Nguyễn Công Mỹ - một góc khuyết trên bản đồ văn học Việt Nam?

Nguyễn Công Mỹ - một góc khuyết trên bản đồ văn học Việt Nam?

Bạn đọc hồi kí nhật kí của các nhà văn Nguyễn Đình Thi Tô Hoài Nguyễn Huy Tưởng... giai đoạn tiền khởi nghĩa và đầu kháng chiến chống Pháp hẳn không chỉ một lần thấy có nhắc đến hai cái tên: Nguyễn Công Mỹ và Gió tây. Gió tây là tên một bản thảo tiểu thuyết giờ đã trở thành ẩn số vì đã bị thất lạc trước khi được in ra. Tất cả những gì người ta biết về nó thì đó là một tác phẩm của Nguyễn Công Mỹ viết theo lối hiện thực tả chân mà những ai từng được đọc - trong đó có cha tôi nhà văn Nguyễn Huy Tưởng - đều rất thích. Còn về tác giả của nó thông tin cũng không hơn gì vì ông đã hy sinh ngay trong những năm đầu kháng chiến khi đang làm công tác bình dân học vụ. Nguyễn Công Mỹ sinh năm 1909 người làng Xuân Cầu xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên. Ông hy sinh năm 1949 khi mới 40 tuổi chưa kịp đóng góp nhiều hơn cho cách mạng cũng không kịp viết thêm tác phẩm nào ngoài cuốn Gió tây bị - mất - bản - thảo nói trên. (Còn có thể kể thêm vở kịch Tô Hiệu ông viết ngay trong những ngày sục sôi cách mạng và đã được ban kịch Tháng Tám trình diễn trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội đêm 12-1-1946 nhưng giá trị nghệ thuật có lẽ không cao nên giờ chỉ được nhắc đến như một sự kiện của lịch sử sân khấu cách mạng.) Tuy nhiên tôi vẫn nghĩ Nguyễn Công Mỹ thuộc dạng người mà như nhà thơ Lê Đạt sau này sẽ nói quan tâm đến việc lập thân hơn là lập danh. Chắc chắn ông đã ra đi thanh thản không bận bịu luyến tiếc gì. Dẫu sao bằng vào những gì được biết về ông thông qua nhật kí của cha mình và những tư liệu thu thập được tôi thiết nghĩ ông cần phải được tìm hiểu kĩ càng hơn không chỉ như một nhân vật lịch sử mà trước hết như một nhân cách lớn của một người làm công tác giáo dục-khuyến học nước nhà.

Nếu như bản thân Nguyễn Công Mỹ chưa hẳn đã được nhiều người biết thì hầu như những ai am hiểu văn học đều biết ông là em ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan và đồng thời cũng là anh của đồng chí Lê Văn Lương nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Bí thư Thành ủy Hà Nội. Với ba anh em ông cha tôi trong cương vị một người lãnh đạo văn nghệ một thời đương nhiên đều có quan hệ công tác chẳng nhiều thì ít. Nhưng tôi dám nói cha tôi chỉ thân và hợp với bác Nguyễn Công Mỹ thôi. Nhật kí của cha tôi bắt đầu nói đến bác vào cuối năm 1944 khi ông có việc với nhà xuất bản Người Bốn Phương một nhà xuất bản mà có lẽ các ông đang muốn tranh thủ để in các sách của anh em; trong câu chuyện với "đối tác" như cha tôi ghi lại trong nhật kí ông đã nghĩ đến cuốn Gió tây như một dự định hợp tác. Hơn một tháng sau cuối tháng 1-1945 cha tôi có một chuyến đi "công tác" dài ngày hết Nam Định lại Hải Phòng về các công việc của Hội Truyền bá quốc ngữ. Lúc này Nguyễn Công Mỹ làm Trưởng ban cổ động của Hội ở Hải Phòng còn cha tôi làm thư kí Ban dạy học của Hội ở Hà Nội. Đồng thời ông cũng đã tham gia các hoạt động của Hội văn hóa cứu quốc bí mật. Gặp bác Mỹ ở Hải Phòng cha tôi đã nói chuyện về nhà xuất bản Người Bốn Phương và giục bác đưa in cuốn Gió tây. Rồi trong câu chuyện giữa nhiều gợi ý thăm dò ông đã đưa cho bạn xem bản Đề cương về vấn đề văn hóa Việt Nam một tài liệu có tính cương lĩnh của Đảng do Tổng Bí thư Trường Chinh chấp bút. Có thể bác Mỹ đã ngạc nhiên. Có thể bác không nghĩ cái anh bạn kém mình ba tuổi dáng công chức người hiền lành luôn tận tụy với công việc truyền bá chữ quốc ngữ và nhất là rất đam mê văn chương cái anh bạn ấy lại nắm giữ một tài liệu quan trọng như thế lại đang dấn thân vào một hoạt động đặc biệt như thế. Song có thể tin chắc một điều rằng kể từ đây hai ông đã trở thành những người đồng chí không chỉ trong sự nghiệp phổ cập chữ quốc ngữ cho người dân mà cả trong việc phấn đấu xây dựng một nền văn hóa mới dân tộc đại chúng khoa học.

