nga có gương mặt trái xoan. Hôm đó thấy tôi cầm cuốn sách "Nguyễn Trãi - Thăng Long - Hà Nội" 2 cô bé chủ động hỏi chuyện làm quen. Từ hôm ấy thỉnh thoảng 2 em lại lấy xe đạp lai nhau đến thăm tôi có bữa tôi đến nhà các em chơi. Một lần tôi về Hải Phòng nghỉ Tết Thu Nguyệt nhặt được một tấm ảnh của ai đánh rơi chắc trông giống tôi nên khoe với Nga rằng đó là ảnh của tôi tặng riêng cho cô ấy. Nga cự lại cho rằng "Anh ấy đâu phải của riêng bạn". Cả hai đều viết thư kể lại chuyện này cho tôi biết. Tôi cũng thấy vui lây cùng 2 cô bé Hà Nội này. Có bận tôi chở Thu Nguyệt đi chơi không may bị ngã trên đường đê La Thành xoạc rách cả áo. Nguyệt khóc đỏ hoe cả mắt ra chừng thương tôi lắm. Nguyệt đưa tôi về nhà bắt tôi cởi trần và tự tay cô bé lấy kim chỉ ra khâu vá lại. Tôi rất e ngại và lòng đầy cảm động. 4 năm sau tôi 21 tuổi và 2 em tròn tuổi 17. Nga thì ham học lắm nhưng nhà cô không muốn cho cô học thêm nữa. Nga nhờ tôi nói giúp với cha mẹ cô cho phép cô được đi thi vào đại học. Tôi cũng dành nhiều thời gian kèm cặp Nga ôn thi 3 môn văn học lịch sử và địa lí. Kết quả thật tuyệt Nga thi khối C và trúng tuyển vào khoa Lịch sử Trường đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Trong khi đó thì Nguyệt xung phong đi lao động cộng sản tại công trường cải tạo sông Tô Lịch. Cuối năm đó Nguyệt đi lấy chồng. Tôi lại lên Hà Nội và tối tối lại đến nhà đón Nga đi chơi hết phố Bà Triệu rồi vòng về đường Cát Linh có hôm vào thăm nhà riêng của vợ chồng Nguyệt nữa. Ngày ấy tôi còn khờ khạo lắm. Năm tháng trôi nhanh tôi về Hải Phòng công tác Nga cũng ra trường và nghe đâu cũng đi lấy chồng là một chàng sinh viên  cùng lớp quê tận trên miền núi Hà Giang. Tất cả cứ lặng lẽ bặt tin nhau. Đùng một cái trước Tết năm nay Huyền Nga tìm trên mạng internet được số diện thoại và đã gọi cho tôi. Nga giờ làm báo ở thành phố Hồ Chí Minh. Nga còn cho tôi số điện thoại của Nguyệt. Nguyệt giờ mở hàng cơm phục vụ sinh viên ở trong Trường đại học Kinh tế Quốc dân. Thế là sau 25 năm xa cách Nguyệt Nga và tôi nối lại liên lạc và có thể gọi điện thoại di động thăm hỏi nhau...

Hôm nay đúng dịp kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tôi lại bồi hồi nhớ về những năm tháng sinh viên nghèo khổ đã có dịp được quen thân không chỉ một cô gái ở Thủ đô. Hà Nội ơi một thời áo trắng của tôi đâu rồi?

HOÀI KHÁNH

More...

Một cuốn tiểu thuyết hay và độc đáo

By HOÀI KHÁNH

HOÀI KHÁNH: Tiểu thuyết Biển của Trương Anh Quốc - hội viên Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh - vừa đoạt giải nhất Cuộc thi sáng tác "Văn học tuổi 20" lần thứ IV năm 2010 do Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh Báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ tổ chức. Tác phẩm vừa được in ra và đang trở thành cuốn sách văn học bán chạy nhất hiện nay tại các hiệu sách trên toàn quốc. Blog Hoài Khánh xin chuyển đến bạn đọc gần xa bài giới thiệu tập sách này của nhà văn Nguyên Ngọc.

Một cuốn tiểu thuyết hay và độc đáo

Đây là một cuốn sách lạ. Thoạt không dễ đọc thậm chí có khi cầm lên đọc qua năm bảy trang đã có thể muốn bỏ xuống nếu không tò mò vì sự kích thích của đề tài lâu nay hầu như chưa hề được nói đến: cuộc sống long đong gian nan đầy thử thách hiểm nguy của những người lao động đi làm thuê trên những chiếc tàu viễn dương. Vậy mà vượt qua chút cảm giác ngờ ngợ lúc đầu bỗng dần dần thấy bị cuốn hút đến không dứt ra được và cuối cùng toàn bộ ban giám khảo nhận ra rằng mình đang đứng trước một cuốn tiểu thuyết một cuốn tiểu thuyết được viết một cách rất độc đáo của một người viết từng trải và đầy bản lĩnh.

Chỉ vài trăm trang sách nhốt trong một không gian chật hẹp đôi khi đến gần như nghẹt thở là một con tàu nhỏ lại là tàu chở dầu tức phải chịu rất nhiều hạn chế về sinh hoạt lênh đênh cô độc trên các đại dương mênh mông chỉ mấy chục con người thôi vậy mà là cả một thế giới một nhân quần cũng ngổn ngang tất cả các nổi đời các éo le và bi kịch lớn nhỏ (cả hài kịch nữa) hầu như không hề thiếu bất cứ một tính cách nào một kiểu diện mạo người nào rộng lượng và nhỏ nhen thương yêu và căm ghét âm mưu và thù hận ngây thơ và thâm hiểm cao thượng và bần tiện thơ mộng và thô lỗ trung thực và lừa bịp mơ ước và khát khao dục vọng và tuyệt vọng... tất cả đều đạt đến đỉnh điểm chính vì quá chật chội mà cô đọng tới cực độ. Quả tác giả đã rất khéo tự nhốt mình trong cái khoảng không gian cực kỳ hẹp kín và khắc nghiệt này để cho tất cả các nhân vật của anh buộc phải tự bộc lộ hết từng người và do vậy mà cũng là một bức tranh rậm rạp và khá đậm nét về nhân quần. Hơn thế nữa là cái nhân quần rất hôm nay rất thời sự của thời con người dù bất cứ ở đâu bằng cách này hay cách khác đều buộc phải đi ra thế giới đối mặt với những thách thức của cái thế giới và thời đại vừa mới mẻ nhiều hứa hẹn lại nhiều hiểm họa và nguy cơ này. Thường vẫn vậy những người biết ít lại hay hấp tấp nói vội nói nhiều mà kỳ thực rồi chẳng có mấy thông tin loay hoay mãi cũng chỉ đi lại mấy chuyện vặt. Người biết nhiều thì chỉ thường cứ như lặng lẽ mỉm cười thỉnh thoảng mới lộ ra đôi chi tiết mà cái nào cũng đắt đầy ấn tượng và hóm hỉnh nữa cái hóm hỉnh của người quá biết về sự đời ta nghe rồi còn thèm thuồng muốn nghe nhiều nghe nữa nghe mãi. Ta gặp ở đây một tác giả một người bạn quý như vậy.

Nhận ra tất cả điều đó rồi ta càng hiểu và cảm phục bản lĩnh của người viết. Một lối viết rất trầm tĩnh không hề to tiếng nhẹ nhàng đến như rủ rỉ có cả nụ cười mỉa mai mà nhân hậu cứ như thong thả kể chuyện chơi hết chuyện này tới chuyện khác không cần thắt không cần mở không cần cái thường được gọi là cao trào hầu như cũng chẳng cần quan tâm mấy đến một đường dây xâu chuỗi kết nối toàn tác phẩm. Tôi nghĩ đó là một cách viết cao tay: bởi cuộc sống thật vốn là vậy đó thế giới được kết chặt với một bề ngoài trông chừng rất rời rạc cuộc sống là tất yếu một cách trông chừng như rất ngẫu nhiên. Một người từng trải lắm mới bình tĩnh hiểu được điều đó và nói với chúng ta thật nhẹ nhàng ôn tồn thủ thỉ như tâm sự về những sự đời vừa oái ăm vừa buồn cười vừa đau đớn nhiều khi đến dữ dội vừa rất thường ngày tầm thường cứ như là tự nhiên vậy cái tự nhiên bao giờ cũng giấu đi sự uyên thâm sâu kín của mình.

Vậy nên đọc kỹ cuốn sách nhỏ này hóa ra không nhỏ chút nào. Nó dùng một mảnh nhỏ thậm chí một mảnh nhỏ bị rứt ra khỏi thế giới bốn bề để nói về chính cái thế giới ngổn ngang đó. Còn điều này nữa: để nói về cả chính đất nước chúng ta những vấn đề của con người chúng ta xã hội chúng ta cái được cái không cái hay cái dở cái đáng hy vọng và cái đáng vô cùng âu lo của đất nước này hôm qua hôm nay ngày mai. Như là một kiểu đi ra xa đi ra cái lạ đối chiếu mình với cái lạ ấy để lại nhìn về gần về chính mình tự hiểu về mình hơn trong cái thế giới vừa cũ vừa mới vừa yên tĩnh vừa đầy biến động khôn lường này. Cuốn sách vì vậy mà rất khiêm nhường lại có thể chứa một chiều sâu suy tưởng không ngờ nếu ta biết bình tĩnh lắng nghe...

Đọc rồi vì vậy mà bỗng muốn được gặp người viết quá để ít ra nói một lời cám ơn. Cám ơn bạn rất nhiều người bạn viết chưa từng được giáp mặt.

Biển là tên tác phẩm. Cũng có nghĩa là một biển nhân quần ít ra một góc nhìn trông vậy mà thật sắc sảo về cõi nhân quần hôm nay chăng?

NGUYÊN NGỌC

More...