Tháng 7 năm 1945 Hội nghị toàn thể của Văn hóa cứu quốc họp ở làng La Cả Hà Đông cha tôi được cử đại diện cho văn giới đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào. Trước khi bí mật rời Hà Nội lên chiến khu ông được tin Nguyễn Công Mỹ bị ốm đang nằm bệnh viện Vũ Thanh ở Hà Nội. Cha tôi đã tức tốc đến thăm bạn. Trong ông vẫn còn nguyên ấn tượng tốt đẹp về cuốn Gió tây mà ông mới đọc - "giản dị nhẹ nhàng sáng sủa" đó là những gì toát lên từ cuốn tiểu thuyết của bạn ông. Đó cũng là cái hợp với quan niệm về văn chương của chính ông. Thế mà cuốn sách thì cứ trầy trật mãi. Mới hôm rồi ông lại phải đến nhà xuất bản Người Bốn Phương để đòi lại bản thảo cuốn tiểu thuyết của bạn. Viên thư kí trẻ ranh ngạo mạn bẻ hành bẻ tỏi người đến giao dịch bất kể là ai khiến ông tức điên lên. Biết làm sao đây để những kẻ như thế hiểu được giá trị của những tác phẩm văn học đích thực ông ngao ngán nghĩ đến tương lai không dễ gì của cuốn tiểu thuyết Gió tây...

Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2-9-1945 Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập trước hàng vạn đồng bào ở Quảng trường Ba Đình trong đó có nói đến giặc ngoại xâm giặc đói giặc dốt. Chưa đầy một tuần sau ngày 8-9 Người kí quyết định thành lập Nha bình dân học vụ. Ông Nguyễn Công Mỹ nguyên là Trưởng ban cổ động Ủy ban chống nạn thất học ở Hải Phòng được Hồ Chủ tịch chọn mặt gửi vàng giao cho làm Tổng giám đốc Nha. Nhiệm vụ chống nạn thất học là một trong ba quốc sách hàng đầu của Nhà nước cách mạng non trẻ nhưng chắc cũng đầy những khó khăn thách thức. Với kinh nghiệm hoạt động chống thất học và vận động thanh niên suốt nhiều năm qua Nguyễn Công Mỹ đã cùng đồng sự dựa vào chính quyền các cấp hoạt động tích cực. Chỉ một năm sau tính đến ngày 8-9-1946 cả nước đã có hơn 2 triệu rưởi học viên gần một trăm ngàn giáo viên gần 75 ngàn lớp học do nhân dân giáo viên học viên tự nguyện tự giác tham gia. Kết quả này về sau sẽ được Quốc hội khóa I kì họp thứ hai đánh giá: "Cũng như thành tích chống giặc ngoại xâm và thành tích chống giặc đói thành tích bồi dưỡng học viên chống giặc dốt rất là vĩ đại..." Có thể hình dung trong "thành tích vĩ đại" đó có phần đóng góp to lớn của ông Nguyễn Công Mỹ cũng như muôn vàn khó khăn thiếu thốn mà ông và các đồng sự đã phải vượt qua để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Thời gian này cha tôi và bác Nguyễn Công Mỹ có lẽ ít có dịp gần nhau vì mỗi ông công tác ở một lĩnh vực. Song tình thân mật giữa hai ông thì ngày một tăng. Đầu tháng 11-1946 Văn hóa cứu quốc tiến hành Đại hội toàn quốc cả cha tôi và bác Mỹ cùng tham dự. Lúc này các ông đều là những người giữ các cương vị quan trọng. Như cha tôi vừa làm công tác văn hóa vừa làm báo lại có chân trong Quốc hội... tất cả đều là những vai cần đến tài ăn nói. Nhưng xem ra ông lại kém về đường này. Bản thân cha tôi cũng rõ điều đó như ông từng tự nói về mình trong nhật kí: "Nghĩ cũng buồn cười cho ta - Một nhà văn không biết nói". Tại hội nghị nói trên hình như cha tôi đã có những lúc nói năng lúng túng lắm. Đến mức bác Mỹ phải góp ý thẳng thừng: "Cậu phải sửa lời ăn tiếng nói thế nào chứ ấp úng thế thì không được". Cái cách nói thẳng thắn chân thành với bạn như thế có lẽ là một nét riêng hiếm có trong quan hệ giữa bác Mỹ và cha tôi. Một lần khác trên đường tản cư khỏi Hà Nội một ngày trước Toàn quốc kháng chiến giữa đám người chạy loạn tha theo đủ thứ bác Mỹ đã chê cha tôi trông phì nộn xấu lắm. Cha tôi không giận mà chỉ tự trách mình phì nộn là phải vì có làm gì đâu. Bác Mỹ cũng hiểu cha tôi đến mức có lần bác nhận xét cha tôi là một type [kiểu người] rất lạ lúc thì rất cương quyết khi lại rất flou [lờ mờ]...

Những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến khi các cơ quan ở Thủ đô tạm lánh ra vùng Hà Đông tập hợp lực lượng trước khi lên chiến khu có lẽ là những ngày cha tôi được gắn bó với bác Mỹ nhiều hơn cả. Hai ông rủ nhau đi kiếm cà phê không được giữa những tiếng súng ì ầm từ Hà Nội vọng về. Hai ông cùng đợi ai đó ở bến đò Mai Lĩnh cảnh đẹp một cách cổ sơ khiến người ta càng cảm thấy chiến tranh là vô lý. Hai ông cùng trằn trọc nửa đêm vùng dậy hút thuốc lào rồi hỏi nhau nếu nước nhà mất độc lập thì thế hệ nào đau đớn nhất? - người bảo thế hệ mình người bảo thế hệ con cháu vì hình ảnh độc lập đã in sâu vào óc chúng nó chúng nó yêu Cụ Hồ biết bao! Hai ông cùng tưởng tượng tình huống nếu lúc này có tiếng xì xồ Tây vào chúng sẽ bắn tệ hơn chúng sẽ tra tấn hành hạ... Tất cả những điều này tôi biết được là qua một cuốn nhật kí của cha tôi gia đình mới may mắn tìm ra. Cuốn nhật kí chỉ bằng nửa lòng bàn tay phù hợp để đem theo trong trường hợp có chiến sự. Trên đó cha tôi đã ghi lại nhiều chuyện xảy ra từ cuối năm 1946 khi nổ ra Toàn quốc kháng chiến cho đến khi bắt đầu trận Việt Bắc cũng là khi cha tôi và bác Mỹ mỗi người mỗi ngả. Chỉ có điều lạ trong suốt gần một năm hai ông có nhiều dịp gần nhau không hề thấy lần nào cha tôi nói về chuyện viết lách của bác Mỹ cũng không thấy hai ông nhắc gì đến cuốn Gió tây. Có lẽ đến thời điểm đó tập bản thảo đã bị thất lạc. Phải chăng sự mất mát này đã khiến bác Mỹ đâm chán không muốn viết gì nữa? Hay phải chăng trong lúc chiến sự thế này bác cho rằng không thích hợp để viết văn? Tôi không dám võ đoán đưa ra bất cứ lời giải thích nào.

*

Hơn một năm sau. Đêm 16-2-1949 cũng là đêm 18 tháng giêng năm Kỉ Sửu. Mười tám thật trăng câu ngạn ngữ mới hay làm sao. Trăng xanh trùm khắp thế mà lòng ông như rỗng. Sau một tháng đi với pháo binh về cha tôi rơi vào một cơn khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Vở kịch Những người ở lại của ông mới ra vừa được khen chưa dứt lời đã bị phê phán kịch liệt. Nào là không cho người xem thấy được cuộc kháng chiến của Thủ đô. Nào là vuốt ve tiểu tư sản thích thú với việc phân tích tâm lý mấy cô cậu Hà Nội coi đi kháng chiến như đi chơi. Nào là quá đề cao một ông bác sĩ nào đó đã hết vai trò... Những lời những ý phê bình có cái đúng có cái sai nhưng sức ép đè lên tác giả thì thật là quá rằng tựu trung vở kịch chả giúp được gì cho kháng chiến. Cơn khủng hoảng tinh thần đã dẫn cha tôi đến ý tưởng chán sống.

Ý nghĩ miên man về cái sống cái chết đưa cha tôi về với một thực tế xót xa. Ông vừa đi đưa người bạn Nguyễn Công Mỹ về nơi yên nghỉ cuối cùng. Ông Mỹ cái người chả lo lắng bận bịu gì đến bản thân mình cái người chỉ coi việc làm cho người khác biết chữ mới là quan trọng cái người tốt ấy đã chết rồi! Ngày 6-1-1949 trong lúc đi công cán bạn ông đã bị đạn giặc chết mất rồi... Một cảm giác mất mát khiến ngực ông quặn thắt. Ông Mỹ chết rồi. Chết đi mà chưa để lại được gì cho đời. Chết đi còn mang theo cả nỗi đau mất bản thảo mất đứa con tinh thần mà nếu được hiện hữu biết đâu lại không thay mình lưu lại với đời. Nhưng có đúng là Mỹ đau không? Hay bạn chỉ coi cái việc đang làm mới là quan trọng. Đúng quá ông chơi với bạn mãi chả nhẽ không nhận ra tính nết của bạn sao! Như chợt ngộ ra ông vùng dậy nhấc bút viết một mạch trong nhật kí: "Mỹ chết không uổng. Ta phải làm thế nào sống mà còn giúp đời một cái gì. Giúp đời giúp cho cuộc chiến đấu rút cục đấy vẫn là công việc chính của mọi người của con người Văn nghệ. Phải như Mỹ cứ làm việc"...

Ấy là chuyện của bác Nguyễn Công Mỹ của cha tôi đã hơn nửa thế kỉ nay. Riêng tôi một kẻ hậu sinh khi ngồi viết những dòng này tôi cứ bâng khuâng tự hỏi: Nếu bản thảo tiểu thuyết Gió tây không mất. Nếu cuốn sách đã được in ra. Nếu bác Nguyễn Công Mỹ không bị hy sinh khi ấy nếu bác còn sống đến khi đã hoàn thành công tác bình dân học vụ để yên tâm ngồi viết cuốn sách thứ hai thứ ba... Liệu tấm bản đồ văn học Việt Nam sẽ có gì khác không? Tôi chẳng biết!

NGUYỄN HUY THẮNG